Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm
65. — ĐỘNG HƯƠNG-TÍCH
Chương 5 / 16
65. — ĐỘNG HƯƠNG-TÍCH
TIỂU DẪN. — Hương-tích-sơn (thường gọi là Chùa-Hương) là một trái núi ở về địa-phận phủ Mỹ-đức, tỉnh Hà-đông. Dưới núi có một cái động, thờ đức Phật-Bà Quan-Âm, năm năm cứ đến hồi tháng hai tháng ba, thiện-nam tín-nữ, kẻ hành hương, người lãm thắng, trẩy chùa rất đông. Xem hai bài Trẩy chùa Hương và Động Hương-Tích ở dưới, trang 195-197.
Thú thiên-nhiên đâu bằng Hương-Tích,
Đủ thanh tao cảnh lịch trăm chiều!
Người thời vui sô, nạp, ngư, tiều 1,
Kẻ thời thích yên, hà, phong, nguyệt 2,
Kho vô-tận những thế nào chưa biết,
Thú hữu tình sơn thủy thực là vui!
Khi đăng lâm 3 có lối lên trời,
Mây dưới gót đủ xanh, đen, vàng, đỏ, trắng!
Lúc vào động ngắm sơn-quynh thạch-đắng 4,
Bút thần ngoan chưa khéo vẽ cho cùng.
Riêng một bầu sắc sắc không không 5,
Khắp mọi vẻ kỳ kỳ quái quái!
Thơ rằng: Động chủ hữu linh thần bút tại,
峒 主 有 靈 神 筆 在
Hóa nhi vô ý tự nhiên công 6!
化 兒 無 意 自 然 功
Khách trèo non ngoảnh lại mà trông,
Lòng mến cảnh dời chân đi hóa đứng!
Chén vân dịch 7 nghiêng bầu uống gắng;
Bức thơ tiên mở túi liền đề,
Giải-oan 8 ra, tẩy tục lại thêm hay,
Thiên-trù 9 tới, vong cơ 10 càng thấy khỏe!
Làng thi tửu còn đâu hơn đấy nhỉ?
Chẳng Bồng-lai Nhược-thủy 11 cũng thần tiên!
Rõ ràng « Đệ-nhất Nam-thiên 12 »,
Mang đi sợ để thần tiên mất lòng!
Thôi thì để đấy chơi chung.
Dương-Khuê[59]
CHÚ THÍCH. — 1. Người cắt cỏ, người đi săn, người đánh cá, người kiếm củi. — 2. Là khói, mây, gió, trăng: chỉ cảnh-sắc thiên-nhiên. — 3. Là lên tới núi. — 4. Là cửa núi, bậc đá. — 5. Chữ trong kinh Phật: Sắc: cõi có hình, không: cõi vô hình, phép Phật vượt qua cõi có hình đến cõi vô hình. — 6. Nghĩa là: Chủ động có thiêng, nét bút thần vẫn nguyên; trẻ tạo-hóa không cố ý, tự-nhiên mà thấy khéo. — 7. Một thứ rượu tiên. — 8. Lối vào động có một cái suối nước trong tự trong đá chảy ra, gọi là « suối Giải-oan ». — 9. Thiên-trù (bếp trời) là tên chữ một ngôi chùa làm gần động, thường gọi là chùa ngoài, đến đấy rồi mới đến động. — 10. Quên đói: có bếp nên không sợ đói. — 11. Đảo Bồng-lai, sông Nhược-thủy, là nơi tiên cảnh. — 12. Chúa Trịnh xưa khắc ở cửa động năm chữ: « Nam-thiên đệ-nhất động » động thứ nhất ở trời Nam.
66. — HƯƠNG-SƠN PHONG-CẢNH CA
Hựu hà tất Bồng-châu Doanh-hải 1,
Tiểu sơn-lâm mà có đại kỳ-quan 2.
Người tai mắt kẻ nhân gian,
Ai chẳng đến Hương-sơn thì cũng tục.
Kể từ lúc bước lên đò Đục 3,
Liếc mắt trông đà mãn mục vân sơn 4.
Lần theo một giải thanh tuyền,
Nào ngư-phủ nhập Đào-nguyên 5 đâu cũng thế.
Mặt trời gác bóng cây xê-xế.
Tản vân in thủy để rành-rành.
Chim trời mấy chiếc lênh-đênh,
Cây mai, rụng rập-rềnh năm bảy lá.
Chú tiều-tử ruổi rong bến đá,
Lũ ngư-ông quảy cá qua cầu.
Cỏ cây xanh ngắt một mầu,
Núi trước núi sau mình ở giữa.
Đoàn mục-thụ 6 bóng chiều vừa ngả,
Dắt trâu về lả-tả đầu ghềnh.
Trong hang sâu thăm-thẳm một mình,
Thế mới biết « sơn thủy hữu tình » là chốn ấy.
Dừng chèo lại, càng trông càng thấy:
Núi mờ xanh từng dẫy ngất non thiêng.
Kìa núi Gà, núi Tượng, núi Trống, núi Chiêng 7,
Chưa qua núi lại đò nghiêng bên cạnh núi.
