Trang chủ Viện

Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm

128 — ĐI TẦU THỦY TỰ MỸ-THO LÊN LONG-XUYÊN

Chương 15 / 16

128 — ĐI TẦU THỦY TỰ MỸ-THO LÊN LONG-XUYÊN

Tự Mỹ-tho lên Long-xuyên phải đi ngược sông Tiền-giang (Fleuve Antérieur), đi tầu chạy thường vừa mất đày một ngày, từ sáng sớm đến tối mịt. Vậy suốt một ngày được ngắm phong-cảnh sông Mê-kông. Nhưng thật đi trên sông Mê-kông mà không ngờ là sông Mê-kông, lắm khi tưởng ở trong cái kênh cái lạch nào, không mấy lúc có cái cảm-giác là ở giữa chốn tràng-giang. Vì trong khoảng từ Mỹ-tho lên Châu-đốc, trong sông đầy những cù-lao cùng bãi cát, lắm nơi to rộng lắm từng làng từng tổng ở vừa, đầy những cây cỏ um-tùm, chật mất cả lòng sông, cho nên coi hẹp đi; tầu lại thường chạy len lỏi ở trong kênh, trong vàm gần những nơi có dân-cư, để đỗ khách đón khách, không mấy khi ra đến mặt ngoài sông, nên không biết sông rộng chừng nào. Cách nửa giờ, một giờ, tầu lại đậu vài ba phút, có khi đậu ngoài xa xa, khách lên xuống phải thuê đò ngang để đáp tầu hay là ghé bờ, có khi đậu ngay bên bờ, nhìn vào thấy nhà cửa san-sát, phố xá đông-đảo, thường những cây cối um-tùm che lấp, đứng ngoài xa trông không rõ. Có khi tưởng tầu ở trước cái bãi bỏ hoang, chỉ trông thấy những cây cỏ xanh rì, nhìn kỹ mới biết là có làng xóm ở trong đám cây đó, và chắc là làng xóm to nên tầu mới dừng như vậy. Coi đó thì biết cây cối trong này xầm-uất là chừng nào, không phải là những cây cao cối lớn như các miền rừng núi, nhưng là những cây cỏ tốt tươi rậm rạp như thi nhau mà mọc, đủ biết chất đất mầu mỡ biết bao nhiêu. Lắm khi chiếc tầu như đi ở giữa hai bức tường cây vậy. Mà ở trong đó là có các làng xóm ngưòi ở cả, vì những đất ở bờ sông này dễ cày cấy nên không mấy chỗ bỏ hoang. Chưa khai-khẩn đến là phần nhiều những đất ở xa sông lớn, đào kênh thoát nước khó và đi lại giao thông cũng chưa tiện; chớ đất gần sông mầu mỡ đệ nhất, tiện lợi có một, thường là những nơi giầu có trù-mật cả. Thường trông bên bờ có những nhà ngói nền cao, cửa kính cửa chớp, hàng rào sắt chạy dài, thềm xây ngay trên mặt nước, ngoài đặt cái cầu nhỏ dựng nhà thủy-tọa 1 con, lại thấy vài ba cái « thuyền máy » (canots automobiles), để chung quanh; hỏi ra thời là nhà thầy cai-tổng, cụ điền-chủ hay ông « hội-đồng » nào toàn là những mặt phú-hào trong một xứ. Coi những cơ ngơi đó thì đủ biết các bực chủ-nhân-ông giầu có là dường nào. Có nơi xây trên bờ sông dài đến mấy trăm thước trông những nhà những vườn, những lầu những gác, nhấp-nhô như mặt cái thành nhỏ, tầu chạy một thôi thời hết, mà toàn là dinh cơ của một người! Thôi, đến sự phong-lưu sa-sỉ của các bậc giầu có trong này, về đường ăn ở tiêu xài thì thật không kể sao cho xiết được, mỗi lúc như trông thấy cái biểu-chứng 2 hiển-nhiên vậy....

