Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm
1. — DỆT VẢI
Chương 2 / 16
1. — DỆT VẢI
Thấy dân rét mướt[29] nghĩ mà thương,
Vậy phải lên ngôi gỡ mối dường, 1
Tay ngọc lần đưa thoi nhật nguyệt, 2
Gót vàng giậm đạp máy âm dương. 3
CHÚ-THÍCH. — 1. Nghĩa đen là lên ngồi trên khung cửi gỡ các mối chỉ trong khung cửi mà dệt; nghĩa bóng là lên ngôi vua sắp đặt các công việc trong nước. — 2. Nghĩa đen là đưa cái thoi dệt; nghĩa bóng là làm vua chủ-chương cả mặt trời mặt trăng. — 3. Nghĩa đen là đạp cái máy dệt; nghĩa bóng là làm vua chuyển vận cả khí âm khí dương.
2. — NGƯỜI BỒ-NHÌN
Quyền trọng ra uy (oai) trấn cõi bờ,
Vốn lòng vì nước há ví dưa! 1
Xét soi trước mặt đôi vừng ngọc, 2
Vùng vẫy trên tay một lá cờ.
Dẹp giống chim muông xa phải lánh, 3
Dể quân cày cuốc gọi không thưa.
Mặc ai nhẩy nhót đường danh lợi,
Ơn nước đầm đìa hạt móc mưa.
CHÚ-THÍCH. — 1. Nguyên tục-ngữ ta có câu: bồ-nhìn giữ dưa. — 2. Hai vừng mặt trời mặt trăng; làm bồ-nhìn đứng giữa đồng lúc nào cũng có mặt trời hoặc mặt trăng soi trốc đầu. — 3. Người ta lấy bồ-nhìn để ngoài ruộng cho chim muông nó sợ không dám đến phá hoa mầu (huê lợi).
CÂU HỎI — I. Ý tưởng. — 1. Bài thơ này về thể gì? Có ngụ ý gì?
2. Hai câu đề nói ý gì? — Hai câu thực tả có rõ người bồ-nhìn không? — Nói rõ hai câu luận kể công trạng và khí phách người bồ-nhìn. — Hai câu kết nói ý gì?
3. Nói rõ bài này tuy đầu đề tầm thường mà tả ra khí-tượng một ông vua.
II Lời văn — 1. Quyền trọng ra uy: nghĩa gì? Vốn lòng vì nước há vì dưa: sao vậy? Thế nào gọi là: giống muông? Hạt móc mưa nói bóng là gì?
2. Bài thơ này có giọng gì? Thuộc về lối thơ nào? Kể qua phép tắc lối thơ ấy.
NGUYỄN-BỈNH-KHIÊM 阮 秉 謙 (1492-1587)
Ông hiệu là Bạch-Vân cư-sĩ 白 雲 居 士 tục gọi là Trạng-Trình, người làng Trung-Am, huyện Vĩnh-Lại, tỉnh Hải-Dương, sinh năm Tân-hợi đời Hồng-đức vua Lê Thánh-tôn (1492). Tuổi còn trẻ mà học đã nổi tiếng, song vì bấy giờ đang rối loạn, ông không muốn ra đời, đi ẩn một chỗ. Sau nhà Mạc đã cầm quyền, trong nưóc yên ổn, anh em nhiều người khuyên dục, ông mới đi thi, đậu Trạng-nguyên năm Đại-chính thứ sáu đời Mạc-đăng-Doanh (1536); lúc bấy giờ ông đã 44 tuổi.
Vua Mạc cất ông làm Đông-các-đại-học-sĩ, làm quan được 8 năm dâng sớ hạch tất cả 18 người lộng thần.
Sau ông về trí-sĩ, làm nhà chơi mát ở làng, gọi là am Bạch-Vân để ở, rồi chỉ đi chơi những chỗ núi non sông biển để thưởng ngoạn phong-cảnh, ngâm vịnh thơ văn.
Ông tuy ở nhà, nhưng vua Mạc vẫn tôn trọng lắm, có công việc to vẫn hỏi đến. Sau phong làm Trình-quốc-công. Ngày 28 tháng một năm Ất-dậu (1587) ông mất, thọ 95 tuổi.
Các thơ văn vừa bằng chữ nho vừa bằng quốc-âm ông làm ra rất nhiều: đến nay còn truyền lại một tập thơ nôm là Bạch-Vân thi-tập[30]
Ông lại học tinh khoa lý số: trong sinh-thời nhiều người đến hỏi han về việc tương-lai, truyền bảo cho đúng cả. Nay còn truyền lại một tập những câu “sấm” của ông.