Thoạt trông thấy biết đâu mà hỏi,
Cầu đăng tiên nọ lối đăng doanh,
Gót (chân) in đá biếc xanh xanh,
Lòng trần tục bỗng không thanh-thảnh nhẹ.
Cao chót-vót một tòa cổ-sái 8,
Ấy chi chi nọ trái Thiên-trù 9.
Trăng trong gió mát một bầu,
Ngắm phong cảnh bồng-hồ 10 đâu đó tá.
Động-đào đã giang tay mở khóa,
Càng nhìn lâu càng rõ càng xinh.
Cây xanh xanh mà lá cũng xanh xanh,
Dưới (xuống) một núi lại trèo quanh một núi.
Nước công đức trong ngần không chút bụi,
Đường lên tiên đây là suối Giải-oan 11.
Thảnh-thơi bạch thạch thanh tuyền,
Thế mới biết thiên tiên là diệu thú.[60]
Thơ rằng: Bộc bố khê lưu sơn diệc (dục) vũ,
瀑 布 溪 流 山 亦 (欲) 舞
Nhân thanh cốc ứng thạch năng ngôn 12.
人 聲 谷 應 石 能 言
Trông lên trời nhỏ con con,
Mình ta đã lon-chon trên đỉnh núi!
Đứng núi nọ tưởng núi kia là cuối,
Bước chân lên đường núi vẫn không cùng.
Trèo qua một dịp chấn-song 13,
Đấy mới biết (thực) quần phong chi đệ nhất 14.
Niệm nam-vô-a-di-đà-phật,
Mảng vui chơi quên mất (phất) đường xa.
Quả mơ non với nước mơ (mai) già 15,
Trong chân cảnh nhìn (ngoài) ra chân vị.
Trong bụi rậm đàn chim thủ-thỉ,
Dưới rừng xanh mấy chị tìm mơ;
Lá vàng man-mác ngẩn-ngơ,
Tam quan đã tờ mờ đâu đó phải.
Chân bước đi mặt còn ngỏanh lại,
Ước gì đường dài mãi thì hay.
Nào ngờ tiên lĩnh trời xây,
Lối vào đã vén mây trông rõ.
Vạn trạng thiên hình vô số,
Vẫn hãy còn giấc ngủ lơ-mơ.
Xanh như mây mà đá trơ trơ,
Trên vách phấn tờ-mờ treo giá áo 16.
Này « kho tiền », này « kho bạc » này « buồng tầm » này « lẫm gạo » 17,
Phật Quan-Âm 18 thiên-tạo một tòa.
Bốn bề như gấm như hoa,
Đố ai lấy nhân-công mà vẽ được?
Dưới cầu bạch trong veo dòng nước,
Núi bình-phong đứng trước phật-đình.
Chim gõ mõ, vượn tụng kinh,
Giục lòng khách năm canh chải-chuốt[61].
Dục đáo Hương-sơn bất khả ước 19,
Khen cho ai biết trước cũng là tiên.
Ai ơi! chẳng đến cũng hèn!
Vũ-phạm-Hàm
Ông người làng Đốn-thư, huyện Thanh-oai, tỉnh Hà-đông, đậu Thám-hoa niên-hiệu Thành-Thái, mới mất được mấy năm nay.
CHÚ THÍCH. — 1. Là những chốn tiên-cảnh, thường nói trong sách Tàu. — 2. Hai câu này ý nói: cứ gì phải cầu kỳ những chốn thần tiên ở đâu xa, ngay chỗ động Hương-tích ở đất nước nhà là nơi rừng núi nhỏ mà phong cảnh đẹp lạ. — 3. Tức là bến Đục-khê, lên đấy rồi xuống đò suối vào chùa. — 4. Đầy mắt những mây cùng núi. — 5. Tích cũ: Cuối đời Tấn bên Tàu có một người đi đánh cá đi vào một cái suối hoa-đào (đào-nguyên), vào mãi hóa ra chốn động tiên: đây ý nói phong-cảnh đẹp như chốn động tiên. — 6. Bọn chăn trâu. — 7. Người ta nhân các quả (trái) núi hơi phảng-phất như hình con gà, con voi, cái trống, cái chiêng, mà đặt các tên ấy. — 8. Là chốn phong-cảnh sầm-uất có tiếng đã lâu. — 9. Xem câu chú-thích (9) ở bài trên. — 10. Là chốn đẹp-đẽ như nơi tiên ở. — 11. Xem câu chú-thích (8) ở bài trên. — 12. Nghĩa là: cái thác nước tự trong khe chảy ra, trông hình như núi cũng múa; tiếng người nói trong hang vang lại, tưởng chừng như đá biết nói. — 13. Lối vào động có một chỗ đường cao lắm mà giốc lắm, gọi là chấn song. — 14. Quả cao nhất trong các quả núi. — 15. Chỗ chùa Hương sản mơ, khách trẩy chùa thường ăn quả mơ và uống nước nấu gỗ mơ. — 16. « Giá áo » hay « mắc áo » là tên người ta thường gọi những thạch-nhũ dủ xuống ở trong động. — 17. Người ta theo hình dáng các tảng đá ở trong động mà đặt các tên này. — 18. Động Hương-tích tục truyền là chỗ hóa thân của đức Phật-Bà Quan-Âm. — 19. 欲 到 香 山 不 可 約 muốn đến chùa Hương không thể ước trước được.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bài này tác-giả cốt tả cảnh gì? Có thể chia ra làm mấy đoạn? Tác-giả theo thứ tự nào để tả các phong-cảnh vào chùa Hương?
