Trang chủ Viện

Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm

135 — CÁI CÁCH CẠNH-TRANH CỦA NGƯỜI MÌNH

Chương 16 / 16

135 — CÁI CÁCH CẠNH-TRANH CỦA NGƯỜI MÌNH

Cạnh-tranh là một cái tính phổ-thông của nhân-loại; mà cái mục-đích cạnh-tranh, suốt xưa nay, khắp muôn nước, cũng tóm lại chỉ có hai điều: Một là cạnh tranh vì danh, hai là cạnh tranh vì lợi; song, danh có cái danh thực, cũng lại có cái danh hư; lợi có cái lợi to, cũng lại có cái lợi nhỏ; nên cái kết quả cạnh tranh, có cái hay, cũng lại có cái dở khác nhau. Cạnh-tranh vì cái danh thực, cái lợi to, thì càng cạnh tranh bao nhiêu, càng gây nên được những công-nghiệp vĩ đại, càng thu hoạch được những quyền lợi rộng lớn bấy nhiêu, mà nhân cách của mình nhờ đó mà càng tôn quí, nước nhà của mình nhờ đó mà càng thịnh vượng, nhân-loại của mình nhờ đó mà càng tiến-hóa thêm. Nếu cạnh-tranh vì cái danh hư, cái lợi nhỏ thì càng cạnh-tranh chừng nào, càng nuôi nên cái xấu đê hèn đểu-dả, càng bỏ mất cái mối lợi to tát xa xôi chừng nấy mà nhân cách của mình bị thế mà càng thấp kém, nước nhà của mình bị thế mà càng suy-sút, nhân loại của mình bị thế mà không khỏi thoái-hóa có ngày.

Ta thử xét xưa nay những bực danh nhân kiệt-sĩ, kẻ đua tài, người chọi sức, day tay mắm miệng, làm nên được những sự-nghiệp phi thường, phúc dân lợi nước, để dấu thơm muôn thuở, bia đá tượng đồng, chẳng là vì cái danh thực mà cạnh-tranh đấy ư? Lại thử xem những bực phú-hào bên các nước Âu, Mỹ, mở những nơi công xưởng hàng mấy vạn người làm công, lập những cửa hàng buôn hàng mấy trăm triệu tiền vốn, cắm những con đường xe-lửa hàng mấy ngàn ki-lô-mét, trăng những dây điện thông tin hàng mấy muôn hải-lý, khẩn những cánh đồng hoang hàng mấy tỉnh một, nuôi những loài súc sản hàng mấy triệu con, xí lấy những cái cù-lao mới ở tận giữa biển khơi, dành lấy những cái khoáng huyệt lớn ở tận ngoài nước khác, làm nên cho dân được thịnh, nước được giầu, chẳng là vì một cái lợi to mà cạnh-tranh đấy ư?

Nay hỏi đến cách cạnh-tranh của người mình thế nào? Đi học thì cạnh-tranh nhau cầu cho được lương hậu bổng nhiều mà trí-thức rộng hẹp, phẩm-hạnh thấp cao, lại không hề cạnh-tranh đến. Làm quan thì cạnh-tranh nhau cầu cho được tiền nhiều chức lớn, mà đạo-đức tốt xấu, chính-tích hay hèn, lại không hề cạnh-tranh đến. Ở trong làng thì cạnh-tranh nhau chỗ ăn chỗ ngồi, ngôi trên ngôi dưới, ngoài cái đó không hề so sánh hơn thua, ai thiện ai ác, ai hiền ai ngu nữa. Ra ngoài đường thì cạnh-tranh nhau kẻ khó người giầu, manh quần tấm áo, ngoài cái đó không hề phân biệt nhân-phẩm ông hay là thằng, bà hay là con nữa. Làm ruộng thì cạnh-tranh nhau tấc ruộng thước vườn, mẩu bờ tí nước, mà đến những đồng bãi mông mênh kể hàng ngàn hàng muôn mẫu thì có ai nhìn. Buôn bán thì cạnh-tranh nhau luồn lỏi mua cho được, mánh-khóe bán cho trôi, mà đến những đại-tôn giao-dịch kể trăm thứ ngàn thứ hàng thì có ai biết. Làm thợ thì cạnh-tranh nhau bán rẻ phá giá, làm điêu đỡ công, mà chưa từng có được một cái đoàn-thể đồng-nghiệp cho hẳn-hoi, để khoáng-trương lợi ích. Ấy sự cạnh-tranh của người mình, toàn có một cái mục-đích nhỏ-nhen hèn-hạ như thế cả; như thế mà cạnh-tranh cũng hăng-hái dữ-tợn quá cũng chẳng khác gì người các nước họ cạnh-tranh vì cái danh thực cái lợi to.

