Trang chủ Viện

Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm

NHỊ THẬP TỨ HIẾU

Chương 9 / 16

NHỊ THẬP TỨ HIẾU

Trong quyển này ông chọn hai mươi bốn truyện hiếu hạnh ở bên Tàu đặt ra lời ca song-thất lục-bát để cho đàn bà trẻ con tiện xem.

93 — THẦY MẪN-TỬ

Thầy Mẫn-tử 1 rất đường hiếu nghĩa,
Xót nhà huyên quạnh-quẽ đã lâu 2.
Thờ cha sớm viếng khuya hầu,
Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn.
Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo,
Hai em thời kép áo mền bông[103].
Chẳng thương chút phận long-đong,
Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân.
Khi cha dạo, theo chân xe đẩy 3,
Rét căm căm nên sẩy rơi tay.
Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay,
Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tùy 4.
Sa nước mắt chân quì miệng gửi:
« Lạy cha xin xét lại nguồn cơn.
« Mẹ còn, chịu một thân đơn,
« Mẹ đi, luống để cơ hàn cả ba 5 ».
Cha nghe nói cũng sa giọt tủi,
Mẹ nghe rồi cũng đổi lòng xưa.
Cho hay hiếu cảm nên từ,
Thấm lâu như đá cũng từ lọ ai?

CHÚ THÍCH. — 1. Tức là thầy Mẫn-tử-Khiên, học-trò hiếu của đức Khổng-tử. — 2. Nhà huyên là mẹ; ý câu này nói mẹ mất đã lâu. — 3. Khi cha đi chơi ông theo đẩy xe. — 4. Xướng tùy: theo chữ phu xướng phụ tùy, nghĩa là chồng bảo vợ theo, nói nghĩa vợ chồng. Ý câu này nói: bấy giờ người cha mới biết vợ kế mình nghiệt đãi con, định dẫy bỏ đi — 5. Ý ông Mẫn-tử nói: Mẹ kế còn ở lại chỉ một mình ông phải khổ, nếu mẹ kế đi thì cả ông cùng hai em ông (tức là con người mẹ kế) cũng đều bơ vơ khổ sở.

ĐẠI-NAM QUỐC-SỬ DIỄN CA

Quyển (cuốn) này là của Quốc-sử quán phụng chỉ đức Tự-Đức soạn ra, đem lịch-sử nước ta từ đời Hồng-Bàng đến cuối đời Lê diễn ra lời ca lục-bát. Trong quyển này các sự-trạng quan-trọng của liệt triều đều chép cả mà mạch lạc phân minh, lời văn bình-dị, chải chuốt, lắm đoạn cũng mạnh-mẽ thấm-thiết. Kể văn sử bút lại dùng lời ca mà được như thế thật đã là hay lắm.

94 — ĐÁNH GIẶC MÔNG-CỔ

Trao truyền theo lối phép nhà,
Nhân-Tôn 1 hùng-lược lại là tài hơn.
Rợ Nguyên quen thói tham tàn,
Quân năm mươi vạn những toan tranh hành.
Sắc sai Hưng-Đạo tổng binh,
Với Trần-quang-Khải các dinh tiến vào.
Chương-dương 2 một trận phong đào,
Kìa ai cướp giáo 4 ra vào có công?
Hàm-quan 3 một trận ruổi giong,
Kìa ai bắt giặc 4 uy-phong còn truyền?
Giặc Nguyên còn muốn báo đền,
Mượn đường hộ tống 5 binh thuyền lại sang.
Bạch-đằng 6 một cõi chiến-tràng,
Sương bay trắng đất, máu màng đỏ sông.
Trần Hưng-Đạo đã anh-hùng,
Mà Trần-nhật-Duật kể công cũng nhiều.
Hoài-Văn 7 tuổi trẻ chí cao,
Cờ đề sáu chữ 8 quyết vào lập công.
Trần-bình-Trọng 9 cũng là trung,
Đành làm Nam-quỉ, không lòng Bắc-vương.
Khuyển, Ưng 10 còn nghĩa đá vàng,
Yết-Kiêu, Dã-Tượng 11 hai chàng cũng ghê!
Mà trong ngọc-diệp kim-chi 12,
Lũ Trần-ích-Tắc 13 sao đi đầu hàng?
Nhân khi biến cố vội-vàng,
Kẻ trung người nịnh đôi đường tỏ ra.
Trùng-hưng đem lại sơn hà,
Đã hay thiên-tướng cũng là tái sinh.

CHÚ THÍCH. — 1. Tức là vua Trần Nhân-Tôn (1279-1293). — 2. Chương-dương (nay thuộc huyện Thượng-phúc, Hà-đông) là chỗ ông Trần-quang-Khải đánh thua quân Nguyên lần thứ nhất. — 3. Hàm-quan: tức là Hàm-tử-quan (nay thuộc huyện Đông-yên, Hưng-yên) là chỗ ông Trần-nhật-Duật đánh thua tướng Mông-cổ là Toa-Đô. — 4. Sau trận Chương-dương mở tiệc khao quân, ông Trần-quang-Khải có ngâm một bài thơ trong có hai câu:

Đoạt sáo Chương-dương độ 奪 槊 章 陽 渡
Cầm Hồ Hàm-tử quan 擒 胡 鹹 子 關
Cướp ngọn giáo ở bến Chương-dương,
Bắt giặc ở sông Hàm-tử.