2. Phong-cảnh chùa Hương có vẻ gì đặc-sắc?
3. Tự bến đò Đục đến Chùa-ngoài phong-cảnh thế nào? — Các quả núi có tiếng là những quả nào? Tại sao người ta đặt tên các quả núi thế? Sự đặt tên ấy đối với trí tưởng-tượng của người ta có ảnh-hưởng gì không? — Phong-cảnh chỗ Chùa-ngoài thế nào?
4. Tự Chùa-ngoài vào Chùa-trong có những nơi nào có tiếng? Lối vào Chùa-trong có khó đi không?
5. Cảnh-tượng trong động thế nào?
6. Trong bài này tác-giả có ý ví cảnh chùa Hương như cảnh gì? Cảm-tưởng của tác-giả khi trẩy chùa thế nào?
Lời văn — 1. Người tai mắt: đây nghĩa là gì? Cách dùng chữ thế gọi là gì? — Tục: nghĩa ở đây. — Mặt trời gác bóng: cắt nghĩa rõ câu ấy — Tản vân, thủy để, tiều-tử, ngư-ông: nghĩa. — Núi trước núi sau... tại sao vậy? — Lả-tả: ý nói gì? — Sơn thủy hữu tình: nghĩa. — Chưa qua núi lại... tại sao vậy? — Đăng tiên, đăng doanh: nghĩa; tại sao đặt những tên ấy? — Động đào: nghĩa đen, nghĩa bóng. — Giang tay mở khóa: ý nói gì? — Nước công đức: tại sao gọi thế? — Đứng núi nọ tưởng... vẫn không cùng: tại sao vậy. — Chân cảnh, chân vị: nghĩa. — Tiên lĩnh: nghĩa đen; đây chỉ gì? — Giấc ngủ lơ-mơ: ý nói gì? — Như gấm như hoa: ý nói gì? — Chim gõ mõ, vượn tụng kinh: đây nói việc gì? — Dục đáo Hương-sơn....: nghĩa; tại sao vạy?
2. Nhặt những chữ tác-giả dùng để sánh cảnh chùa Hương với cảnh tiên. Cách so sánh ấy có thích hợp không? Tại sao? Giọng văn bài này có đặc-sắc gì? Nhặt những tiếng rắp đôi làm cho âm điệu bài ca này được êm đềm và nói qua về công dụng những tiếng ấy trong văn ta thứ nhất về việc hình-dung các cảnh-sắc.
3. Bài ca này về thể nào? Xét qua về cách đặt câu hạ vần của bài này.
TRUYỆN, NGÂM
Các truyện nôm của ta làm theo thể lục-bát, hoặc biến thể lục-bát; còn các ngâm-khúc làm theo thể song-thất lục-bát.
I. Thể lục-bát. — Lục-bát nghĩa đen là sáu tám. Phép đặt câu theo thể này cứ lần lượt một câu sáu chữ lại một câu tám chữ, muốn đặt dài bao nhiêu cũng được.
Phép hạ vần thì cứ chữ cuối câu trên phải vần với chữ sáu câu dưới; bốn câu có ba vần thành ra một đoạn nhỏ.
Âm-điệu thì bắt đầu hai tiếng bằng, rồi lần lượt đến hai tiếng trắc lại đến hai tiếng bằng, v. v. Trừ có chữ cuối câu tám đáng trắc lại đặt bằng để hiệp theo vần bằng. Còn chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm theo phép « nhất, tam, ngũ bất luận » không cần phải theo đúng điệu.
Trích lục mấy câu truyện Kiều làm mẫu:
Trăm năm trong cõi người ta (v. 1)
Chữ tài chữ mệnh khéo là (v. 1) ghét nhau (v. 2)
Trải qua một cuộc bể dâu (v. 2)
Những điều trông thấy mà đau (v. 2) đớn lòng (v. 3)
II. Thể song-thất lục-bát (hay lục-bát gián-thất). — Cách đặt câu cứ hai câu bảy chữ rồi đến một câu sáu và một câu tám, cứ thế mà đặt dài mãi ra.
Cách hiệp vận thì chữ cuối câu bảy trên vần với chữ năm câu bảy dưới, rồi chữ cuối câu bảy dưới vần với chữ cuối câu sáu; chữ cuối câu sáu lại vần với chữ sáu câu tám (theo như thể lục-bát.) Bốn câu có bốn vần thành một đoạn nhỏ. Đặt sang đoạn sau thì chữ cuối câu tám ở đoạn trên lại bắt vần với chữ năm câu bảy ở dưới.