Nay phải đổi cái mục-đích thấp hèn mà đem hết cái sức cạnh-tranh hăng-hái dữ-tợn của mình về cái danh thực, cái lợi to, là cái danh của các bực danh-nhân kiệt-sĩ xưa nay, cái lợi của các bực phú-hào bên Âu, Mỹ. Tây-triết đã có câu: « Cạnh-tranh là mẹ tiến-hóa. » Cạnh-tranh không phải là một tính xấu, xấu hay tốt là cốt ở cái mục-đích cạnh-tranh cao thấp lớn nhỏ thế nào vậy.

(Giở lên hai bài, trích ở quyển Tiếng gọi đàn)

HỢP THÁI

136 — TÔN-CHỈ LỄ-NHẠC

Lễ-nhạc là hai tôn chỉ 1 chớ không phải hai chữ thường như chữ khác; nhưng mà người đời ít kẻ hiểu hai tôn-chỉ ấy, tưởng lễ là cúng tế, nhạc là trống kèn; chẳng những người bây giờ ít kẻ hiểu hai tôn-chỉ ấy, chính người đồng-thời với đức Khổng-tử cũng ít hiểu hai tôn-chỉ ấy, cho nên đức Khổng-tử tức giận mà than rằng: « Khi người ta nói rằng lễ, khi người ta nói rằng lễ, có phải nói ngọc với lụa vậy thay! Khi người ta nói rằng nhạc, khi người ta nói rằng nhạc, có phải nói chuông với trống vậy thay 2! »

Lễ là trật-tự (ordre), nhạc là điều-hòa (harmonie), ở trong vũ-trụ chỗ nào cũng có lễ-nhạc, nghĩa là chỗ nào cũng có trật-tự điều-hòa: nếu không như vậy, thì sự sinh-tồn không thể có được.

Hết xuân đến hạ, hết thu sang đông, là lễ-nhạc, tức là trật-tự điều-hòa ở trong trời đất; nhờ có thế mà muôn vật mới phát sinh được. Nếu xuân hành hạ lệnh, thu hành đông lệnh 3, thì thiên-khí quai-hòa, mà muôn vật cũng vì đó mà đau mà chết.

« Vua làm nghĩa-vụ của vua, tôi làm nghĩa-vụ của tôi », là lễ-nhạc, tức là trật-tự điều-hòa ở trong nước; « cha làm nghĩa-vụ của cha, con làm nghĩa-vụ của con 4 » là lễ-nhạc, tức là trật-tự điều-hòa ở trong nhà.

Muốn giữ gìn lễ-nhạc hay là trật-tự điều-hòa ở trong nước, thì phải tu lòng trung; muốn giữ gìn lễ-nhạc hay là trật-tự điều-hòa ở trong nhà thì phải tu lòng hiếu. Trung hiếu là hai cái linh-phù 5 để giữ gìn trật-tự điều-hòa trong nước trong nhà vậy.