Bởi vậy trong hai câu này mới dùng hai chữ cướp giáo và bắt giặc. — 5. Nguyên khi giặc Nguyên sang đánh lần thứ nhất có một người tôn-thất họ Trần là Trần-ích-Tắc ra hàng tướng Nguyên rồi theo về Tàu. Lần thứ hai quân Nguyên kéo sang, giả danh là đưa Ích-Tắc về nước lập làm An-nam Quốc-vương. — 6. Sông Bạch-đằng chảy qua Quảng-yên, là chỗ quân Nguyên thua lần thứ hai. — 7. Hoài-Văn là tước ông Trần-quốc-Toản. — 8. Nguyên hồi quân Nguyên sang đánh lần thứ nhất, quân ta thua to, kinh-thành thất thủ, vua Nhân-tôn họp các vương hầu bàn việc trống với giặc, bấy giờ ông Trần-quốc-Toản mới có 15, 16 tuổi không được dự bàn; ông về nhà tụ họp thân thuộc sửa đồ khí-giới, làm lá cờ đề 6 chữ: « Phá cường địch báo hoàng ân 破 彊 敵 報 皇 恩 » nghĩa là phá giặc mạnh báo ơn vua. Vua thấy vậy bèn cho làm phó-tướng cùng với ông Nhật-Duật đánh được trận Hàm-tử. — 9. Trần-bình-Trọng là một ông tướng bấy giờ đánh nhau với giặc thua bị bắt. Tướng Nguyên khuyên dỗ về hàng sẽ phong cho tước vương, ông không chịu, trả lời rằng: « Tao thà làm quỉ nước Nam, không thèm làm vương đất Bắc ». — 10. Là phận tôi tớ. Theo điển trong truyện Kiều. — 11. Là hai tên người nhà của ông Trần-hưng-Đạo; lúc ông thua quân Nguyên ở Chi-lăng nhờ hai tên ấy theo hầu mới chạy thoát được về Vạn-kiếp. — 12. Nghĩa đen là lá ngọc cành vàng, nói dòng-dõi họ nhà vua. — 13. Xem câu chú-thích thứ 5 trên kia.

95 — LÊ THÁI-TỔ

Mới hay cơ tạo xoay vần,
Có khi bĩ-cực đến tuần thái-lai.
Thiếu chi hào-kiệt trong đời,
Non xanh nước bạc có người kinh-luân.
Lương-giang 1 trời mở chân-nhân,
Vua Lê Thái-Tổ ứng tuần mới ra,
Lam-sơn 1 khởi nghĩa tự nhà,
Phong-trần lắm lúc kể đà gian nguy!
Lạc-xuyên 2 đầu giết Mã-Kỳ,
Nghệ, Thanh một giải thu về bản-chương.
Chia quân kinh-lược mọi đường,
Hai kinh 3 đã định, bốn phương cũng bình.
Vương-Thông bền giữ cô thành,
Viện binh hai đạo 4 bắc đình tiếp sang.
Trời Nam đã có chủ-trương,
Mà cơ chế thắng miếu-đường cũng tinh.
Chi-lăng 5 các đạo phục binh,
Liễu-Thăng, Mộc-Thạnh liều mình nẻo xa!
Vương-Thông thế túng cầu hòa,
Quyền phong Trần-Cảo 6 gọi là quốc-vương.
Ngôi thiêng sao xứng tài thường,
Trần-công tự sát để nhường long-phi.
Thuận-thiên niên-hiệu cải đề,
Non sông mới thuộc về Lê tự rày.
Quân danh quân hiệu mới thay,
Bản-đồ đổi lại phủ này huyện kia.
Dựng nhà học, mở khoa thi,
Triều-nghi quốc-luật một kỳ giảng tu.
Mười năm khai sáng cơ-đồ,
Sáu năm bình trị qui-mô cũng tường.

CHÚ THÍCH. — 1. Vua Lê Thái-Tổ người ở làng Lam-sơn, huyện Lương-giang (nay thuộc huyện Thụy-nguyên, tỉnh Thanh-hóa). — 2. Tức Lạc-thủy (nay là Cẩm-thủy, phủ Quảng-hóa, tỉnh Thanh), là chỗ vua Lê đánh thua quân Minh là Mã-Kỳ. — 3. Hai Kinh là Tây-đô (Thanh-hóa) và Đông-đô (Hà-nội). — 4. Là một đạo Mộc-Thạnh và một đạo Liễu-Thăng đem sang đều bị vua Lê đánh thua cả. — 5. Tên một cái ải ở tỉnh Lạng-sơn, quân Minh thua một trận to ở đấy, Liễu-Thăng bị giết. — 6. Nguyên bấy giờ Vương-Thông thế núng phải xin hòa, nhưng còn muốn giữ thể-diện, mới khuyên vua Lê tìm một người dòng-dõi nhà Trần lập lên để cầu phong với vua nhà Minh chắc là được. Vua Lê cũng muốn cho yên việc mới lập Trần-Cảo lên làm vua tạm-thời.