Âm điệu hai câu bảy thì phải làm sao cho chữ cuối câu bảy trên là tiếng trắc mà chữ cuối câu bảy dưới là tiếng bằng. Đại loại thường câu bảy trên hai tiếng 2, 3 đặt trắc trắc rồi đến hai tiếng bằng để hạ xuống vần trắc; đến câu bảy dưới hai tiếng 2, 3 lại đặt bằng bằng, rồi đến 2 tiếng trắc để hạ xuống vần bằng.
Trích lục mấy câu Cung-Oán làm mẫu:
Chải vách quế gió vàng hiu hắt (v. t. 1),
Mảnh vũ y lạnh ngắt (v. t. 1) như đồng (v. b. 2)
Oán chi những khách tiêu phòng (v. b. 2),
Mà đem phận bạc nằm trong (v. b. 2) má đào (v. b. 3).
Duyên đã may cớ sao (v. b. 1) lại rủi (v. t. 2),
Nghĩ nguồn cơn dở dói (v. t. 2) sao đang (v. b. 3).
Vì đâu nên nỗi dở dang (v. b. 3),
Nghĩ mình mình lại nên thương (v. b. 3) nỗi mình (v. b. 4).
III. Biến-thể lục-bát. — Thể này tức cũng là thể lục-bát hơi thay đổi một chút, vì thuỷnh-thoảng chữ cuối câu sáu lại vần với chữ thứ tư (chứ không phải chữ thứ sáu) câu tám. Tức như thể truyện Quan-Âm, Phạm-Công, v. v.
Trích lục mấy câu Quan-Âm làm mẫu:
Này sự con vua thủy-thần,
Thái-tử đi tuần đội lốt lý ngư.
Đi nhầm mắc lưới vẩn-vơ,
Chẳng chậm một giờ đao thớt phải sa.
NGUYỄN-TRÃI 阮 廌 (1380-1442)
Ông người làng Nhị-khê, huyện Thượng-phúc, tỉnh Hà-đông, ở đời nhà Trần, đậu Thái-học-sinh. Sau nhân nhà Minh sang chiếm lấy nước ta, vua Lê Thái-tổ khởi nghĩa, ông bèn đi theo vua Lê; trong mười năm bình định, bày các mưu hoạch, giúp việc từ-cáo, thiệt là một người khai quốc công-thần đệ nhất, sau vua Thái-tổ cho ông làm chức hành-khiển (thủ-tướng). Ông mất năm 1442.
Ông không những là một ông tướng giỏi, lại là một ngày nhà đại văn-sĩ ở nước ta. Khi còn đương đánh dẹp, một tay ông thảo các từ-cáo ở trong quân, sau họp lại thành một tập gọi là Quân-trung từ-mệnh. Khi đã bình định rồi, ông làm bài Bình-Ngô đại-cáo để bá cáo việc dẹp xong giặc Minh cho thiên-hạ biết. Ông lại viết quyển An-nam vũ-cống là một quyển địa-dư-chí nước Nam, viết theo lối cổ văn như bài Vũ-Cống ở trong kinh Thư.
Về thơ văn chữ nôm thì còn truyền tụng lại bài thơ ông đọc cho Thị-Lộ và quyển Gia-huấn ca.
Ông lại viết nhiều bài thơ văn bằng chữ nho sau họp lại thành tập: Ức-trai toàn-tập (Ức-trai là tên hiệu của ông).
GIA-HUẤN CA
67. — DẠY CON Ở CHO CÓ ĐỨC
Lấy điều ăn ở dạy con,
Dẫu mà gặp tiết nước non xoay vần.
Ở cho có đức có nhân,
Mới mong đời trị được ăn lộc trời.
Thương người tất-tả ngược xuôi,
Thương người lỡ bước, thương người bơ-vơ.
Thương người ôm dắt trẻ thơ,
Thương người tuổi tác già nua bần hàn.
Thương người cô quả cô đơn,
Thương người đói rách lầm than kêu đường.
Thấy ai đói rách thời thương,
Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn.
Thương người như thể thương thân,
Người ta phải bước khó khăn đến nhà.
Đồng tiền bát gạo mang ra,
Rằng đây cần kiệm gọi là làm duyên.
May ta ở chốn bình yên,
Còn người tàn phá chẳng nên cầm lòng.
Tiếng rằng ngày đói tháng đông,
Thương người bớt miệng bớt lòng mà cho.
Miếng khi đói, gói khi no,
Của tuy tơ tóc, nghĩa so nghìn trùng.
Của là muôn sự của chung,
Sống không thác lại tay không có gì.
Ở sao cho có nhân nghì,
Thơm danh vả lại làm bia miệng người.
Hiền lành lấy tiếng với đời,
Lòng người yêu giấu là trời độ ta.
Tai ương hoạn nạn đều qua,
Bụi trần rũ sạch thật là từ đây.
Vàng tuy trời chẳng trao tay,
Bình an hai chữ xem tầy mấy mươi.
Mai sau bạc chín tiền mười,
Sống lâu ăn mãi của trời về sau.