Suốt một ngày ngồi trong tầu mà không mỏi không chán, rất lạ rất vui, tầu chạy dưới sông như cái xe chạy trên phố, tựa hồ như hai bên là cửa nhà phố xá đông-đúc cả, chốc chốc lại đỗ một lát, kẻ lên người xuống, coi rất ngoạn-mục; lúc nào cũng có cái cảm-giác một sự sinh-hoạt mạnh-mẽ của tạo-vật phát hiện ra cây cỏ tốt tươi, đất bùn mầu mỡ, đối với sự sinh-hoạt êm-đềm của người dân, hoặc đi lại ung-dung trên đường phố không vội không vàng, hoặc đứng ngồi nhàn-hạ trong những chốn nhà lầu ủ-ê kia xây ngay trên bờ sông dưới bóng mát. Trời thì sáng sủa ấm áp, nước sông lấp-loáng, cây cỏ xanh tươi, người ta hớn-hở, thư thả dong chơi, thật là một cảnh rất êm-đềm, tựa hồ như cảnh vật hết sức chiều đãi người ta cho được nhẹ nhàng sự sống và biết hưởng cái thú ở đời, một cái cảnh như cảnh này không thể nào khiến cho người ta đem lòng « yếm thế 3 » được; tạo vật tươi cười, không lẽ người đời ủ-dột, cảnh này là cảnh tối « lạc sinh 4 » vậy.

CHÚ THÍCH. — 1. Nhà làm để ngồi chơi trên mặt nước. — 2. Chứng cớ rõ-rệt. — 3. Chán đời. — 4. Vui về sự sống.

129 — THẾ NÀO GỌI LÀ KỊCH

Thế nào gọi là kịch? Kịch là một cái việc mạnh hơn việc thường trong đời người ta, hoặc là cái kết quả của cả một cuộc đời chung đúc lại một lúc, hoặc là sự ngẫu hợp của hai việc trái ngược nhau bỗng xung đột nhau trong giây phút mà sinh ra cái tình trạng hoặc đáng vui, hoặc đáng buồn, hoặc ghê, hoặc thảm; nói rút lại là việc phi thường ở trong việc thường mà sinh ra, là cái tia điện sáng bật ra giữa lúc âm dương điện gặp nhau, cái tia sáng ấy vẫn là điện mà phải có sự xung đột mới nẩy ra được. Đời người ta cũng có thể ví như cái điện lúc bình-thường khi nào có hai luồng trái nhau chợt đến xung đột thì mới nẩy ra tia sáng: tia sáng ấy tức gọi là cái việc phi thường trong việc thường mà ra, tức gọi là một cái « kịch » vậy. Diễn kịch ấy là lấy những lúc có cái việc phi thường trong một đời ấy mà diễn tả ra, vụ lấy hiển-nhiên như lúc việc đương hành động vậy. Nói phi thường không phải là việc hoang đường quái đản gì đâu: phi thường là sánh với việc thường mà nói, có việc phi thường thời mới thành « kịch » được; đời người trong lúc bình thường thì đời tôi đây với đời bác láng-giềng kia có khác gì nhau mà thành chuyện Cô Kiều nếu không gặp gia biến thì sao thành truyện Kiều! Sự gia-biến đó tức là sự phi-thường, tức là một cái « kịch » vậy

Nhà soạn « kịch » khéo phải diễn thế nào cho cái kịch ấy xuất-hiện ra hiển-nhiên như thực, hình như trung đúc cả sự sinh-hoạt một đời vào trong lúc đó, khiến cho cái « kịch » ấy nên được kịch-liệt, mà người xem phải cảm-động. Sự cảm-động tức là cái hiệu-quả của nghề diễn-kịch: bài kịch mà cảm-động được người ta nhiều, ấy là bài kịch hay. Vì người ta lúc bình-thường mấy khi gặp những sự phi-thường, có người cả đời không có chuyện gì đáng kỷ-niệm, vậy đến nơi kịch-trường là muốn cho cái tấm lòng mình phải kích-thích phải lay chuyển, phải cảm động ra một cách khác thường. Cho nên nhà diễn-kịch phải diễn cái việc gì tuy kịch-liệt khác thường mà cũng là ở trong lẽ thường, khiến cho người coi có thể tưởng-tượng rằng việc ấy cũng có ngày xẩy vào mình được, lắm khi nhà diễn-kịch khéo thì người xem mê đến nỗi tự coi mình như người hành động trong truyện, như thế thì sự cảm-động lại càng sâu và mạnh lắm. Diễn-kịch mà đến được bực ấy là tuyệt khéo vậy.

(Giở lên 3 bài, trích ở bài Một tháng ở Nam-kỳ, trong Nam-phong)

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — Bài này về thể văn gì? Tác-giả định giải-thích điều gì?

2. Thế nào gọi là kịch? Tác-giả dùng điều tỉ-dụ gì để giải-thích chữ kịch?

3. Diễn-kịch thế nào là khéo? Diễn-kịch chia làm mấy lối? So sánh lối tuồng ta với cái quan-niệm về sự diễn-kịch nói trong bài này.