PHÚ

PHÉP-TẮC VỀ LỐI PHÚ

Phú cũng là một lối văn vần. Phú nghĩa đen là tả cảnh, nên phú thường làm để tả cảnh, tả tình, tả phong tục.

I. — Luật phú

Cách hạ vần. — Làm phú có nhiều cách hạ vần:

a) Độc vận là tự đầu đến cuối theo một vần.

b) Hạn vận là đã chọn sẵn một câu làm vần thì cứ theo đúng thứ-tự những chữ trong câu ấy mà hạ vần.

c) Phóng vận là trái lại với hạn vận, muốn làm theo vần nào cũng được.

Mỗi bài phú chia làm nhiều đoạn. Trong mỗi đoạn có nhiều câu, mỗi câu có 2 vế đối nhau thì chỉ phải hạ vần ở cuối vế thứ nhì, trừ khi nào đặt lối câu tứ tự liên châu (sẽ nói sau) không kể. — Trong bài phú hạn-vận, cả một đoạn cùng chung một vần gọi là một vần phú.

Cách đặt câu. — Phú tùy mình muốn đặt mỗi vần (hay mỗi đoạn) mấy câu, mỗi câu mấy chữ cũng được.

a) Đại-để thì mỗi vần thoạt tiên phải đặt vài bốn câu 4 chữ gọi là câu tứ-tự hoặc theo lối liên-châu, nghĩa là vần câu trên liên tiếp với vần câu dưới; hoặc theo điệu bằng trắc đối nhau thì chỉ phải hạ vần ở cuối vế thứ nhì thôi. Tỉ dụ:

Há phải là ma

{

Vần liên-châu.

Quyến dũ người ta!

Suốt từ trên dưới,

Lan khắp gần xa

(Bài phú Cờ bạc)

b) Rồi đến vài bốn câu mỗi vế độ 6, 7 chữ hoặc 8, 9 chữ đối nhau gọi là câu song quan. Tỉ dụ:

Quyển đệ tam viết đã xong rồi;
Bảng đệ tứ chưa ra còn ngóng. (Bài phú Hỏng thi)

c) Lại đến một vài câu mỗi vế chia làm 2 đoạn; một đoạn ngắn một đoạn dài, hoặc trên 4 dưới 6, hoặc trên 6 dưới 4; hoặc nhiều hơn cũng được, nhưng cũng phải đối nhau, gọi là câu cách-cú. Tỉ dụ:

Thầy chắc hẳn văn-chương có mực, lễ thánh xem giò;
Cô mừng thầm mũ áo đến tay, gặp người nói mộng.
Hay: Ngày đi lễ phật, còn kỳ này kỳ nữa là xong;
Đêm dậy vái trời, qua mồng bốn mồng năm cho chóng.

(Bài phú Hỏng thi)

d) Cũng có khi không đặt những câu cách-cú thì đặt những câu dài mỗi vế 3 đoạn, gọi là câu gối hạc. Tỉ dụ:

Khi đắc thế thời đất nắm nên bụt, nghe hơi khá xăm-xăm chen gót tới, đen ngỡ đàn ruồi;
Lúc sa cơ thời rồng cũng như run, xem chiều hèn xanh-xảnh rẽ tay ra, nhạt (lạt) như nước ốc.

(Bài phú Thế tục)

II. Cách kết-cấu bài phú

Nội-dung bài phú cũng tựa bài thơ, cũng có phá, thừa, thực, luận và kết.

a) Vần đầu là vần lung nghĩa là nói lung động ý nghĩa đầu bài lên trước.

b) Vần thứ hai là vần biện nguyên phải nói nguyên-ủy gốc-tích cho rõ ý đầu bài.

c) Vần thứ ba là vần thích thực phải tả hết ý nghĩa đầu bài.

d) Vần thứ tư là vần phu diễn suy rộng ý đầu bài ra.

e) Rồi từ vần sau trở đi thì nghị luận mà tổng kết lại.

III. — Các lối phú

Các thể-thức kể trên này là nói riêng về lối Đường phú (tự đời Đường đặt ra) là lối thông-dụng nhất.