« Trung ư quân » không phải là làm cho vua vui lòng riêng, mà phải lo cho nước càng ngày càng thịnh-vượng; « hiếu ư thân » không phải là làm cho cha mẹ vui lòng một lúc, mà phải lo cho việc nhà càng ngày càng quang-xương 6. Nhưng mà xưa nay nhiều người hiểu sai hai cái nghĩa ấy, có kẻ muốn vui lòng vua, không dám can ngăn, để cho việc nước phải đồi bại; có kẻ chỉ biết ở gần cha mẹ, sớm khuya phụng dưỡng là trọn phận làm con; những người hiểu hai chữ trung hiếu như vậy là hiểu một cách hẹp hòi. Hiện bây giờ cũng có người tưởng rằng đến cửa vua mà cúi đầu vòng tay là tận trung, kỵ giỗ cha mẹ mà có mâm cao cỗ đầy là tận hiếu. Trung hiếu như vậy thì dễ làm lắm, trẻ con làm cũng được! Phải hiểu rằng vua vui lòng chi bằng thấy việc nước càng ngày càng thịnh-vượng; cha mẹ vui lòng chi bằng thấy việc nhà càng ngày càng quang-xương. Ai muốn tu lòng trung thì phải tìm cách mà làm cho nước thịnh-vượng, và phải gây dựng nhân-tài để ngày sau giúp nước cho sự thịnh-vượng càng ngày càng thêm; ai muốn tu lòng hiếu thì phải lo việc nhà cho quang-xương và phải nuôi dạy con cháu để ngày sau việc nhà cứ quang-xương mãi. Trung hiếu là một lá cờ để dẫn nước dẫn nhà lên đường tấn-bộ, nhưng mà sự đi tới ấy phải có lễ-nhạc, nghĩa là phải có trật-tự điều-hòa, cũng như toán binh đi tới có thứ-tự và theo nhịp kèn.

Thân-trọng-Huề

(Trích ở bài Cung dịch Thánh-ý trong Nam-phong, số 50)

CHÚ THÍCH. — 1. Là cái lý-thuyết đem ra mà thực-hành. — 2. Cách nói trùng phục. Lễ vân, lễ vân; nhạc vân, nhạc vân là có ý giận. Ngọc với lụa là vật dùng để tế đời xưa. — 3. Khí-hậu mùa xuân như mùa hạ, mùa thu như mùa đông là trái thời-tiết. — 4. Dịch câu đức Khổng-tử trong sách Luận-ngữ: « quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử ». — 5. Là cái bùa thiêng. — 6. Sáng sủa thịnh-vượng.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — Trong bài này tác-giả định giải-thích về nghĩa gì? — Hai chữ lễ, nhạc nhiều người thường hiểu lầm thế nào? — Hai chữ ấy nghĩa chính là gì? — Lễ nhạc ở trong vũ-trụ thế nào? — Ở trong nước trong nhà thế nào? — Cái quan-niệm về lòng trung lòng hiếu của người thường thế nào? Thế nào mới là chánh đáng?

II. Lời văn. — 1. Nghĩa những chữ: trật-tự, điều-hòa, quai-hòa. — Tu lòng trung: nghĩa chữ tu. — Tận trung, tận hiếu: nghĩa chữ tận. — Nhân-tài là gì?

2. Cách đặt để bài văn này có điều gì đáng nhận?

137 — SỐNG CHẾT MẶC BAY

(Tả-chân tiểu-thuyết)

Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị-hà lên to quá; khúc đê làng *** thuộc phủ *** xem chừng núng thế lắm, không khéo thì vỡ mất.

Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức gìn giữ, kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì-bõm dưới bùn lầy, ngập quá khỉu chân, người nào người ấy, lướt-thướt như chuột lột. Tình cảnh này trông thật là thảm.

Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao-xác, gọi nhau sang-hộ, nhưng xem chừng ai ai cũng đã mệt lử cả rồi. Ấy vậy mà trên trời thời mưa vẫn tầm-tã trút xuông, dưới sông thời nước cuồn cuộn bốc lên. Than ơi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại với thế nước! Lo thay! nguy thay! Khúc đê này hỏng mất!...

Ấy, lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân hèn yếu mà đối với sức mưa to nước lớn, để bảo-thủ lấy tánh-mạng, gia-tài; thế thời quan cha mẹ ở đâu?

Thưa rằng: Đang ở trong đình kia, cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững trãi, dẫu nước to thế nữa, cũng không việc gì.