II. Lời văn. — 1. Nghĩa những chữ kết-quả, ngẫu-hợp, phi-thường. — Thế nào là những việc hoang-đường quái-đản. — Gia-biến là gì? Đây nói về việc gì trong cuộc đời nàng Kiều? — Cảm-động, cảm-xúc, cảm-tình, cảm giác: khác nghĩa nhau thế nào? — Kịch-trường: nghĩa; kể mấy chữ kép trong có tiếng trường.

2. Lời văn bài này có gẫy gọn rõ ràng không?

NGUYỄN-BÁ-TRÁC 阮 伯 卓

130 — ĐI HƯƠNG-CẢNG

Từ Bangkok đến Hồng-công đường đi phải mười ngày. Bấy giờ vừa tiết đầu hạ, sóng bể còn êm, tầu ra khơi được vài ngày, cứ hướng đông mà chạy. Mỗi khi sương sớm vừa tan, cứ đi thủng-thỉnh trên mặt tầu, rộng con mắt, hả tấm lòng, tưởng sinh-bình chưa bao giờ gặp cái cảnh ấy. Tuy nhiên, trông ngang trông ngửa, trời bể một mầu, lại sinh ra vô cùng cảm-khái, mênh-mang bể thẳm trời cao, cố-hương nào biết đâu đâu mà nhìn....

Hương-cảng là một cái cù-lao nhỏ ở ngoài cửa sông Châu-giang, thuộc về tỉnh Quảng-đông, cách tỉnh thành chừng 75 dặm. Chu-vi có 30 dặm dài, diện-tích có 40 dặm vuông, trước là một nơi tụ-họp những quân giặc bể. Tự năm 1842 (Đạo-quang năm thứ 22), Trung-quốc cắt nhượng cho nước Anh, đặt quan cai-trị, từ đó mới thành ra một nơi đô-hội.

Đối diện cái cù-lao ấy là thành-phố Cửu-long, giữa cách một cái vụng vừa rộng vừa sâu, tầu buôn các nước ra vào đậu được, hai bên có những tầu nhỏ đi lại như mắc cửi, những thuyền[151] nhỏ ghé lại bên tầu lớn như đàn kiến bám vào con sâu, có nhiều tầu nhỏ đi lại lườn-lượt làm cho mặt nước nổi sóng lên cả ngày.

Trên đất những nhà liền như úp bát, từ bên Cửu-long trông sang, không biết cơ-man là lâu-đài chồng-chất, từ mé bể cho đến chót núi, hình như một cái ổ tò-vò muôn gian nghìn nóc, còn những cây cổ-thụ xung quanh chỉ như mấy chậu hoa để dưới nhà lầu vậy.

Dưới nước thì tầu hỏa, trên bộ thì nhà máy, phun khói như mây cả ngày, từ 7 giờ sáng đến 6 giờ tối, không một lúc nào trên không-khí mà được quang được tĩnh.

131 — KIM-LĂNG ĐIẾU-CỔ

Thành Kim-lăng ở trong con mắt người ta lúc du-lịch, cùng thành Kim-lăng ở trong tưởng-tượng người ta lúc đọc sách, thành ra hai cảnh khác nhau. Nam-kinh là nơi trung-tâm của Trung-quốc, hình-thế hiểm-yếu, sông núi ràng rịt, như long-bàn hổ-cứ 1, cho nên lúc anh-hùng đua sức nam bắc phân-tranh, đều lấy đấy làm chiến-trường. Đến nay, vô luận sông núi đã biến-thiên, thời-đại đã xa cách, khách du đến đó còn có tấm lòng thương-kim hoài-cổ. Thành-thị phồn-hoa, đế-vương cung-quán, đã trải mấy lần binh hỏa, rãi rầu mấy kiếp tro tàn; chính dân-cư trong thành cũng coi Nam-kinh là một nơi tạm trú, không ai dám kiến-tạo gì cho bền chặt lắm, chỉ còn mấy mặt non xanh, bốn bề tàn-lũy là cái dấu-tích lịch-đại cố-đô. Còn cái đình cái quán nào cũng là quang-cảnh tân-thời cả. Ôi! đâu là Vũ-hoa-đài 2? đâu là Yên-chi-tỉnh 3? dấu cũ Lục-triều 4, chỉ trong mấy gốc thùy-dương, một vùng lân-hỏa! Nhớ Phạm-sư-Mệnh là người nhà Trần nước ta, lúc đi xứ Minh về qua Kim-lăng, có câu rằng: « 鉄 塔 石 頭 惟 夜 月。烏 衣 朱 雀 只 斜 陽 ». (Tháp cổ Thạch-đầu 5 vừng dạ nguyệt, nền xưa châu-tước 6 bóng tà-dương); thực in như cái quang-cảnh khi tôi chơi đó.