Lại còn nhiều lối khác nữa: hoặc tự đầu chí cuối dùng toàn 4 chữ (phú tứ-tự) hoặc toàn 7 chữ (phú thất-tự) như lối thơ tràng-thiên; hoặc theo điệu Sở-từ cứ mỗi câu dăm sáu chữ đệm một chữ hề vào cuối câu; hoặc dùng điệu lưu-thủy (nước chảy), cách đặt để trôi chảy tựa văn xuôi, không bó buộc vào số chữ số câu như bài phú Xích-bích chữ nho của ông Tô-đông-Pha vậy.

VĂN-TẾ

Văn-tế là một bài đọc lúc tế một người chết để kể tính nết công đức của người ấy mà tỏ tấm lòng kính trọng thương tiếc của mình.

Văn-tế hoặc làm theo lối Đường phú (như trên), hoặc theo lối lưu-thủy hay lối văn xuôi như các bài điếu-văn bây giờ cũng được.

96 — BÀI PHÚ HỎNG THI 1

Đau quá đòn hằn; dát hơn lửa bỏng. Tủi bút tủi nghiên; hổ lều[104] hổ chõng. Nghĩ đến chữ: nam nhi đắc chí, 2 thêm nỗi thẹn thùng[105]; ngẫm đến câu: quyển thổ trùng lai 3, nói ra ngập ngọng. Thế mới biết học tài thi phận, miệng đàn bà con trẻ nói vậy mà thiêng; nào ai ngờ chữ tốt văn hay, tài bảng-nhỡn thám-hoa lỡ ra cũng hỏng.

Có một thầy: Dốt chẳng dốt nào; nhưng hay chữ lỏng. Nghiện chè nghiện rượu, nghiện cả cao-lâu; hay hát hay chơi, hay nghề xuống lõng 4. Thói nhà phong-vận, áo hàng tàu, khăn nhiễu tím, ô[106] lục-soạn xanh; ra phố sênh-sang, quần tố-nữ, bít-tất[107] tơ, giầy Gia-định bóng. Tú rốt bảng trong năm Giáp-ngọ 5, nổi tiếng tài hoa; con nhà dòng ở đất Vị-xuyên 6, ăn phần cảnh nọng.

Năm vua Thành-Thái mười hai; lại mở khoa thi Mỹ-trọng 7. Quyển đệ tam viết đã xong rồi; bảng đệ tứ chưa ra còn ngóng. Thầy chắc hẳn văn-chương có mực, lễ thánh xem giò; cô mừng thầm mũ áo đến tay, gặp người nói mộng. Ngày đi lễ phật: còn kỳ này kỳ nữa là xong; đêm dậy vái trời: qua mồng bốn mồng năm cho chóng.

Nào ngờ: Bảng nhỏ 8 thấy tên; ngoại-hàm 9 còn trống. Kẻ đến sáng văn còn được chấm, biển cót nghênh-ngang; người ngồi khuya tên hãy được vào, áo dài lụng-thụng. Thi là thế, sự-tình là thế, hở chuyện cùng ai; người một nơi, hồn phách một nơi, than thân với bóng. Ví phỏng chăm nghề nghiện bút, thì mười ba mười bảy đỗ[108] những bao giờ; những là mải việc vui chơi, mà một tuổi một già hóa ra lóng-đóng.

Thôi thì thôi: Sách vở mập-mờ, văn-chương lóng-ngóng. Khoa trước đã chầy; khoa sau hẳn chóng. Ý sẵn kẻ lo toan việc nước, vua chửa dùng hiền; hay không ai dạy dỗ đàn em, trời còn bắt hỏng.

Trần-tế-Xương[109]

CHÚ THÍCH. — 1. Ông tú Xương đậu tú-tài sớm, nổi tiếng là một tay hay chữ, nhưng vì tính phóng khoáng, không theo thể-lệ chặt-chẽ trong tràng thi, nên về sau đi thi hay phạm tràng-qui mà hỏng mãi không đậu cử-nhân. — 2. 男 兒 得 志: Tài trai làm nên thỏa chí vẫy vùng. — 3. 捲 土 重 來: Cuốn đất trở lại một lần nữa; nói bóng là khoa sau lại thi, nhất định lấy đỗ. — 4. Ở Nam-định xưa có cách chơi lõng, một vài ả trăng hoa thả đò con lõng lên lõng xuống, khách làng chơi xuống lõng chè chén phiện phè. — 5. Năm Thành-Thái thứ 6 (1894). — 6. Ông người làng Vị-xuyên ở tỉnh Nam-định. — 7. Nguyên tràng thi Nam ở địa hạt làng Mỹ-trọng gần tỉnh-lỵ. — 8. Lệ thi ta, hễ ai phạm tràng quy như phạm húy, tỳ-ố, ngoại hàm vân vân, thì hỏng mà tên phải biên riêng vào một cái bảng nhỏ; tên những người đậu hay được vào kỳ sau thì biên vào bảng lớn. — 9. Ngoại hàm là quá hạn nộp quyển, quyển phải bỏ ngoài hòm, không được chấm Lệ thi ta đến chiều tối có một hồi trống báo cho học-trò biết rằng hạn làm văn đã hết; hễ dứt hồi trống là hết hạn, từ bấy giờ ai đem nộp quyển là quá hạn. Nhưng đây ông nói còn trống nghĩa là ông nộp quyển lúc chưa dứt hồi trống, lý ưng quyển ông không nên coi là ngoại-hàm mới phải.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Tóm đại-ý mỗi đoạn trong bài này.