3. — CẢM HỨNG
TIỂU DẪN. — Nguyên hồi năm Quang-thiệu (1516-1522) đời Lê Chiêu-Tôn có việc biến loạn, Trịnh-Tuy, Mạc-đăng-Dung đều muốn tranh quyền, đánh nhau mấy năm. Ông ở ẩn một chỗ, tính số Thái-ất đoán biết nhà Lê lại khôi phục được, ông mới làm bài thơ này.
Non sông nào phải buổi bình-thời,
Thù đánh nhau chi khéo nực cười!
Cá vực, chim rừng, ai khiến đuổi? 1
Núi xương, sông huyết, thảm đầy nơi!
Ngựa phi chắc có hồi quay cổ, 2
Thú dữ nên phòng lúc cắn người. 3
Ngán ngẩn việc đời chi nói nữa,
Bên đầm say hát nhởn-nhơ chơi!
CHÚ-THÍCH. — 1. Điển trong sách Mạnh-tử: con giái cá đuổi cá cho vực, con cắt đuổi chim cho rừng; nghĩa bóng là lúc loạn những giặc giã nổi lên tranh cướp nhau, tàn hại nhân dân cũng như con giái-cá bắt cá, con cắt đánh chim, thì cá phải tìm đến vực, chim phải tìm đến rừng; nhân dân khổ vì những giặc giã tàn hại mình cũng tìm đến người có nhân mà quy phục. — 2. Ý nói: nhà Lê sau có ngày khôi phục. — 3. Ý nói: nhà Trịnh sau lại tiến quyền vua.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Thế nào là thơ cảm-hứng? Tác-giả nhân cảm việc gì mà làm ra bài này?
2. Tác-giả đối với cảnh binh-đao bấy giờ cảm-tưởng ra làm sao? Hai câu thực nói những ý gì? Kể qua việc họ Lê trung-hưng và việc họ Trịnh tiến quyền để chứng giải hai câu luận. Theo câu kết thì ý-chí tác-giả bấy giờ thế nào?
3. Xem bài thơ này thì biết tác-giả có trí tiên-kiến không?
II. Lời văn. — 1. Chữ non sông nói ý gì? — Giải các điển trong câu thứ ba và nói qua cách dùng điển trong thơ văn ta. — Núi xương sông huyết: mấy chữ ấy tả cảnh gì?
2. Bài thơ này làm theo luật gì? Nói qua phép-tắc về luật thơ ấy.
4 — THƠ NHÀN
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dù ai vui thú nào?
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao-sao.[31]
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp,
Nhìn xem phú-quí tựa chiêm-bao.
5. — THÓI ĐỜI
Vụng khéo nào ai chẳng có nghề,
Khó khăn phải lụy đến thê-nhi.
Được thời, thân thích chen chân đến,
Thất thế, hương lư ngảnh mặt đi.
Thớt có tanh tao, ruồi đỗ (đậu) đến,
Gang không mật mỡ, kiến bò chi.
Đời này những trọng người nhiều của,
Bằng đến tay không ai kẻ vì.
HỒ-XUÂN-HƯƠNG 胡 春 香
Người tỉnh Hải-Dương, ở về cuối đời Hậu-Lê. Nàng là một tay nữ-sĩ, người rất tài tình, lại giỏi nghề thơ văn. Nhưng chả may số phận hẩm hiu, thân thế long-đong, nên thổ lộ ra lời thơ giọng văn hoặc cay chua, hoặc lơ lẳng. Xuốt tập thơ văn của nàng[32] không mấy bài là không có ý lả lơi, dù tả cảnh gì vịnh vật gì cũng vậy, mà tiếc thay! lời văn thật là chải chuốt, giọng văn thật là êm đềm.
Nàng thường cùng với một tay danh-sĩ bấy giờ là ông Phạm-đình-Hổ (thường gọi ông Chiêu-Hổ) ngâm vịnh, ông Hổ cũng phải phục tài nàng.
6 — QUA ĐÈO BA-DỘI
TIỂU DÃN. – Đèo Ba-Dội tên chữ là Tam-điệp-sơn (tên đặt thế vì có ba đợt núi) ở chỗ giáp-giới hai tỉnh Ninh-bình và Thanh-hóa; đường quan-lộ đi vào Trung-kỳ phải qua đèo ấy.
Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo đặt (tạc) cảnh cheo-leo.
Cửa son đỏ loét tùm-bum nóc,
Hòn đá xanh rì lún-phún rêu.[33]
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm-đìa lá liễu hạt sương gieo.