Tôi trọ gần ngay bên sông Tần-hoài, buổi trời tây ác, lặn, thuyền hoa đầy sông, nào là son phấn, nào là sinh ca. Hơi gió thổi đêm khuya hiu-hắt, một vừng trăng trong vắt lòng sông; tiếng tranh tiếng địch càng nồng, như nghe tiên nhạc não-nùng bên tai. Khiến người dưới nguyệt bên lan, ai chẳng say vì tình, mê vì cảnh; nếu thực nghe những khúc « Hậu đình hoa 7 » thì xúc lòng di-hận còn đến đâu nữa!

Hồ Huyền-Vũ (玄 武), ở về phía nam thành Nam-kinh, từ đời Đông-Tấn vẫn lấy đấy làm nơi thắng-cảnh; giữa hồ có cái gò, trên có cất lầu quán, Lăng-quân đưa tôi đi thuyền ra chơi đó, lần hết nẻo này leo sang đống khác; lúc về đổ bộ vòng theo đường thành mà đi. Đến một cái vườn đào nho-nhỏ, kìa châu Bạch-lộ, nọ đài Phượng-hoàng; sực nhớ đến Đào ẩn-cư 8 ngày nào đẩy xe đi về, vui cùng sơn thủy, mà nay thì bóng người đã vắng; mấy làn ngấn nước, đôi tiếng hàn-nha, thêm ngao-ngán nỗi cảnh kim người cổ!

(Giở lên 2 bài, trích ở bài Hạn mạn du ký, trong Nam-phong).

CHÚ THÍCH. — 1. 龍 蟠 虎 踞 hình đất như rồng cuộn quanh-co, cọp ngồi chõm-chọe. — 2. 花 雨 臺 Tên một tòa đài ở Kim-lăng. — 3. 胭 脂 井 Tên một cái giếng ở Kim-lăng. — 4. 六 朝 Lục-triều là sáu triều vua: Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Tùy. — 5. Tên một chỗ bến sông về địa phận Kim-lăng. — 6. Tên một cái cầu về địa phận Kim-lăng. — 7. 後 庭 花 Tên một khúc hát của vua Trần hậu-chúa là một vị vua bị đam mê tửu-sắc mà mất nước. — 8. 陶 隱 居 là người ở ẩn họ Đào.

NGUYỄN-KHẮC-HIẾU 阮 克 孝

132 — ĐÁNH BẠC

Trong đời người sáu, bảy mươi năm, bao nhiêu cảnh thuận, bao nhiêu cảnh nghịch, bao nhiêu cái sướng, bao nhiêu cái buồn, bao nhiêu cái cười, bao nhiêu cái khóc; nhưng ngồi mà nghĩ, chỉ như canh bạc chơi một đêm.

Ngồi vào bàn bạc mà chơi, ai không muốn được. Nhưng sao cho được chắc mà không thua. Thua rồi lại được, được rồi lại thua, đỏ đỏ đen đen, lên voi xuống chó. Trong năm canh hì-hục, được hằng vui, thua dễ bẳn, thường tình ai cũng như ai. Trời chưa sáng, đêm còn dài, thời đồng tiền trong tay, nhiều cũng chưa hẳn có, hết cũng chưa chắc không. Tất đến lúc đứng dậy ra về, còn gì mới là được.

Người ta ở trong đời, khi nổi khi chìm, lúc may lúc rủi, không rồi lại có, đầy rồi lại vơi, lên lên, xuống xuống, như cây thụt máy tầu. Tiền chôn bạc chứa chưa là giầu; nhà gianh vách đất chưa là nghèo; võng, lọng, ngựa, xe chưa là vinh; xiềng, xích, gông, cùm chưa là nhục. Những cái đó chỉ như một ván tổ-tôm; một cái búng-quay, một tiếng sóc-đĩa, làm cho ta đương mừng hóa lo, đương buồn hóa sướng, say mê chìm đắm, khóc hão, thương hoài. Cuộc đỏ đen còn ở lại với đời, thời ấm chè tàu, điếu thuốc lá[152], chén rượu cúc, bát cháo gà, không không thèm đòi, có cũng ăn chơi; trăm năm giũ áo chốn trần-ai, còn gì mới là được.