2. Xem bài này có biết cách ăn chơi của các thầy đồ xưa thế nào không? — Việc khoa-cử ngày xưa quan-trọng thế nào? — Vinh-dự thế nào? — Lệ thi ta có cứ văn hay là chắc đỗ không? Trường-qui là gì? Các lề-lối ấy có nhiều cái phiền-phức bó buộc quá không?

3. Trong bài này tác-giả có ý oán trách gì không? Câu kết ngụ ý chua cay thế nào?

II. Lời văn — 1. Cái lều thế nào? Nói qua cách-thức học-trò ngày xưa đi thi thế nào? — Nghĩa chữ học tài thi phận — Bảng-nhỡn, thám-hoa: tại sao lại đặt những tên ấy. Kể các danh-hiệu dùng trong việc khoa-cử ta và giải-thích các danh-hiệu ấy. — Hay chữ lỏng là thế nào? — Ô lục-soạn, quần tố-nữ, giầy Gia-định: gốc tích những chữ ấy. — Phần cảnh nọng là gì? Nói qua về cách biếu sén của ta. — Đệ tam, đệ tứ: nói qua về các kỳ thi hương của ta ngày xưa. — Xem giò là thế nào? — Mồng bốn mồng năm: Thi hương thường về tháng nào? mất bao lâu thì xong? — Hồn, phách: hai chữ ấy khác nghĩa nhau thế nào?

2. Nhặt (lặt) các câu chữ trong bài này có ý oán trách hay có giọng chua cay.

3. Nói qua về phép-tắc lối phú.

97 — BÀI PHÚ CỜ BẠC
Hạn vận: cờ bạc là bác thằng bần.

(Cờ). — Ngán thay cờ bạc; lắm kẻ say sưa. Tam khoanh tứ đốm; bảy lọc năm lừa. Khi vui thì vỗ tay vào, chẳng chơi cũng thiệt; thấy của thì tối mắt lại, dẫu chết không chừa. Được thua cũng là, chẳng quản tiền trăm bạc chục; ruộng nương bán hết, vì chưng nay bạc mai cờ. Trên tay sẵn có đồng tiền, coi như cái rác; trong túi không còn một chữ, xác như thân vờ. Kẻ máu mê đã chót dúng chàm, biết dại vẫn còn cứ dại; bệnh truyền-nhiễm từ đâu lưu-độc, bao giờ mãi đến bây giờ.

(Bạc). — Chỉ vì: Đương độ phong lưu; quen mùi đài các. Nhân lúc thanh nhàn; bày ra đánh chác. Nghề chơi cũng lắm công phu; của trời những mong bốc vác. Ít-xì, sóc-đĩa, hết ngón nọ dở ngón kia; tổ-tôm, tài-bàn, thua canh này bày canh khác. Thông tôm lèo chi-chi thập-xích 1, khi lên trời cũng chiều lòng; theo khuôn dền cập lệch ba bay 2, được thể cũng dễ nói khoác. Được ăn thua chịu, nhất quận-công nhì không lều; tiền ngắn bạc dài, trong anh em ngoài cờ bạc. Tham thì thâm, lầm thì thiệt, quá vui chơi nên nỗi rạc rài; đen thua lận, trắng thua mòn, trót mê đắm thành ra gỡ-gạc.

(Là). — Há phải là ma; quyến dũ người ta. Suốt từ trên dưới; lan khắp gần xa. Mấy ông quan chức, họp tập đàn hòa; việc công thư-thả, bài lá chia ra. Mấy ông ký phán, trò chuyện lân-la; giả nghề kiếm-chác, gạ-gẫm các bà. Mấy thầy tổng lý, kỳ nát mọt già; nhân khi vào đám, chứa thổ trong nhà. Mấy anh keo kiết, túm năm tụm ba; nào người đứng cái, nào kẻ đầu gà. Khắp miền kẻ chợ nhà qưê, đâu đâu cũng vậy; quen thói cờ gian bạc lận, ai ai cũng là.

(Bác). — Một cuộc rủi may; năm canh xào xạc. Đen đỏ đỏ đen; được thua thua được. Tiền liền với ruột, anh những toan chụp cả em; của trọng hơn người, cháu cũng chẳng tha gì bác. Chơi cho thỏa chí, quản bao quan ngắn quan dài; mở cho sướng tay, phó mặc tiền xương tiền nạc. Mong những quay thua đáo gỡ, vay trả trả vay; chung-qui tiền mất tật mang, xác xơ xờ xạc. Cờ làm nước bí, sa cơ mất bộ anh hùng rơm; bạc gặp canh đen, thất-thế do tuồng công-tử xác. Vẫn tưởng gậy vông phá nhà gạch, bụng lăm-lăm chỉ muốn vơ vào; ngờ đâu bợm già mắc cò-ke, chơi mãi mãi hóa ra bệ-rạc.