Hiền-nhân quân-tử ai là chẳng,
Mỏi gối chồn chân cũng phải trèo.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — Thế nào là một bài thơ tức-cảnh?
2. Tác-giả lấy những cảnh-tượng gì tả chỗ đèo Ba Dội? Các cảnh-tượng ấy có vẻ gì?
3. Nói rõ bài này tuy vẫn tả cảnh thiên nhiên mà có ý lẳng lơ. So bài này với bài tức cảnh đèo Ngang của Bà Huyện Thanh-quan tr. 16.
II. Lời văn. — 1. Ba chữ đèo trong câu phá đặt trùng điệp thế có hiệu-lực gì? — 2. Nhặt các chữ hình-dung-từ (adjectif) trong bài này mà thích giải và phê bình. Nói những chữ ấy đọc lên có làm cho người ta mưỡng tượng được hình-sắc hay thanh-âm các sự vật không?
7. — CẢNH ĐỀN TRẤN-VÕ
TIỂU DẪN. — Đền Trấn-võ thường gọi là đền Quan-Thánh, thờ ông Huyền-thiên-trấn-Vũ, ở cạnh hồ Tây thành-phố Hà-Nội.
Êm ái chiều hôm tới Trấn-đài,
Lâng-lâng chẳng bợn chút trần-ai!
Ba hồi chiêu mộ 1 chuông gầm sóng,
Một vũng tang thương 2 nước lộn trời.
Bể (biển) ái ngàn trùng khôn tát cạn,
Nguồn âm trăm trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực-lạc là đâu tá?
Cực-lạc là đây chín rõ mười.
CHÚ THÍCH. — 1. Là buổi sớm buổi chiều; đây nói tiếng chuông chùa buổi sớm buổi tối. — 2. Là dâu bể (biển), theo điển trong sách nói: « bể lớn biến ra ruộng dâu, rồi ruộng dâu lại biến thành bể lớn » là cho cuộc đời biến đổi bất thường; câu này tả cảnh Tây-hồ mà ngụ ý hoài cổ.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bài thơ này về thể gì? Cảnh chùa Trấn-Võ có những vẻ gì vui thú?
2. Cảm tưởng của tác-giả lúc đến chùa Trấn-Võ thế nào?
3. Tác-giả lấy những cảnh sắc gì để tả cảnh chùa?
4. Hai câu luận ý nói gì?
5. Tác-giả kết lại ý gì? Ý câu kết có hợp với cái cảm-tưởng của tác-giả đã nói trong câu thừa và các cảnh-sắc đã mô-tả trong bài thơ không?
II. Lời văn — 1. Êm ái chiều hôm: bốn chữ ấy tả cảnh gì? Nghĩa hai chữ lâng-lâng. Trần-ai: Nghĩa đen, nghĩa bóng. — Chuông gầm sóng: ý nói gì? — Nước lộn trời là thế nào? — Bể ái: Nghĩa đen là gì? Đây nói về gì? — Nghĩa chữ ngàn trùng. — Nghĩa chữ dễ trong câu thơ bài này. — Cực lạc: Nghĩa đen là gì? Đây nói ý gì?
8. — ĐỜI NGƯỜI THẤM THOẮT
Trăm năm ba vạn sáu nghìn ngày,
Dẫu có nghìn vàng khó đổi thay!
Trong núi nghìn năm cây vẫn có,
Dưới đời trăm tuổi dễ chưa ai.
Nghĩ đường danh lợi lòng thêm chán,
Thấy kẻ gươm dao ruột lại đầy.
Đắng đót ghê thay mùi tục lụy,
Bực mình theo cuội tới cung mây.
9. — BÁNH TRÔI NƯỚC
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Lớn nhỏ mặc dầu tay kẻ nặn,
Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son.
NGUYỄN-CÔNG-TRỨ 阮 公 著 (1778-1858)
Tục thường gọi là cụ Thượng Trứ, người làng Uy-viễn huyện Nghi-xuân, tỉnh Hà-tĩnh, đậu Giải-nguyên năm 1819 đời vua Gia-Long, trải thờ ba triều. Cụ có tài thao-lược, giữ chức quan văn mà đi đánh giặc mấy lần. Làm quan tới Tham-tri, bị cách chức, sau lại được khai-phục, chìm nổi đến mấy phen. Sau cáo lão về nghỉ, vui chơi cùng non nước, thọ 82 tuổi mới mất. Văn nôm cụ rất hay, có truyền lại nhiều bài thơ nôm và các bài hát nói, đến nay các ả-đào vẫn thường hát.