CÂU HỎI. — I. Ý-tưởng. — Trong bài này tác-giả khuyên con điều gì? — Chia bài này ra từng đoạn và tóm đại ý mỗi đoạn. — Cứ ý tác-giả tại sao ta nên ở nhân-đức? Có phải ý tác-giả cũng hợp với câu trong sách nho « Thiện giả thiện báo » không?
II. Lời văn. — 1 Tất-tả bơ-vơ: nghĩa là gì? — Làm duyên: ý nói gì? — Cầm lòng: nghĩa. — Bớt miệng bớt lòng: ý nói gì? — Miếng khi đói, gói khi no: cắt nghĩa câu phương-ngôn ấy. — Giải nghĩa hai câu 23, 24. — Trời độ ta: nghĩa chữ độ. — Bụi trần: nghĩa đen chữ trần; có phải hai chữ ấy trùng ý nhau không? Lấy mấy cái tỉ-dụ mà chứng dẫn rằng trong tiếng ta thường có những thành-ngữ như vậy. — Tầy: nghĩa.
2. Trong bài này có chữ gì hay lắp đi lắp lại? Tại sao?
68. — BỔN-PHẬN CON GÁI
Phận con gái ở cùng cha mẹ,
Lòng phải chăm học khéo học khôn.
Một mai xuất giá hồi môn,
Phận bồ-liễu giá trong như ngọc.
Khéo là khéo bánh trong bánh lọc,
Lại ngoan nghề dệt vóc may mền.
Khôn là khôn lẽ phải đường tin,
Lại trọn đạo nâng khăn sửa túi.
Khôn chẳng tưởng mưu lừa chước dối,
Khéo chẳng khoe vẻ lịch chiều trai.
Xưa nay hầu dễ mấy người,
Miệng khôn tay khéo cho ai được nhờ.
Phận làm gái này nhời giáo khuyến,
Lắng tai nghe cổ-truyện mới nên.
Hãy xem xưa những bực dâu hiền,
Kiêm tứ-đức: dong, công, ngôn, hạnh.
Công, là đủ mùi sôi thức bánh,
Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim.
Dong, là nét mặt ngọc trang nghiêm,
Không tha-thướt không chiều lả-tả.
Ngôn, là dạy trình, thưa, vâng, dạ.
Hạnh, là đường ngay thảo kính tín.
Xưa nay mấy kẻ dâu hiền,
Dong, công, ngôn, hạnh là tiên phàm-trần.
Phận con gái ở nhà thi-lễ,
Lắng tai nghe truyện kể tam-cương,
Dẫu ái ân cùng chiếu cùng giường,
Đạo chồng sánh quân-thân chi đạo.
Làm tôi con chỉ trung chỉ hiếu,
Làm dâu thời chỉ kính mới nên.
Chớ khoe-khoang mình bạc mình tiền,
Đừng đỏng-đảnh cạy khôn cạy khéo.
Bề thiếp phụ thuận tòng là điệu,
Cũng như bên thờ chúa thờ cha.
Muôn nghìn đừng thói điêu ngoa,
Mắng ta không giận, yêu ta không nhờn[62].
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — Bài này chia ra làm mấy đoạn và có những ý gì? Sách ta có những chữ gì để tóm tắt các bổn-phận của một người con gái? Cắt nghĩa những chữ ấy. — Về đạo vợ chồng trong sách ta có những chữ gì thường nói đến?
II. Lời văn. — 1. Xuất-giá hồi-môn: nghĩa. — Bồ-liễu: nghĩa đen, nghĩa bóng. — Ngoan: nghĩa ở đây; nghĩa thường. — Nâng khăn sửa túi: ý nói gì? — Nhiệm-nhặt, Trang-nghiêm, Thướt-tha, Lơi-lả: nghĩa những chữ ấy. — Trình, thưa, vâng, dạ: bốn chữ ấy nghĩa khác nhau thế nào? — Tiên phàm-trần: nghĩa đen, nghĩa bóng. — Nhà thi lễ là gì? — Thế nào là Quân-thân chi đạo? — Tam-cương là những gì? — Chỉ trung chỉ hiếu: nghĩa chữ chỉ. — Thế nào là đỏng-đảnh? — Chữ thuận-tòng nghĩa là gì?
2. Nhặt (lặt) các chữ lắp đi lắp lại trong bài này và nói hiệu-lực cách đặt chữ ấy. — Nói rõ đoạn này tại sao có giọng thấm-thiết. — Nhặt trong bài những câu nào đối nhau.
Hãy xét về số chữ trong các câu bài này và cách sắp đặt ra làm sao? Lối văn ấy có cái gì khác thường không? Có thông dụng không?
VỢ KHUYÊN CHỒNG
Vợ chồng ta tơ hồng vấn-vít,
Nhân-duyên này bà nguyệt khéo xe.
Trình anh: thân thiếp vụng-về,
Yêu thì nên tốt chớ nề ngu-si.
Quản bao lỗi nọ lầm kia,
Chiều thanh vẻ quí dám bì được đâu.
Thiếp vâng lời dạy trước sau,
Nguyện xem then khóa giữ hầu áo khăn.