(Thằng). — Tiền thầy bỏ túi; củ tỏi giắt lưng. Còn ăn hết nhịn; hơn chực kém đừng. Đã mê về sự cờ bạc; biết đâu là lẽ công bằng Cạn lưng vay cối vay chằng, lãi[110] bao cũng gật; nóng mắt mở liều mở lĩnh, của ai cũng chằng. Hơn chẳng bõ hao, đến nỗi mất cơ mất nghiệp; túng thì phải tính, sinh ra làm bậy làm xằng. Tham-lam chỉ vị hơi đồng, khôn rồn ra dại; danh-giá lâm vào đám bạc, ông cũng như thằng Bán vợ đợ con, gương Trọng-Quỳ 3 vẫn còn như tạc; ba que sỏ lá, đình Cổ-Lương 4 đã biết hay chăng?

(Bần). — Than ôi! Đổ-thần! Đổ-thần! làm hại quốc-dân. Bỏ hết công việc; mất cả làm ăn. Làm cho khốn khó; làm cho nhục nhằn. Làm cho cơn đen vận túng; làm cho nước yếu dân bần. Nay nhân lòng người biết hối; hồn nước tỉnh dần; mày đi nơi khác; chớ có lần-khân. Tiễn mày về Tàu; Quảng-đông cũng gần. Tiễn mày sang Nhật; đáp bến Hoành-tân 5. Mày sang nước Mỹ, vàng bạc vô ngần. Mày sang nước Đức, khôn ngoan tuyệt trần. Vàng hương cúng tiễn; gạo muối đưa chân. Mượn tay giải ách; cắt duyên nợ nần. Lập tức đi ngay, chuông cảnh-tỉnh mấy câu sám-hối, nếu còn lẩn-quất, gươm văn-minh một nhát trừ căn.

Ngạc-đình Phạm-quang-Sán

CHÚ THÍCH. — 1. Lối đánh tổ-tôm hễ ván bài ù có 10 quân đỏ gọi là thập-xích hay thập-hồng được hơn tiền. — 2. Đánh sóc-đĩa 3 cái lẻ rồi đến cái chẵn, 3 cái chẵn rồi đến cái lẻ, gọi là ba bay. — 3. Trọng-Quì vì thua bạc phải bán vợ. — 4. Thất-nghiệp nằm đình Cổ-lương. — 5. Là một hải-cảng lớn nước Nhật-bản (Yokohama).

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1 Bài phú này cốt tả về thói gì và khuyên người ta điều gì? Tìm các đoạn trong bài phú này (các vần lung, biện nguyên, thích-thực v. v.)

2. Tình-trạng bọn chơi cờ bạc bây giờ thế nào?

3. Tại sao nhiều người mắc vào cuộc đổ-bác mà đã mắc vào thì khó gỡ ra được?

4. Cách chơi của các hạng người trong xã-hội khác nhau thế nào?

5. Tâm-tính và phẩm-cách của bọn làng chơi thế nào? Có còn tình nghĩa liêm sỉ gì nữa không?

6. Sự tai hại của cờ bạc về đường vật-chất và đường đạo-đức thế nào?

7. Đoạn kết tác-giả nói ý gì?

II. Lời văn. — 1. Tam khoanh tứ đốm: nghĩa gì? — Con vờ thế nào? Xác như vờ: nghĩa gì? — Chàm là chất gì? Chót dúng chàm: nghĩa gì? — Nghĩa chữ bốc vác. — Quận-công là tước gì? Đây nói ý gì? — Cắt nghĩa những câu tục-ngữ: tham thì thâm, lầm thì thiệt; đen thua lận, trắng thua mòn. — Thế nào gọi là kỳ nát, mọt già? — Nghĩa chữ chứa thổ. — Thế nào là nhà cái nhà con? — Tiền xương tiền nạc là gì? — Nghĩa những chữ: anh-hùng rơm, công-tử xác, Gậy vông phá nhà gạch, bợm già mắc cò ke: ý nói gì? Củ tỏi giắt lưng: nghĩa gì? — Chữ bán chữ đợ khác nhau thế nào? — Ba que sỏ lá: Cỗi rễ mấy chữ ấy. — Ách nghĩa là gì? — Nghĩa những chữ cảnh tỉnh, sám hối, trừ căn.

2. Trong bài phú này tác-giả có dùng nhiều phương-ngôn và thành-ngữ không? Cách dùng chữ thế có hiệu-lực gì? Lấy mấy cái tỉ-dụ để chứng rõ điều ấy.