THAN NGHÈO
10. — CẢNH CÙNG QUẪN
Chửa chán ru mà quấy mãi đây,
Nợ nần dan díu mấy năm nay.
Mang danh tài sắc cho nên nợ,
Quen thói phong-lưu hóa phải vay.
Quân-tử lúc cùng thêm thẹn mặt,
Anh-hùng khi gấp cũng khoanh tay.
Còn trời còn đất còn non nước,
Có lẽ ta đâu mãi thế này.
11. — HỘI GIÓ MÂY
Có lẽ ta đâu mãi thế này,
Non sông lẩn-thẩn mấy thu chầy.
Đã từng tắm gội ơn mưa móc, 1
Cũng phải xênh-xang hội gió mây. 2
Hãy quyết phen này xem thử đã,
Song còn tuổi trẻ chịu chi ngay.
Xưa nay xuất, xử 3 thường hai lối,
Mãi thế rồi ta sẽ tính đây.
12. — THÚ ĐIỀN-VIÊN
Mãi thế rồi ta sẽ tính đây,
Điền-viên thú nọ vẫn xưa nay.
Giang-hồ bạn lữ câu tan-hợp,
Tùng-cúc anh em cuộc tỉnh say.
Tòa đá Khương-công đôi khóm trúc, 4
Áo xuân Nghiêm-tử một vai cày. 5
Thái-bình vũ-trụ càng thong-thả,
Chẳng lợi danh gì (chi) lại hóa hay.
13. — THÚ ẨN-DẬT
Chẳng lợi danh gì (chi) lại hóa hay,
Chẳng ai phiền lụy, chẳng ai rầy.
Ngoài vòng cương-tỏa 6 chân cao thấp,
Trong thú yên-hà 7 mặt tỉnh say.
Liếc mắt coi chơi người lớn bé,
Vểnh râu bàn những chuyện xưa nay.
Của trời trăng gió kho vô tận,
Cầm hạc 8 tiêu dao đất nước này.
CHÚ THÍCH — 1. Ơn nhà vua ví như hạt mưa hạt móc tẩm nhuần cho cây cối. — 2. Là hội lập công danh. — 3. Là ra đời hay ở ẩn. — 4. Tích cũ: Khương-công (hiệu ông Lữ-Vọng) đời nhà Chu, ngồi bàn thạch câu cá ở sông Vị. — 5. Nghiêm-tử (Nghiêm-Quang) ở đời Đông-Hán mặc áo tơi đi cày ở núi Phú-xuân. Hai ông ấy đều là những người ẩn-dật. — 6. Là dây cương và khóa, xích; nghĩa bóng là vòng danh lợi giàng buộc người ta. — 7. Là thú của người ẩn-dật. — 8. Là đàn cầm và chim hạc, chỉ cảnh thanh nhàn.
CÂU HỎI. — I Ý tưởng. — 1. Thơ này thuộc về thể gì?
2. Tóm tắt đại ý mỗi bài. Tác-giả đối với cuộc công-danh và sự ẩn-dật thế nào?
3. Xem thơ này có biết tình-cảnh và chí-hướng của tác-giả lúc bấy giờ thế nào không? Đem bài thơ này đối chiếu với lịch-sử tác-giả có thấy hợp không?
II. Lời văn. — Thú điền-viên là thú gì? — Cắt nghĩa những chữ: giang hồ, tùng cúc, câu tan hợp, cuộc tỉnh say. — Sao trăng gió lại là kho vô tận? — Mấy chữ cầm hạc tiêu-dao nghĩa gì?
2. Thơ này thuộc về lối gì? Nói phép-tắc lối thơ ấy.
DỰC-TÔN 翼 宗
Đức Dực-tôn (niên-hiệu là Tự Đức) là ông vua văn học giỏi nhất triều Nguyễn. Ngài thông minh, học rộng, ngâm vịnh rất nhiều. Ngài đặt ra Tập-hiền-viện và Khai-kinh-diên để ngự ra cùng với các quan bàn sách vở làm thơ phú. Ngài sai sử-quán soạn bộ Khâm-định Việt-sử là bộ sử lớn nhất nước ta và quyển Đại-nam-quốc-sử-diễn-ca
Ngài có một tập thơ vịnh sử bằng chữ nho (Ngự chế Việt sử tổng vịnh tập). Về văn nôm, ngài có soạn quyển Luận-ngữ diễn ca (quyển Luận-ngữ dịch ra lời ca lục bát), Thập-điều diễn ca (bài ca mười điều khuyên răn) và Tự học giải nghĩa ca (quyển sách tiếng một chữ nho chia làm loại mục và thích nghĩa ra lời ca lục-bát). Xem đó đủ biết ngài cũng lưu tâm đến quốc-văn lắm.