Ông Khổng-tử khi trước, lúc đi câu, lúc đi bắn, lúc làm quan nhỏ, lúc làm quan to, lúc đi chơi lang-thang, lúc ngồi nhà dạy học: tan cuộc 72 năm, còn được lại hai chữ thánh-sư. Ông Nã-phá-Luân (Napoléon) lúc làm quan, lúc làm vua, lúc làm tướng, lúc trong tay 80 vạn quân lính, gầm hét châu Âu, lúc một mình giam lỏng chốn bãi bể; tan cuộc 52 năm, còn lại được một tiếng anh-hùng.

Cũng có kẻ không to mà được bé, không nhiều mà được ít thời như ông Trương-Tuần, ông Hứa-Viễn, chữ song-trung 1, ông Mẫn-Tử chữ hiếu, 2 ông Quí-Bố chữ hoàng-kim-nặc, 3 ông Tiếp-Dư một chữ cuồng 4.

Còn như Vương-Khải, Thạch-Sùng 5, Lý-Cầm, Lý-Tiến 6, bạc năm canh tha hồ mở bát, vỗ túi về không. Át-Trần, Mai-Kiện 7, Tần-Cối 8, Trương hoằng-Phạm 9, không những về không, để thêm tiếng cờ gian bạc lận. Nay cứ lấy lẽ thường mà nói, thời con người ta đã đem thân chơi cuộc đời, cũng nên liệu tính làm sao, lúc đứng dậy kiếm đôi ba chút. Có lẽ đánh bạc không mong được, mà chỉ thức đêm ăn nhục-phở?

Này ai ơi! Thử trèo bức tường đổ, trông quãng đồng xa, mồ con mả lớn, chỗ năm chỗ ba, chẳng quan thời dân, chẳng trẻ thời già, trước cũng người cả, bây giờ đã ma! Nào tiền nào của, nào cửa nào nhà, nào con nào vợ, nào lợn nào gà, nào câu đối đỏ, nào mành mành hoa, nào đâu đâu cả? mà chỉ thấy sương mù nắng rãi với mưa sa! Cuộc nhân-thế từ xưa mãi thế, làng chơi ta phải biết, trăm năm khôn dại dễ du mà?!

CHÚ THÍCH. — 1. Hai ông quan nhà Đường đều tử tiết ở một thành Tuy-dương. Sau đền thờ gọi là Song-trung miếu. — 2. Ông Mẫn-tử tên là Tổn, học-trò đức thánh Khổng, có tiếng khen là hiếu. Sự thực có tường ở quyển Nhị-thập-tứ-hiếu đã có dịch ra quốc-âm. — 3. Ông Quý-Bố, người nước Sở, có tín nghĩa, người trong nước Sở có câu ngạn-ngôn rằng: « Được vàng trăm cân, không bằng được một lời ừ của Quý-Bố » — 4. Ông Tiếp-Dư người Sở, cùng thời với đức Khổng-tử đi gặp xe đức Khổng ở đường có hát câu con chim phụng để ngụ-ý chê ngài không biết lánh đời là phải. Trong Luận-ngữ chép là Sở-Cuồng. — 5. Hai người là quan đời nhà Tấn, đều giầu nhất đời, thi nhau sự xa-xỉ. — 6. Nước ta đời thuộc Hán, hai người được sang làm quan Tàu. — 7. Đời Trần, giặc Nguyên sang, Trần ích-Tắc và Trần-Kiện đều là họ tôn-thất mà theo hàng giặc. Sau lúc đã thái-bình, truy luận các tội-danh hàng giặc, tước bỏ thuộc tịch của hai người, chỉ gọi là Át-Trần Mai-Kiện. — 8. Đời Tống bị giặc Kim sâm chiếm mất hơn một nửa nước, nhờ danh-tướng là Nhạc-Phi đánh lại đã gần khôi phục được. Tần-Cối bị bắt ở Kim về, làm tướng, thông-hòa với Kim mà giết mất Nhạc-Phi và xui vua Tống tự nhún mình xưng là bầy-tôi với Kim để cầu hòa, làm cho Tống từ đấy càng suy hèn đến mất. Vì thế đền thờ ông Nhạc-Phi có một cái tượng Tần-Cối đội thớt đứng trước sân, ai vào lễ đền thời trước cầm con dao băm vào đó một cái. — 9. Trương hoằng-Phạm cũng là quan của Tống, sau hàng Nguyên, theo quân Nguyên, về đánh Tống, đuổi vua Tống, đến đảo Nhai-sơn, vua Tống trẫm mình xuống biển chết, Hoằng-Phạm nhân khắc luôn tên mình vào bia đá để tự nhận công đánh mất được nhà Tống ở đấy. Người sau đi qua chỗ Nhai-sơn, có nhiều thơ sầu cảm chửi riếc.