Trước là thờ phụng song thân,
Sớm thăm tối viếng ân-cần đỡ anh.
Bốn phương chàng hãy kinh-doanh,
Giùi mài kinh sử tập-tành cung tên.
Công-danh mong đợi ơn trên,
Còn trong trần-lụy hãy xin giấu mầu.
Gửi trình dễ dám khuyên đâu,
Sắc phòng thương thận, rượu bầu thương tâm.
Thiếp xin chàng chớ đam dâm,
Những nơi cờ bạc chớ ham làm gì.
Thế-gian lắm kẻ điên-mê,
Áo quần lam-lũ người thì như ma.
Thiếp xin chàng lánh cho xa,
Một niềm trung-hiếu để mà lập thân.
Bấy lâu những đợi long-vân,
Đào thơ liễu yếu gửi thân anh-hùng.
Xưa nay gái đội ơn chồng,
Hiển-vinh bõ lúc cơm sung cháo giền.
Ơn trời công đã được đền,
Chàng nên quan cả, thiếp nên hầu bà.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — Chia bài này ra từng đoạn và tóm tắt đại ý mỗi đoạn. — Người vợ xin nhận những chức-trách gì và khuyên chồng những điều gì?
II. Lời văn. — Tơ hồng: nghĩa đen, nghĩa bóng. — Bà nguyệt: nói rõ cái điển về chữ ấy. — Nề: nghĩa là gì? — Kinh doanh: nghĩa. — Giùi mài kinh-sử: cắt nghĩa mấy chữ ấy — Cắt nghĩa câu thứ 14. — Sắc-phòng: nghĩa. — Lam-lũ: nghĩa là gì? — Long vân: nghĩa đen, nghĩa bóng. — Đào-thơ liễu yếu: ý nói gì?
ÔN-NHƯ HẦU 溫 如 侯
Ông Ôn-Như hầu là người soạn tập Cung-oán ngâm-khúc, chỉ truyền lại cái tước như vậy mà không biết tên họ sự nghiệp ông thế nào. Hình như ông ở về đời Lê, ý hẳn là người thông minh tài giỏi, trước được vua yêu dùng, sau vì vua nghe kẻ nịnh-thần gièm pha mà chán bỏ, nên mới mượn lời người cung-phi có tài-sắc mà phải ruồng bỏ, để thổ-lộ tâm sự mình ra, nên lời ai oán, giọng âm-thầm, như réo như rắt vậy.
CUNG-OÁN NGÂM-KHÚC
Khúc này làm theo lối lục-bát gián-thất là lời của một người cung-phi có tài sắc mà phải vua chán bỏ, than thở về phận mình, chia làm 5 đoạn, đại ý nói rằng:
I. — Kiếp má hồng thường hay phải mệnh bạc. Mình nguyên là một người con gái đủ cả tài sắc làm cho ai cũng phải mê mệt ngấp-nghé, chắc là duyên phận mình may-mắn sung sướng đến đâu.
II. — Nhưng nghĩ đến kiếp người thì như bóng phù-du, như giấc chiêm-bao, nghĩ đến cuộc đời thì như bến mê, như bể (biển) khổ, trăm chiều cay đắng, nghìn nỗi xót xa. Nghĩ đến thế mà cũng không muốn vào cuộc đời làm gì cho nhọc-nhằn tấm thân, đau khổ tấm lòng, thà rằng mượn cảnh Phật tu-hành cho thân được nhàn-hạ, lòng được thảnh-thơi.
III. — Nào ngờ trời lại không để cho yên! Lại phải kén làm cung-phi, thôi thì cung đàn tiếng địch, gối phượng chăn loan, thật là phỉ nguyền đẹp duyên, bõ công trang điểm.
IV. — Nào ngờ một ngày một nhạt (lạt), sau vua đam mê nơi khác không nhìn-nhõ gì đến mình, để đến nỗi chăn đơn gối chiếc, cửa mốc sân rêu, nỗi buồn bực kể sao cho xiết.
V. — Thấy thế thật sinh lòng chán nản, chả muốn tơ tưởng đến việc chồng con gì nữa. Sợ đến khi vua có lòng nghĩ lại thì giữ làm sao cho được môi son má hồng như xưa.
CUỘC ĐỜI KHỔ SỞ
Nghĩ thân phù-thế mà đau,
Bọt trong bể[63] khổ, bèo đầu bến mê.
Mùi tục-vị, lưỡi tê tân khổ,
Đường thế-đồ, gót rỗ kỳ-khu.
Sóng cồn cửa bể nhấp-nhô,
Chiếc thuyền[64] bào-ảnh thấp-tho mặt ghềnh 1.
Trẻ tạo-hóa đành-hanh quá ngán,
Dắt díu nhau lên cạn mà chơi!
Lò cừ nung nấu sự đời 2,
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương 3.
Đền vũ-tạ nhện chăng cửa mốc,
Thú ca-lâu dế khóc canh dài.
Đất bằng bỗng rắc chông gai,
Ai đem nhân-ảnh, nhuộm mùi tà-dương 4?