14. — KHÓC BẰNG-PHI
TIỂU DẪN. — Thị Bằng là một người cung-phi của vua Tự-Đức. Lúc nàng mất, ngài làm bài thơ này.
Ớ thị Bằng ơi! đã mất rồi!
Ớ tình, ớ nghĩa, ớ duyên ôi!
Mưa hè, nắng chái, oanh ăn nói,
Sớm ngõ, trưa sân, liễu đứng ngồi. 1
Đập cổ-kính 2 ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn-y 3 lại, để dành hơi.
Mối tình muốn dứt, càng thêm bận,
Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.
CHÚ THÍCH. — 1. Hai câu này tả cái dáng-điệu của nàng khi còn sống, ăn nói khéo-léo như chim oanh, đứng ngồi mềm-mại như cây liễu. — 2. Là cái gương (kiếng) cũ nàng vẫn soi. — 3. Là cái áo nát nàng mặc trước.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bài thơ này về thể gì? Đức Tự-Đức nhân việc gì mà làm bài thơ này và cốt tả ý gì?
2. Tình, nghĩa, duyên: sao lại dùng ba chữ ấy mà than? Thử giải-thích ba mối liên-lạc ấy.
3. Hai câu thực ngài tả gì? Có phải một câu nói về ngôn và một câu nói về dung không?
4. Hai câu luận ngài nói ý gì? Cách tả tình trong hai câu thơ ấy có khéo không?
5. Ý câu kết có tự-nhiên không?
II. Lời văn. — 1. Chim oanh cây liễu có cái gì đặc-sắc nhất? Nói công-dụng hai chữ ấy trong văn ta và văn Tầu. — Nghĩa chữ dứt, chữ bận trong bài này? Hai chữ ấy có ăn với chữ mối tình ở trên không?
2. Nhặt (lặt) mấy câu hoặc mấy chữ trong bài này mà chứng giải rằng bài thơ này có giọng thống-thiết.
BÀ HUYỆN THANH-QUAN
Tính danh phu-nhân là gì không rõ. Là con ông nho Dương, người làng Nghi-tàm, huyện Hoàn-long (thuộc tỉnh Hà-đông bây giờ); lấy ông Lưu-Nghi, người làng Nguyệt-áng, huyện Thanh-trì (cũng tỉnh ấy), đậu cử-nhân khoa tân-tỵ (1821) đời Minh-Mệnh, làm tri-huyện huyện Thanh-Quan tức là phủ Thái-ninh (Thái-bình) bây giờ, nên thường gọi là Bà Huyện Thanh-Quan. Sau phu-nhân vào làm « Cung trung giáo tập », vua Tự-Đức có ban thơ chữ và thơ nôm, phu-nhân đều họa được, vua quí trọng lắm. Còn truyền lại nhiều bài thơ nôm của phu-nhân rất hay.
15. — QUA ĐÈO-NGANG
Bước tới Đèo Ngang bóng đã (xế) tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc-quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia-gia.
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
GIẢNG NGHĨA. — Đèo Ngang thuộc về dặng núi Hoành-sơn tức là một nhánh núi của dẫy Trường-sơn trong Trung-kỳ chạy thẳng ra bể làm giới hạn cho hai tỉnh Hà-tĩnh và Quảng-bình. Núi ấy chắn ngang đường Thiên-lý tự ngoài Bắc vào trong Nam. Xưa kia khách bộ-hành đi đến đấy tất phải trèo qua đèo ấy.
Đại phàm con người ta đứng trước một cái cảnh-tượng vũ-hùng của tạo-hóa, trong lòng tất có cảm-xúc. Chốn đèo Ngang này không những là một nơi phong-cảnh đẹp, lại là một nơi rất có liên-lạc với lịch-sử nước nhà, nên bà huyện Thanh Quan là một người có văn học đi qua đấy ngắm cảnh ấy mà cảm-tình chan chứa trong lòng, mới thổ-lộ ra lời thơ âm-thầm tao-nhã, trong bài thơ bà vừa tả cảnh-tượng chỗ đèo Ngang, vừa giãi bày mối cảm-xúc của mình, thuộc về thể thơ tức-cảnh mà ngụ-ý cảm-hoài.