(Lời chú-thích của tác-giả)

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Tác-giả ví cuộc đời như cái gì? So sánh thế có khéo không?

2. Trong đời người sự được thua là thế nào? Tác-giả lấy những tỉ-dụ gì để chứng giải sự được thua ấy?

3. Theo ý tưởng bài này thì trong đời người điều gì là quan-trọng nhất?

II Lờivặn — Lên voi xuống chó: nghĩa. — Bẳn: nghĩa. — Trăm năm giũ áo chốn trần ai: ý nói gì? — Nói qua công việc ông Khổng-tử và ông Nã-phá-Luân. — Tiếng cờ gian bạc lận là thế nào? Tại sao tác-giả lại bảo những người ấy mang tiếng ấy? — Nhục-phở: gốc và nghĩa. — Làng chơi: nghĩa.

2. Bài văn này thuộc về thể gì? — Cách đặt câu dùng chữ có điêu-luyện không?

133 — CÁI CHỨA TRONG BỤNG NGƯỜI

Bãi cát khô nóng, mà đổ nước vào thời hút ngay, là đương thèm nước, nếu tự nó có chất ẩm, thời đổ nước ngoài vào khó tiêu. Ngọn đèn mới tắt mà đem lửa đến gần thời bốc ngay, là đương thèm lửa, nếu tự nó còn đương cháy thời châm lửa ngoài vào không bắt; bụng người có cái chứa thời thấy vật ngoài mà không thèm; cái chứa ở trong được nhiều, thời vật ngoài dẫu muốn vào cũng không thể được. Nhưng các cái chứa ấy không có hình, mắt không thể trông thấy. Muốn biết phải dùng riêng hạng mắt vô-hình.

Đứa trẻ con đương lúc hờn dỗi, cho kẹo cũng không ăn, là trong bụng có chứa cái sự giận. Người đàn bà đương cơn ghen chồng, tiền bạc cũng không tưởng, là trong bụng có chứa cái sự ghen. Hai đứa bỉ-phu lúc đánh nhau, rượu thịt cũng không thiết, là trong bụng có chứa cái sự tức. Con trai con gái lúc tương-tư, bữa cơm thường không ăn, là trong bụng có chứa cái sự nhớ. Nếu cái chứa ở trong hết, thời thấy vật ngoài lại thèm. Cho nên, đứa trẻ con hết khi hờn dỗi, thấy kẹo tất đòi; người đàn-bà nguôi cơn ghen chồng, thấy tiền bạc tất ham; thằng bỉ-phu tan sự đánh nhau, thấy rượu thịt tất thiết; trai gái đã nhạt[153] bụng tương-tư, bữa cơm thường cũng tất ăn. Vậy thời biết trong bụng người thánh hiền chứa cái đạo học; trong bụng người chí-sĩ chứa cái khí-liệt; trong bụng người tiết-phụ chứa cái trinh-tiết; trong bụng người đạt-nhân chứa cái thanh cao, tình-hình cũng như thế.