4. Nhặt (lặt) trong bài phú này những đoạn nào lời văn thống-thiết hoặc kích-thích kể ra.

98 — TẾ PHÒ-MÃ CHƯỞNG HẬU-QUÂN VŨ-TÍNH VÀ LỄ-BỘ THƯỢNG-THƯ NGÔ-TÒNG-CHU

TIỂU DẪN. — Ông Vũ-Tính (Võ-Tánh) là một bực danh-tướng của đức Gia-Long, lại lấy em gái ngài; còn ông Ngô-tòng-Chu là bực văn-thần làm Lễ-bộ thượng-thư sung chức phụ-đạo Đông-cung. Hồi đức Gia-Long đã hạ được thành Qui-nhơn (Bình-định) của Tây-Sơn rồi (1799), sai ông Tính làm trấn-thủ mà ông Chu làm hiệp trấn để cùng giữ thành ấy. Không bao lâu quân Tây-Sơn lại kéo đến đông vây thành, trong hơn 2 năm trời hai ông hết sức chống giữ thành-trì, sau quân sĩ mỏi mệt, lương thực khánh kiệt, nên hai ông đều tuẫn tử để toàn danh tiết: ông Chu thì uống thuốc độc chết, ông Tính thì tự đốt chết. Nên trong bài văn này về đoạn kể tài đức hai ông, cứ câu trên nói về ông Tính, câu dưới nói về ông Chu.

Than rằng:

Đạo thần-tử hết lòng thờ chúa, gian nan từng giãi dạ trung thành; đứng anh-hùng vì nước quyên sinh, điên bái chẳng sai lòng tiết nghĩa.

Ngọc dầu tan vẻ trắng nào phai; trúc dẫu cháy tiết ngay vẫn để 1.

Nhớ hai người xưa:

Thao-lược ấy tài; kinh-luân là chí.

Phù vạc Hán thủa ngôi trời chếch lệch 2, chém gai đuổi lũ hung tàn; với xe Đường khi thế nước chông-chênh 3, cầm bút ra tay kinh-tế.

Mối nghĩa sánh duyên gác tía 4, bước gian-truân từng cậy dạ khuông phù; màn kinh giúp sức cung xanh 5, công mông dưỡng đã đành lòng ủy ký.

Hậu quân thủa trao quyền tứ-trụ, chữ ân uy lớn nhỏ đều phu; Lễ-bộ phen làm việc chính-khanh, bề trung ái sớm khuya chẳng trễ.

Ngoài cõi vuốt nanh ra sức, chí tiêm cừu 6 đành giãi xuống ba quân; trong thành then khóa chia lo, lòng ưu quốc đã thấu lên chín bệ.

Miền biên-khổn hai năm chia sức giặc 7, vững lòng tôi bao quản thế là nguy; cõi Phú-xuân 8 một trận khét uy trời, nặng việc nước phải lấy mình làm nhẹ.

Sửa mũ áo lạy về bắc-khuyết, ngọn quang minh hun nát tấm trung-can; chỉ non sông giã với cô-thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chính-khí.

Há rằng ngại một phen thỉ-thạch, giải trùng-vi mà tìm tới quân-vương; bởi vì thương muôn mạng tì-hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng-sĩ 9.

Tiếng hiệu-lệnh mơ-màng trước gió, ân-tín xưa người bộ khúc 10 thương tâm; bóng tinh-trung 11 thấp-thoáng dưới đèn, phong-nghi cũ kẻ liêu-bằng 12 sái lệ.

Cơ đãng định 13 kíp chầy đành hẹn buổi, xót tướng-doanh sao vắng mặt thân-huân; phận truy tùy gang tấc cũng đền công, tiếc nhung-mạc 14 bỗng thiệt tay trung trí.

Nay gặp tiết thu; bày tuần úy tế.

Hai chữ cương-thường nghĩa nặng, rõ cổn hoa 15 cũng thỏa chốn u-minh; nghìn thu hà nhạc 16 khí thiêng, sắp mao việt 17 để mở nền bình trị.

Đặng-đức-Siêu

Ông người huyện Bồng-sơn, tổng Bình-định, mười sáu tuổi đậu hương-tiến; triều đức Duệ-Tôn làm quan trong viện Hàn-lâm. Sau gặp quân nhà Trịnh vào sâm, kế đến quân Tây-Sơn lấy kinh-thành, đều có vời ông ra làm quan, ông không chịu. Sau đức Gia-Long nổi binh ở Gia-định, ông tìm vào ra mắt ngài. Ngài trọng đãi ban quan chức để theo ngài giúp-giặp.

Ông học rộng, lắm mưu mô, nhiều thao-lược, trong mấy năm bình định Tây-Sơn, ông rất có công.

Sau đức Gia-Long bổ ông làm Hoàng-tử phụ-đạo, sau lại làm Lễ-bộ thượng-thư; năm Gia-Long thứ chín (1811) mất.