Câu phá bà nói rõ bà đến chỗ đèo Ngang về buổi chiều (bóng đã tà là bóng mặt trời về buổi chiều). Phép tả cảnh không những phải nói rõ cảnh ấy ở chỗ nào mà nhiều khi lại phải nói mình ngắm cảnh ấy về lúc nào, vì cũng một phong-cảnh mà cái cảnh mỗi mùa mỗi khác, mỗi lúc mỗi khác, nên cảm-xúc đến người ta cũng không giống nhau. Chỗ đèo Ngang đã là cảnh núi non mà lại gặp buổi chiều, thường có vẻ thê-lương, làm cho kẻ lữ-thứ dễ sinh lòng cảm-động.
Nay cái cảnh-sắc chỗ ấy thế nào? Xem câu thừa:
Cỏ cây chen đá lá chen hoa,
thì biết cảnh ấy cũng không phải là cảnh đá chọi cây cằn, tiêu-điều thảm-đạm. Có núi non nhưng cũng có cây cỏ hoa lá, đủ làm cho vui mắt người ta mà không đến nỗi làm cho người ta sợ hãi. Nên nhận âm điệu câu thơ này: hai chữ chen láy đi láy lại với hai chữ đá lá đồng âm với nhau làm cho thanh-hưởng câu thơ rất là êm đềm réo rắt.
Hai câu thực bà chọn hai cái cảnh-tượng ở chốn ấy mà mô tả ra: một bên thì có mấy người kiếm củi lom-khom ở dưới núi, một bên thì có mấy cái nhà ở lác đác bên con sông, thật là hợp với cái cảnh sắc đã tả trong câu thừa đề, vì cảnh tượng không tiêu điều lắm nên có nhà ở có người đi.
Đứng trước cảnh tượng-ấy thì mối cảm-tình của bà thế nào? Xem hai câu luận thì ta biết. Cảnh vật thường cảm-xúc lòng người; bà nghe tiếng quốc kêu mà bà sinh lòng nhớ nước, (chữ quốc vừa là tên một giống chim vừa nghĩa là nước), nghe tiếng con gia kêu mà bà sinh lòng nhớ nhà (chữ gia vừa là tên một giống chim vừa nghĩa là nhà).
Rồi bà kết lại hai câu ý nói rằng: đứng giữa cảnh vừa trời, vừa nước, vừa non, mà thui-thủi một thân không ai trò chuyện, nỗi lòng chan chứa, một mình mình biết, một mình mình hay.
Bài thơ này thiệt là một bức tranh tuyệt-diệu hình-dung được cả cái ngoại-cảnh của tạo-hóa, cả cái nội-cảnh của tâm-giới mà lời tao-nhã giọng âm-thầm. Khéo nhất là suốt trong bài thơ bà không phải dùng một điển-tích nào, một chữ nho nào mà lời vẫn chải-chuốt, thiệt là một bài thơ nôm hiếm có vậy.
16. — THĂNG-LONG THÀNH HOÀI CỔ
Tạo-hóa gây chi cuộc hí-trường, 1
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương; 2
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu-đài bóng tịch-dương. 3
Đá vẫn bền (trơ) gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang-thương. 4
Ngàn năm gương cũ soi kim-cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn-trường!
CHÚ THÍCH. — 1. Là giạp tuồng. Cuộc đời cũng như cái giạp tuồng biến đổi luôn luôn. — 2. Bao nhiêu lần sao mọc sương sa, nghĩa là bao nhiêu ngày tháng. — 3. Xưa là lối xe ngựa mà nay chỉ có cỏ thu; xưa là lâu đài mà nay chỉ có bóng mặt trời buổi chiều — 4. Đá vẫn trơ trơ trải mấy năm tháng cứ bền gan mãi. Nước gờn-gợn như cau mặt về nỗi sự đời thay đổi bể dâu.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bài thơ này về thể gì? Đại ý nói gì? Thành Thăng-long đối với lịch-sử nước ta có quan hệ thế nào?
2. Hai câu đề tác-giả có ý than thở về nỗi gì? — Tác-giả lấy những cảnh gì để chứng cuộc tang thương biến đổi? — Hai câu luận ngụ ý gì? — Trông cảnh-tượng thành Thăng-long, tác-giả tư-tưởng cảm-xúc thế nào?
II. Lời văn. — 1 Tại sao lại ví cuộc đời như hí trường? Xe ngựa đây tả cảnh-tượng gì? Lâu-đài đây là nói những lâu đài nào? Bền gan với cau mặt, đem nói về đá và nước: cách dùng chữ thế gọi là gì? Gương cũ là những gương nào? Soi kim cổ nghĩa gì? Cắt nghĩa hai chữ đoạn-trường.