Các cái chứa ở trong cùng với các vật ở bên ngoài lại thường thường ganh nhau, lấy khỏe, yếu, liền, đứt làm thua được, có giống như thế-lực hai quân trên mặt thành. Nếu cái ngoài khỏe, cái trong yếu, thời cái ngoài được, cho nên thấy vật ngoài mà phải thèm. Cái ngoài thường đến luôn luôn mà cái trong sơ phòng thời cái trong thua, cho nên thấy vật ngoài mà vẫn thèm. Xem chống với bên ngoài được hay thua, thời lượng biết sức cái chứa trong bụng khỏe hay yếu, liền hay đứt. Nay có người cho cái áo vải mà không lấy, cho cái áo gấm mà lấy, thời lượng biết sức cái chứa trong bụng người ấy chống được cái áo vải, cái áo gấm đến thời phải thua. Có người cho làm bang-tá mà không làm, cho làm hiệp-tá mà làm, thời lượng biết cái sức chứa trong bụng người ấy chống được cái bang-tá, cái hiệp-tá đến mà phải thua; có người hôm trước, cho cái giấy năm đồng mà không cầm, cách hôm nữa cho cái giấy năm đồng mà cầm, thời lượng biết sức cái chứa bụng người ấy tương địch với năm đồng, mà quân chứa không gan, cho nên thành bụng phá. Bên Tàu có câu hát rằng: « 使 君 自 有 婦。羅 敷 自 有 夫。Sứ-quân tự hữu-phụ, La-phu tự hữu phu » là của người con gái hái dâu là nàng La-Phu để cự tuyệt ông vua nước Triệu. Bên ta có câu hát rằng: « Thằng Bần có cái quạt mo, phú-ông xin đổi năm bò chín trâu, Bần rằng Bần chẳng lấy trâu. » Xem hai câu hát đó, thằng Bần không thấy lắm trâu bò mà ham, cũng không phải lấy quạt mo làm quý. Nàng La-Phu không coi sự lấy vua làm quý, cũng không phải lấy hái dâu làm sang. Chỉ là trong bụng có cái chứa. Lại xem lời ông Mạnh-tử luận bụng dạ các ông hiền thánh đời trước, có nói: « Nếu bất nghĩa, dẫu cho cả thiên-hạ không thèm nhìn », thời cái chứa ở trong bụng có lẽ đến cực-điểm. Trong bụng con người ta nếu cái chứa được đầy thì thế-gian không vật gì khỏe hơn, cho nên không vật gì đánh ngã được. Cái chứa liên tiếp mà không đứt thì thế-gian không vật gì lẻn được vào, cho nên không vật gì đánh trộm được. Người đời xưa bàn lẽ đánh thành rằng: « Nếu có người tài giữ, không có người tài đành ». Lẽ cũng như thế.

(Giở lên 2 bài, trích trong quyển Khối tình)

DƯƠNG-BÁ-TRẠC 楊 伯 濯

134 — DANH-DỰ VỚI HƯ-VINH

Danh-dự với hư-vinh khác nhau thế nào? Danh-dự là có tài, có đức, có công-nghiệp, có khí tiết thực, mà được tiếng khen với thiên-hạ, tiếng tốt để đời sau; mà dù có gặp phải cái xã-hội nhóa-nhem, mắc phải cái miệng đời chênh-lệch, thiên-hạ đời sau có không biết đến cái hay cái tốt cho mình đi nữa, thì nghĩ được một điều hay, làm được một việc phải, trong lương-tâm mình đã hình như là có trời đất chứng tri, thần-minh an ủi, được ngay cái phần thưởng vô-hình, mà hữu xạ tự nhiên hương 1, tự mình thấy cái nhân-cách của mình cao cả sang trọng hơn lên, đứng giữa cái vòng đời quay-cuồng xăng-xít, những lũ nhặng bầy ruồi mà biết trên trời dưới đất chỉ một mình tôn, không khác gì cá côn cá kình vẫy vùng ngoài biển lớn mà ngó vào cái tép con tôm, chim hồng chim hạc bay liệng trên tầng mây mà nhòm xuống chích-chòe se-sẻ thì cái phẩm giá tôn trọng còn gì bằng. Ấy danh-dự là thế. Hư-vinh thì tự mình không có được cái tài, cái đức, cái công-nghiệp, cái khí tiết gì đáng quí đáng trọng cả, chỉ lòa quáng về những cái phẩm-hàm, cái chức-vị, cái danh sắc kia nọ là những cái xưa nay trong xã-hội bày đặt ra vốn để biểu-dương kẻ có tài, có đức, có công-nghiệp, có khí-tiết khác thường, mà nhận lầm rằng hễ cứ có được cái phẩm-hàm, cái chức-vị, cái danh-sắc gì thì tức cũng đáng quí đáng trọng đáng mừng rỡ vẻ vang, như những bực đóng vai chính trong cái địa-vị đó, xưa nay là những bực thực đức, thực tài, thực có công-nghiệp, thực có khí-tiết; bấy giờ mới đâm đầu đâm đuôi, chạy xuôi chạy ngược, để cầu cạnh chen-chúc, làm sao cho có cái mã ngoài ấy thì tất là lận sòng 2 được với cái chân giá-trị kia; thấy những bố cu mẹ đĩ sợ cái tiếng quan lớn quan bé, thì cố làm sao cho cũng có được cái tiếng quan lớn quan bé; thấy những đàn bà con gái ham cái tiếng ông nọ ông kia thì cố làm sao cũng kiếm được cái tiếng ông nọ ông kia; dành-dật nhau, xâu-xé nhau, tâng-bốc nhau, hí-ha hí-hởn với nhau, miễn là khỏi chân trắng ngực trần là vinh, được có chút hàm thấp hàm cao, cuống xanh cuống tím 3 là vinh, chứ không còn nghĩ gì tới cái chân giá-trị của những cái đó là cái tài thực, đức thực, công-nghiệp thực, khí-tiết thực nữa. Ấy hư-vinh khác với danh-dự như thế.