Ông học vấn rộng-rãi, văn-chương tao-nhã. Hồi bình-định Bắc-hà xong, ông làm ra 9 khúc Hồi-loan khải-ca bằng quốc-âm, nay còn truyền-tụng. Nội các điển-lễ triều-đình cùng những lễ-nghi tế Giao tế Miếu, tế xã-tắc phần nhiều do tay ông soạn định.

CHÚ THÍCH. — 1. Nghĩa là hòn ngọc đập tan ra vẫn giữ vẻ trắng, cây trúc đốt cháy đi cũng còn nguyên đốt ngay; ý nói: bực trung nghĩa dẫu thác đi mà còn lưu tiếng thơm để gương sáng về đời sau. — 2. Vạc Hán chữ nho là Hán-đỉnh. Vạc là biểu-hiện ngôi vua; Hán là một họ vua bên Tàu. Câu này ý nói giúp nhà vua lúc hoạn nạn. — 3. Xe Đường là xe của vua nhà Đường bên Tàu chạy loạn; câu này ý nói giúp nhà nước lúc loạn lạc. — 4. Gác tía là chỗ bà công-chúa ở; câu này nói việc ông Tính lấy em đức Gia-Long. — 5. Cung xanh là chỗ ông Thái-tử học; câu này nói việc ông Chu làm phụ-đạo cho Đông-cung Cảnh. — 6. Tiêm cừu: giết quân thù. — 7. Miền biên khổn: chỗ bờ cõi. Bấy giờ đức Gia-Long mới thu phục được Gia-định, nên thành Qui-nhơn cũng kể là nơi biên thùy. Chia sức giặc là vì có ông Tính giữ vững thành ấy, nên quân Tây-Sơn không thể dời đấy mà ra ngoài bắc được. — 8. Phú-xuân tức là Huế, nhờ có hai ông giữ vững thành Qui-nhơn nên đức Gia-Long thừa cơ ra đánh lấy được Phú-xuân. — 9. Thỉ thạch là tên và đạn; tìí hưu là hai giống thú dữ, ví với các quân lính hùng dũng. Đã mấy lần đức Gia-Long bảo ông Tính đánh tan vòng vây mà thoát ra để theo ngài, nhưng ông sợ làm thế thì tất sau Tây-Sơn tức giận giết hết sĩ tốt, nên ông đành chịu chết để cứu lấy quân sĩ. Lúc chết ông có viết thư cho tướng Tây-Sơn về việc ấy, khi tướng Tây-Sơn vào thành cũng thể lòng ông mà không giết róc ai cả. — 10. Bộ khúc là những tướng tá quân lính thuộc dưới quyền mình. — 11. Tinh trung là hồn trung nghĩa thiêng liêng. — 12. Liêu bằng là các bè bạn cùng làm quan với mình. — 13. Đãng định là dẹp định hết giặc-giã. — 14. Nhung mạc là màn quan tướng ở trong quân. — 15. Cổn hoa là sắc mệnh của vua ban cho, vinh hiển như khoác áo cổn-hoa vào mình. — 16. Điển cũ: Thần sông Hà núi Nhạc giáng sinh làm những bực danh tướng giúp nước phò vua. Đây nói hai ông ấy chết, về nơi sông Hà núi Nhạc, anh-kh thiêng-liêng, phù hộ cho vua cho nước. — 17. Mao là cờ, việt là giáo, nghĩa chung là đồ binh để đánh giặc; sắp mao việt là đánh tan hết giặc rồi.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Tóm đại ý mỗi đoạn trong bài này.

2. Tài chí hai ông thế nào? — Sự nghiệp hai ông những gì? — Công trạng hai ông giữ thành bình-định thế nào? Trong cuộc thống nhất sơn hà của vua Gia-Long công hai ông thế nào? — Lúc hai ông chết thế nào?

II. Lời văn. — 1. Nghĩa những chữ: quyên sinh, điên bái, thao-lược, kinh-luân. — Chém gai, cầm bút: ý nói gì? — Nghĩa những chữ: dạ khuông phù, lòng ủy ký. — Hậu quân là nói ai? Lễ-bộ là nói ai? — Những chữ tứ-trụ, chính khanh dùng để nói các hàng quan nào? — Vuốt nanh, then khóa: nghĩa đen và nghĩa bóng. — Chín bệ chỉ ai? — Bắc khuyết, cô thành là những đâu? — Ngọn quang minh, chén tân khổ: nói việc gì? — Tấm trung can, mùi chính khí: nghĩa. — Mặt thân huân, phận truy-tùy là nói những người nào?

2. Tìm trong bài này những câu nào hùng-hồn nhất và giải rõ cái hay trong những câu ấy.

3. Nói qua về phép-tắc lối văn-tế. Lối ấy với lối phú có tương-tự không?

Chú thích của bản in

  1. Goòng. ↩
  2. Trại. — ↩
  3. Mắc cở. — ↩
  4. Dù. — ↩
  5. Dớ. — ↩
  6. Đậu. ↩
  7. Xem tiểu-truyện tác-giả ở tr. 22. ↩
  8. Lời. ↩