2. Bài thơ này làm theo luật bằng hay luật trắc? Phân biệt hai luật ấy. Xét xem các vần trong bài thơ này có hiệp với nhau không?
17. — TRỜI HÔM NHỚ NHÀ
Chiều trời bảng-lảng bóng hoàng-hôn, 1
Tiếng ốc xa đưa vẳng (lẩn) trống đồn.
Gác mái (lưới), ngư-ông về viễn-phố, 2
Gõ sừng, mục-tử lại cô-thôn. 3
Ngàn mai gió cuốn, chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa, khách bước giồn.
Kẻ chốn chương-đài 4, người lữ-thứ, 5
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn? 6
CHÚ THÍCH. — 1. Buổi chiều tối. — 2. Người đánh cá gác mái chèo về cái bến đằng xa. — 3. Kẻ chăn trâu gõ sừng trâu hát trở về cái xóm lẻ đằng kia. — 4. Điển cũ: xưa có một người đi vắng xa gửi bài thơ về thăm người tình-nhân rằng: « Cái cây liễu chương-đài xanh xanh ngày nay có còn không? » Kẻ chốn chương-đài là nói người ở nhà. — 5. Người đi đường. — 6. Nghĩa đen là lạnh ấm, nghĩa bóng là chuyện-trò.
18. — CẢNH THU
Thánh-thót tầu tiêu 1 mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ. 2
Xanh-om cổ thụ tròn-xoe tán,
Trắng-xóa tràng-giang phẳng-lặng tờ.
Bầu 3 giốc giang sơn say chấp rượu,
Túi 4 men phong nguyệt 5 nặng vì thơ.
Ô hay cảnh cũng ưa người nhỉ!
Ai thấy ai mà chẳng ngẩn-ngơ?
CHÚ THÍCH. — 1. Là tầu lá chuối tiêu. — 2. Cảnh tiêu-điều buồn bã. — 3. Là bầu rượu. — 4. Là túi thơ. — 5. Là gió trăng; hai chữ ấy tả cái cách phong-lưu của các thi-nhân tao-khách. Xem câu truyện Kiều: « Đề huề lưng túi gió trăng ».
NGUYỄN-KHUYẾN 阮 勸
Trước cụ tên là Nguyễn-văn-Thắng sau mới đổi là Khuyến, thường gọi là cụ Tam-Nguyên Yên-đổ, vì cụ người làng Yên-đổ huyện Nam-sang, tỉnh Hà-nam, năm 1871 đời vua Tự Đức thứ 24, thi đậu Tam-nguyên, làm quan đến chức Sơn-Hưng-Tuyên Tổng-đốc, sau vì đau mắt nặng, cáo quan về nhà dạy học.
Cụ là một bực hay chữ đã có tiếng, mà văn nôm cũng tài lắm. Trong mấy năm về trí sĩ, ngâm vịnh thơ ca rất nhiều. Có một tập thơ đề là « Quế-Sơn thi-tập » (Quế-Sơn là tên hiệu của cụ). Văn nôm của cụ viết cũng nhiều lối (thơ, ca, hát nói, câu đối v. v.) và đủ giọng (tả cảnh, tả tình, châm biếm, bỡn cợt v. v.)
19. — THU ĐIẾU
Ao thu lạnh-lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền[34] câu bé tẻo-teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Từng mây lơ-lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh-co khách vắng teo.
Tựa gối ôm (buông) cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
CÂU HỎI — I. Ý tưởng — 1. Bài thơ này về thể gì?
2. Trong bài này những câu nào tả cảnh mùa thu và những câu nào nói việc câu cá? Hai câu kết có lý-thú gì?
II. Lời văn. — 1. Những tiếng bé tẻo-teo, vắng teo đối với trí tưởng-tượng của người ta và thanh-âm câu thơ có hiệu-lực gì?
20. — THU ẨM
Năm gian nhà cỏ thấp le-te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập-lòe.
Lưng giậu phất-phơ mầu khói nhạt[35],
Làn ao lóng-lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy,
Độ dăm ba chén đã say nhè.
21. — THU-VỊNH
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ-phơ gió hắt-hiu.
Nước biếc trông như từng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào.
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn[36] với ông Đào. 1.
CHÚ THÍCH. — 1. Tức là ông Đào-Tiềm 陶 潛, một tay hay thơ có tiếng đời nhà Tấn bên Tàu.
22. — ÔNG PHỖNG ĐÁ
Ông đứng làm chi đấy hỡi ông?