Trong đình, đèn thắp sáng chưng; nha lệ lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng. Trên sập mới kê ở gian giữa, có một mình quan phụ-mẫu, uy-nghi chễm-chện ngồi. Xung quanh sập bắc bốn ghế mây, bắt đầu từ phía hữu quan, thì có thầy đề, rồi lần lượt đến thầy đội-nhất, thầy thông-nhì, sau hết giáp phía tay tả ngài, thì đến chánh-tổng sở-tại cùng ngồi hầu bài.

Ngoài kia tuy mưa gió ầm-ầm, dân phu rối-rít; nhưng trong này xem chừng tĩnh-mịch nghiêm-trang lắm, trừ quan phụ-mẫu ra mọi người không ai dám to tiếng. So với cái cảnh trăm họ đang vất-vả lấm-láp, gội gió tắm mưa, như đoàn sâu lũ kiến ở trên đê, thời ở trong đình rất là nhàn-nhã, đường-bệ, nguy-nga: nào quan ngồi trên, nào nha ngồi dưới; người nhà, lính lệ khoanh tay sắp hàng, nghi-vệ tôn-nghiêm, như thần như thánh. Thỉnh thoảng nghe tiếng quan phụ-mẫu gọi: « Điếu, mày! » tiếng tên lính thưa: « Dạ »; » tiếng thầy Đề hỏi: « Bẩm, bốc? » tiếng quan lớn truyền: « Ừ. » Kẻ này: « Bát-xách... Ăn, » người kia: « Thất-văn... Phỗng, » lúc mau lúc khoan, ung-dung êm-ái, khi cười, khi nói, vui-vẻ dịu-dàng. Thật là tôn-kính, xứng đáng với một vì phúc-tinh...

Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọc, bỗng nghe ngoài xa, tiếng kêu vang trời dậy đất. Mọi người đều giật nẩy mình, duy quan vẫn điềm-nhiên, chỉ lăm-le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ. Vì ngài sắp ù to.

Có người khẽ nói:

— Bẩm, đê có khi vỡ!

Ngài cau mặt gắt rằng:

— Mặc kệ!

Rồi ngài xếp bài lại, quay gối dựa sang bên tay phải, nghiêng mình, bảo thầy đề-lại:

— Có ăn không thì bốc chứ!

Thầy đề vội vàng:

— Dạ, bẩm bốc.

Vừa lúc đó, thì tiếng người kêu rầm-rĩ, càng nghe càng lớn. Lại có tiếng ào-ào như thác chảy xiết; rồi lại có tiếng gà, chó, trâu, bò kêu vang tứ phía.

Bấy giờ ai nấy ở trong đình, đều nôn-nao sợ hãi. Thốt nhiên một người nhà quê, mình mẩy lấm-láp, tất-tả chạy xông vào, thở không ra lời:

— Bẩm....... quan-lớn,..... Đê vỡ rồi!

Quan lớn đỏ mặt, tía tai, quay ra, quát rằng:

— Đê vỡ rồi!..... Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không?...... Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng-xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?

— Dạ, bẩm......

— Đuổi cổ nó ra!

Ngài quay vào, hỏi thầy đề:

— Thầy bốc quân gì thế?

— Dạ, bẩm con chưa bốc.

— Thì bốc đi chứ!

Thầy đề, tay run cầm-cập, thò vào đĩa nọc, rút một con bài lật ngửa, xướng rằng:

— Chi-chi!

Quan lớn vỗ tay xuống sập kêu to:

Đây rồi!..... Thế chứ lại!

Rồi ngài vội vàng xòe bài, miệng vừa cười vừa nói:

— Ù! Thông tôm, chi-chi nẩy!..... Điếu mày!.....

Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh-láng, soáy thành vực sâu, nhà cửa chôi băng, lúa má ngập hết: kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh-đênh mặt nước, chiếc bóng bơ-vơ, tình-cảnh thảm sầu, kể sao cho siết!