Người ta ai cũng có cái lòng danh-dự, mà vì cái danh-dự thực muốn làm cho được, kiếm cho ra phải khó khăn cực nhọc, bền chí cố công lắm, không mấy người chịu khó khăn cực nhọc, bền chí cố công mà làm cho được, kiếm cho ra cái danh-dự thực; đã không làm được, không kiếm ra cái danh-dự thực mà cái máu tham danh-dự lại sôi nổi đến quá độ thường, mới bỏ đường khó mà quay ra đường dễ, chẳng cần gì luyện tài, tu đức, gây dựng công-nghiệp, giữ gìn khí-tiết, mà chỉ chuốc-lách cho được cái phẩm-hàm, cái chức-vị, hay cái danh-sắc chi chi; xã-hội cũng vì cái thói quen trọng danh-dự đã lâu, mà trong một xã-hội bao giờ thì cũng người hay có ít, kẻ dở có nhiều, được mấy ai là biết cân nhắc so-sánh cái chân giá-trị của người ta, mà cũng thường lầm cái hư-vinh là cái danh-dự thực; lâu dần cái danh-dự thực là cái tài thực, cái đức thực, cái công-nghiệp thực, cái khí-tiết thực, không ai kể đến, không ai bình-phẩm đến nữa, mà cũng chỉ biết cái hư-vinh làm cái thước đo nhân-phẩm mà thôi. Suốt trong xã-hội, hỏi trọng gì? tất là võng lọng đai cân; hỏi quí ai? tất là ông cả bà lớn; cái gì là sang? tất là xe ngựa lâu đài, ngọc ngà gấm vóc; cái gì là sướng? tất là ăn trên ngồi chốc, nhận lễ thu tiền; su-phụ khéo, luồn lọt bợm để cầu vinh, ấy là người giỏi; giết người tợn, tấn công khỏe để cầu vinh, ấy là người tài; lắm quan thầy, tốt thần thế, lo gì cũng xong, xin gì cũng được, ấy là tay anh-hùng; nạt con em, hiếp làng xóm, anh làm ông nọ, em làm ông kia, ấy là nhà có phúc; khao phẩm-hàm, vọng ngôi thứ, ấy là vẻ-vang; cổ kim-khánh, ngực mền-đay, ấy là danh-giá; một người như thế, trăm người đều như thế, đời trước như thế, đời sau cũng như thế, mà thành ra có cái tệ hiếu hư-vinh.

CHÚ THÍCH. — 1. Nghĩa là có xạ tự-nhiên mùi thơm đưa ra. — 2. Đánh cháo, đánh lừa. — 3. Chỉ các thứ huy-chương bội tinh.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Trong bài này tác-giả định phân-biệt hai thứ gì? Thế nào là thực danh? là hư vinh?

2. Quan niệm của người thường về danh dự thế nao? Tại sao người ta lại thường chuốc hư-danh mà không biết chuộng thực-danh?

3. Muốn có danh-dự phải làm thế nào?

II. Lời văn. — 1. Nhân-cách là gì? — Lũ nhặng bầy ruồi: nghĩa bóng nói gì? — Cá côn cá kình, chim hồng chim hạc: những giống ấy thế nào? Đây nói hạng người nào? — Phẩm-hàm: nghĩa hai chữ ấy? Nói qua về phẩm-hàm của ta. — Bố cu mẹ đĩ: gốc tích những tiếng ấy. — Chân trắng ngực trần: nghĩa bóng. — Khao vọng: nghĩa; nói qua về tục khao vọng của ta.

2. Lời văn bài này có những điều gì là đặc sắc?

Chú thích của bản in

  1. Ghe ↩
  2. Thuốc tây. ↩
  3. Lạt. ↩