Mùi phú-quí dử làng xa-mã,
Bả vinh-hoa lừa gã công-khanh.
Giấc Nam-kha 5 khéo bất bình,
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không!
Sân đào lý mây lồng man-mác,
Nền đỉnh-chung nguyệt gác mơ-màng.
Cánh buồm bể hoạn 6 mênh mang,
Cái phong-ba khéo cợt phường lợi-danh!
Quyền họa-phúc, trời tranh mất cả,
Món tiện-nghi, chẳng trả phần ai!
Cái quay búng sẵn trên trời,
Mờ-mờ nhân ảnh như người đi đêm.
Hình mộc thạch, vàng kim ố cổ 7,
Sắc cầm ngư, lệ (ố) vũ e phong 8.
Tiêu-điều nhân sự đã xong,
Sơn-hà cũng ảo (hoản), côn-trùng cũng hư!
Cầu thệ-thủy nằm trơ cổ độ,
Quán thu-phong đứng rũ tà huy 9!
Phong-trần đến cả sơn khê,
Tang-thương đến cả hoa kia cỏ này!
Tuồng ảo (hoản) hóa đã bày ra đấy,
Kiếp phù-sinh trông thấy mà đau.
Trăm năm còn có gì đâu,
Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh dì!
Mùi tục-lụy dường kia cay đắng,
Vui chi mà đeo đẳng trần-duyên!
Cái gương nhân sự chiền-chiền,
Liệu thân này với cơ-thuyền 10 phải nao!
Ngày mượn thú tiêu-dao cửa Phật,
Mối thất tình quyết dứt cho xong!
Đa mang chi nữa đèo bòng,
Vui gì thế-sự mà mong nhân-tình!
Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa,
Mượn hoa đàm đuốc tuệ 11 làm duyên.
Thoát trần một gót thiên-nhiên,
Cái thân ngoại vật là tiên trong đời.
CHÚ THÍCH. — 1. Bào-ảnh: cái bọt, cái bóng, ví với đời người nhỏ mọn mà hư không; chiếc thuyền bào-ảnh là nói thân-thế người ta. Câu này ý nói cõi đời nhiều nỗi hiểm ngoèo, khác nào như sóng cồn cửa bể, mà thân con người ta lênh đênh trôi nổi trong đó, khác nào như chiếc thuyền thấp-tho ở mặt ghềnh. — 2. Lò cừ: cái lò lửa lớn. Đây ý nói trời đất xoay xỏa sự đời như cái lò lửa lớn nung nấu. — 3. Vân cẩu: mây, chó; đương mây trắng mà biến ra hình chó xanh, biến đổi không thường. Tang thương: dâu, bể; đương bể xanh mà hóa ra nương dâu, cũng là cuộc biến đổi không thường. Đây ý nói con người ta sống chết vinh nhục không thường như nét vẽ trong bức tranh thay hình đổi giạng luôn. — 4. Nhân ảnh: bóng người; tà-dương: ánh sáng mặt trời về chiều. Đây ý nói bắt con người đương trai trẻ khỏe mạnh mà không mấy chốc trở nên ốm yếu già nua. — 5. Xem câu chú-thích (1) về bài thơ Tát nước ở trang 25. — 6. Hoạn: là quan. Làm quan lúc thăng lúc giáng, lúc vinh, lúc nhục, như chìm nổi trong bể khơi, nên gọi là bể hoạn. 7. Mộc thạch: cây đá; kim cổ: đời nay đời xưa. Đây nói qua đời xưa đến đời nay biết bao là cây vàng đá ố. — Cầm ngư: chim cá; vũ, phong: mưa, gió. — Đây nói chim cá cũng có lúc phải mưa gió làm cực khổ. — 9. Thệ thủy: nước chảy; cổ-độ: bến xưa; thu phong: gió thu; tà-huy: bóng chiều. Đây nói cái cầu nằm trơ bên bến nước chỉ có nước chảy dưới cầu, cái quán đứng trơ giữa bóng chiều chỉ có gió thu trong quán, chứ chẳng còn có gì nữa. — 10. Cảnh chùa, tu-hành đạo phật. — 11. Chữ trong kinh phật: phép phật tốt đẹp gọi là hoa đàm; phép phật sáng suốt gọi là đuốc tuệ. Đây là nói cảnh chùa.
CẢNH KHỔ Ở TRONG CUNG
Ai ngờ bỗng một năm một nhạt[65],
Nguồn-cơn kia không tát mà vơi!
Suy đi đâu biết cơ trời,
Bỗng không mà hóa ra người vị-vong 1!
Đuốc vương-giả chí công là thế,
Chẳng soi cho đến khóe âm-nhai!
Muôn hồng nghìn tía đua tươi,
Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần 2.
Vốn đã biết cái thân câu trõ 3,
Cá no mồi cũng khó dử lên!
Ngán thay cái én ba nghìn,
Một cây cù mộc biết chen cành nào 4?
Song đã cậy má đào chon-chót,
Hẳn duyên tươi phận tốt hơn người.