Phạm-duy-Tốn (Nam-Phong, số 18)

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Thế nào gọi là tả-chân tiểu-thuyết? Bài này cốt tả tình-cảnh gì? — Cách kết-cấu bài này thế nào?

2. Trong bài này tác-giả đem hai cảnh gì đối với nhau? Hai cảnh ấy trái ngược nhau thế nào?

3. Đọc xong bài này cảm-giác cùng tư-tưởng anh thế nào?

II. Lời văn — 1. Cắt nghĩa những chữ núng, cừ. — Lướt thướt như chuột lột: sao nói thế? — Trống liên thanh, ốc vô hồi: nghĩa gì? — Nghĩa chữ sang hộ? — Quan cha mẹ, quan phụ mẫu: nói ai? Sao gọi thế? — Nói qua về những danh hiệu: thầy đề, đội nhất, thông nhì, lính lệ. — Cắt nghĩa những tiếng dùng trong cuộc đánh bài: bốc, ăn, phỗng, ù, chờ v. v, — Phúc-tinh: nghĩa đen, nghĩa bóng

2. Trích trong bài văn này những đoạn nào đặc sắc nhất để chứng giải rằng bài này tả thực rất khéo. — Nhặt (lặt) những câu nào mô tả cái tâm-địa ông quan rõ rệt nhất.

Tác-giả có bình-phẩm gì đến hạnh-kiểm ông quan nói trong bài này không? Cứ cách tự-thuật trong truyện thì cái ngụ-ý của tác-giả có nẩy ra không?

138 — BỤNG LÀM DẠ CHỊU

Có một anh bất-tài chẳng biết làm gì mà ăn, mới đi học làm thầy bói, bói nhiều quẻ cũng khá ứng, nên thiên-hạ tin đua nhau đem tiền đến xin bói....

Bữa kia trong đền vua có mất con rùa vàng, kiếm thôi đã cùng đã khắp mà không ra.

Người ta mới tâu có anh thầy bói kia có danh, xin cho rước vào tới mà dạy gieo quẻ bói thử, họa có được chăng. Vậy vua giáng chỉ dạy sắm võng giá, quân gia, dù lọng cho đi rước cho được anh ta về.

Thấy quân gia rắn-rộ tới nhà, trong bụng đã có lo có sợ, không biết lành dữ dường nào, chẳng ngờ nghe nói vua đòi đến bói, mà kiếm con rùa vàng của vua mất đi, trong lòng đã bấn bíu, sợ e bói chẳng nhằm, mà có khi bay đầu 1 đi, mà phải vâng phải đi, đánh liều mặc may mặc rủi. Bịt khăn bận áo, bước lên võng ra đi, nằm những thở ra thở vô, không biết liệu phương nào, mới than rằng: Bụng làm dạ chịu, chớ khá than van....

Chẳng ngờ may đâu hai thằng khiêng võng một đứa tên là Bụng, một đứa tên là Dạ, là hai đứa đã đồng-tình ăn cắp con rùa vàng của vua, nghe thấy nói làm vậy thì ngờ là thầy thông-thiên đạt-địa 2 đã biết mình rồi; sợ thầy tới nói tên mình ra, vua chém đi, cho nên để võng xuống lại lạy thầy, xin thương xót đến mình, vì đã dại sinh lòng tham, mới ăn cắp con rùa ấy mà giấu trên máng rồi. Xin thầy làm phúc đừng có nói tên ra mà chúng tôi phải chết tội nghiệp.

Anh thầy nghe nói mới hở hơi được, đem bụng mừng thì mới nói: Thôi tao làm phúc, tao không nói đâu mà hòng sợ. Tới nơi anh ta bói xong, kiếm được rồi vua trọng thưởng, lại phong cho chức sắc về vinh vang.

Mà vốn thiệt là việc may đâu mà nên mà thôi, chẳng phải là tại va 3 có tài nghề chi đâu. Ở đời có nhiều người nhờ vận may mà thôi chớ chẳng phải tài tình chi.