Trơ trơ như đá vững như đồng.
Đêm ngày coi sóc[37] cho ai đó?
Non nước vơi đầy có biết không?
23. — CHỢ TRỜI CHÙA THẦY
TIỂU DẪN. — Chùa Thầy tên chữ là chùa Thiên-Phúc ở núi Sài-sơn phủ Quốc-oai tỉnh Sơn-tây, thờ ông Từ-đạo-Hạnh, cũng là một nơi thắng-cảnh ở xứ Bắc-kỳ, ở đấy có một nơi truyền gọi là Chợ Trời.
Hóa-công xây đắp biết bao đời,
Nọ cảnh Sài-sơn có chợ trời.
Buổi sớm gió tuôn, trưa nắng giãi,
Ban chiều mây họp, tối trăng chơi.
Bày hàng hoa quả[38] quanh năm đủ,
Giãi thẻ giang-sơn bốn mặt ngồi.
Bán lợi mua danh nào những kẻ,
Thử lên mặc cả một vài lời.
24. — BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ
Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà chửa nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, giầu (trầu) không có,
Bác đến chơi đây ta với ta.
25. — CHUNG-THÂN THÚY-KIỀU
Kiều-nhi giấc mộng bật (khéo) như cười,
Tỉnh dậy xuân xanh quá nửa rồi.
Số kiếp bởi đâu mà lận-đận?
Sắc tài cho (chi) lắm cũng lôi thôi!
Cành thoa vườn Thúy 1 duyên còn bén,
Ngọn nước sông Tiền 2 nợ chửa xuôi.
Không trách chàng Kim đeo-đẳng mãi,
Khăng-khăng vớt lấy[39] một phần đuôi.
CHÚ THÍCH. — 1. Vườn Thúy là « Lãm-Thúy viên » chỗ Thúy-Kiều Kim-Trọng gặp nhau lần đầu tiên. — 2. Sông Tiền là Sông Tiền-đường, nơi Thúy-Kiều trẫm mình toan tự tận.
TRẦN-TẾ-XƯƠNG 陳 濟 昌
Ông người làng Vị-xuyên tỉnh Nam-định, thường gọi là ông Tú-Xương, Đậu tú-tài sớm, nổi tiếng là một người hay chữ mà thi mãi không đậu cử-nhân. Ở nhà dạy học, ngâm vịnh rất nhiều. Ông sở-trường nhất về lối văn phúng-thế, bài nào cũng có giọng chua cay mai-mỉa; lại có tài xuất khẩu thành chương nên nhiều bài thơ văn của ông rất tự nhiên mà hay.
26. — CHÚC-TẾT
I
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau,
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Phen này ông quyết đi buôn cối,[40]
Thiên-hạ bao nhiêu đứa giã giầu (trầu).
II
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu,
Trăm, nghìn, vạn, mớ để vào đâu?
Phen này ắt hẳn gà ăn bạc,
Đồng rụng đồng rơi[41] lọ phải cầu.
III
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang,
Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán, vừa la, cũng đắt hàng.
IV
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con,
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp người đông đúc,
Bồng bế nhau lên nó ở non.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng — 1. Bài này về thể thơ gì?
2. Câu chúc tết của ta thường thế nào? Tác-giả mỉa cách người thường chúc tết chua cay thế nào?
II. Lời văn. — 1. Cối đây là cối gì? — Gà ăn bạc ý nói gì? — Sao tác-giả lại nói đi buôn lọng? — Được vuông tròn nghĩa gì? Câu cuối cùng ý nói gì?
2. Giọng văn bài này có tự-nhiên không? Hơi văn có lưu-loát không?
3. Lối thơ 4 câu gọi là gì? Cách đặt câu hạ vần về lối thơ ấy thế nào?
Chú thích của bản in
- Lạnh lẽo. ↩
- Tập này đã đăng trong Nam-phong tạp-chí. ↩
- Om sòm. ↩
- Tập này ông Đông-Châu Nguyễn-hữu-Tiến đã sưu tập và dẫn sự-tích in thành quyển “Giai-nhân di-mặc”. ↩
- Câu 3, 4 có bản chép: Đất rồ mai giải xanh um cỏ; Đá chởm gan gà mốc thếch rêu. ↩
- Ghe — ↩
- Lạt ↩
- Mắc cở. — ↩
- Có bản chép: Đêm ngày gìn giữ..... ↩
- Trái. — ↩
- Có bản chép: Khăng khăng bắt vớt.... ↩
- Ống ngoáy. — ↩
- Rớt. — ↩