Nào hay con Tạo trêu ngươi,
Hang sâu chút hé mặt trời lại giâm 5!
Trong cung-quế, âm-thầm chiếc bóng,
Đêm năm canh, trông ngóng lần lần,
Khoảnh làm chi mấy chúa xuân!
Chơi hoa cho rữa nhị dần lại thôi!
Lầu đãi-nguyệt, đứng ngồi dạ-vũ,
Gác thừa-lương, thức ngủ thu-phong 6,
Phòng tiêu 7 lạnh ngắt như đồng,
Gương loan bẻ nửa, dải đồng 8 xé đôi.
Chiều ủ-dột, giấc mai trưa sớm,
Vẻ bâng-khuâng, hồn bướm vẩn-vơ.
Thâm-khuê vắng ngắt như tờ,
Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương treo 9.
Ngấn phượng-liễn 10 chòm rêu lỗ-chỗ,
Dấu dương-xa 11 đám cỏ quanh-co;
Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu,
Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông.
Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng 12,
Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền.
Lạnh lùng thay, giấc cô-miên 13;
Mùi hương tịch-mịch, bóng đèn thâm-u!
Tranh biếng ngắm trong đồ tố-nữ,
Mặt buồn trông trên cửa nghiêm-lâu 14.
Một mình đứng tủi ngồi sầu,
Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa.
Buồn mọi nỗi lòng đà khắc-khoải,
Ngán trăm chiều bước lại ngẩn-ngơ!
Hoa này bướm nỡ thờ-ơ,
Để gầy bông thắm, để xơ nhị vàng!
Đêm năm canh, lần nương vách quế,
Cái buồn này ai để giết nhau.
Giết nhau chẳng cái lưu-cầu 15!
Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa?
Tay nguyệt-lão, chẳng xe thì chớ,
Xe thế này có dở-dang không?
Đang tay muốn dứt tơ hồng,
Bực mình muốn đạp tiêu-phòng mà ra.
CHÚ THÍCH. — 1. Người góa (quá) chồng. — 2. Nói bóng là các cung-phi nhiều quá, vua chỉ chấm lấy độ một vài người mà thôi. — Câu trõ là câu ghé vào chỗ người khác đang câu, khó lòng bắt được cá. — 4. Cây cù mộc là cây cao. Một cây mà ba nghìn chim én muốn đỗ, ví như một ông vua mà có ba nghìn cung-tần. Hai câu này ý nói thân phận lẽ mọn, khó tranh được lòng thương yêu của vua. — 5. Nói bóng là vừa mới được hầu-hạ vua thì đã bị xa cách ngay. — 6. Lầu đãi-nguyệt: lầu ngồi đợi trăng; dạ vũ: mưa đêm. Gác thừa-lương: gác ngồi hứng mát; thu phong: gió mùa thu. Đây ý nói những nơi mình được hầu-hạ vua trước bây giờ chỉ một mình ngồi đứng với mưa đêm, thức ngủ với gió thu. — 7. Phòng chát bằng hồ-tiêu cho ấm, phòng của các cung-phi nhà vua ở. — 8. Cái dải đồng tâm. — 9. Cửa châu: là cửa treo ngọc châu. Rèm ngà là rèm bện trục bằng ngà. — 10. Là xe làm hình chim phượng, xe vua ngự. — 11. Là xe dê: xưa vua Vũ-đế nhà Tấn bên Tàu thường đi cái xe dê kéo ở trong cung. — 12. Xưa ông Tô-Vũ bị rợ Hồ cầm giữ, ông buộc thư vào chân chim nhạn để nhạn đem tin về triều Hán cho, nên thường nói gửi thư là đưa tin nhạn. — 13. Cô-miên 孤 眠 là ngủ một mình. — 14. Nghiêm lâu là cái lầu nghiêm mật, chỗ vua ở. — 15. Lưu-cầu là tên một thanh gươm.
NGUYỄN-THỊ-ĐIỂM 阮 氏 點
Bà người huyện Đường-hào, tỉnh Hải-dương, em gái ông tiến-sĩ Nguyễn-trác-Luân, ở vào khoảng đầu thế-kỷ thứ XVIII, về đời vua Duy-Phương và vua Thuần Tôn nhà Lê.
Bẩm sinh rất thông-minh, năm sáu tuổi học đã giỏi. Mười lăm tuổi, văn-chương đã nổi tiếng, các tay danh-sĩ đời bấy giờ như ông Thái-học-sinh Đặng-trần-Côn cũng phải chịu tài.
Bà kén chồng kỹ không ai lấy được. Ngoài 20 tuổi mới lấy lẽ quan Thượng-thư ở huyện Từ-liêm là Nguyễn-Kiều hiệu Hạo-Hiên; hai vợ chồng quí nhau lắm. Bà thọ 70 tuổi.
Bà thường ở dạy học chốn kinh-thành, học-trò theo học cũng đông, thành-đạt cũng nhiều.
Bà có làm ra bộ sách « Tục truyền kỳ » bằng chữ nho và dịch quyển « Chinh-phụ ngâm » nguyên văn bằng chữ nho ra quốc-âm hay lắm.