Trương-Vĩnh-Ký (Chuyện đời xưa)

Ông người tỉnh Vĩnh-long trong Nam-kỳ, sinh năm 1837, mất năm 1898. Ông học thông chữ Pháp; hồi ông Phan thanh-Giản sang sứ Pháp, ông có dự đi làm thông-ngôn: đến lúc về ông được sung chức thông sự ở trong kinh, để tiện việc giao thiệp với quan Pháp. Đến năm 1884, ông được bổ làm giáo-viên dạy khoa Đông-phương-ngữ ở trường Cai-trị (Collège des stagiaires) tại Sài-gòn.

Ông là bực kỳ-cựu trong phái Pháp-học và đã có công trong việc truyền bá chữ quốc-ngữ. Ông có làm quyển Pháp-Việt tự-điển, quyển Chuyện khôi-hài, Chuyện đời xưa và nhiều sách giáo-khoa bằng quốc-ngữ. Ông lại am hiểu nhiều thứ tiếng ngoại-quốc: có dịch bộ Tứ thư và mấy quyển sách chữ nho khác ra quốc-ngữ.

CHÚ THÍCH — 1. Chém mất đầu. — 2. Hiểu thấu cả các việc trên trời dưới đất. — 3. Tiếng đường trong như tiếng nói ngoài Bắc.

139 — QUÂN-TỬ KHẢ KHI DĨ KỲ PHƯƠNG

Thầy Tử-Sản là người nước Trịnh, cũng là môn-đệ đức Phu-tử.

Ngày kia thầy Tử-Sản phát tiền cho đầu bếp đi chợ. Tên đầu bếp đem tiền đi chợ, gặp chúng bạn rủ, đánh lú thua hết. Trở về tay không thì sợ thầy quở, nó bèn kiếm chước nói dối thầy mà rằng: « Bữa nay tôi ra chợ, tôi thấy họ bán một con cá lớn đại, mập-núc mà tròn quay; tôi hỏi giá, họ nói có một quan tiền, chớ mọi lần họ bán cho tới hai ba quan. Tôi nghĩ không mấy khi gặp cá ngon bán rẻ, dốc lòng tìm miếng ngon cho thầy, tôi bèn mua trụm cả quan tiền. Tôi lấy dây xỏ mang con cá mà xách về, gần tới nửa đàng, chẳng dè nó cứng đờ không cục cựa, tôi sực nhớ lời người ta nói: cá lên khỏi nước cá khô. May vừa đi ngang qua hồ, tôi lật-đật đem bỏ con cá xuống nước, họa là nó lấy hơi nước mà sống lại chăng. Hồi tôi mới thả, nó nằm trơ, không máy động, vừa giập bã trầu, nó quạy và ngáp gió, giây phút nó vùng một cái. Tôi vừa thò tay mà bắt lại, nó đã quạt đuôi lội đi mất. Ấy là tại tôi dại, xin thú thiệt cùng thầy. »

Thầy Tử-Sản nghe nói bèn vỗ tay mà rằng: « Đắc kỳ sở tai! đắc kỳ sở tai! » (Chỉ nghĩa là chim trời cá nước, được thế nó thay! được thế nó thay!)

Thằng đầu bếp ra ngoài, cười thầm, học cùng chúng bạn rằng: Ai gọi thầy Tử-Sản là trí! Tiền chợ thầy đưa, tao thua hết, tao kiếm điều nói láo, mà thầy ấy cũng tin ngay. Ai gọi thầy Tử-Sản là trí!

Thầy Mạnh-tử giải rằng: quân-tử khả khi dĩ lý chi sở hữu, nhi bất khả khi dĩ lý chi sở vô. Nghĩa là lấy việc có lý mà dối người quân-tử cũng được; chi như việc không có lý, thì chẳng lẽ dối đặng.

Paulus Của (Chuyện Giải buồn cuốn sau)

Ông người Nam-kỳ, cũng là một vực kỳ-cựu trong phái Pháp-học, lại thông Hán-tự. Ông có soạn ra cuốn Đại-Nam quốc-âm tự-vị, cuốn Chuyện giải buồn và có dịch nhiều sách chữ nho hoặc chữ nôm ra quốc-ngữ.