Trang chủ Viện

Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm

HỎNG THI

Chương 3 / 16

HỎNG THI

27. — TRƯỚC KHI RA BẢNG

Ngày mai tớ hỏng, tớ đi ngay,
Cúng giỗ từ đây nhớ lấy ngày.
Học đã toi cơm, nhưng chửa chín,
Thi không ngậm ớt, thế mà cay.
Sách đèn[42] phó mặc đàn con trẻ,
Lưng đấu nhờ trông một mẹ mày.
Cống-hỉ, 1 mét-sì 2 thông mọi tiếng,
Chẳng sang Tàu, cũng tếch sang Tây.

28. — SAU KHI RA BẢNG

Bụng buồn còn muốn nói năng chi,
Đệ nhất buồn là cái hỏng thi.
Một việc văn-chương thôi cũng nhảm,
Trăm năm thân-thế có ra gì.
Được gần trường-ốc 3 vùng Nam-định,
Thua mãi anh em đám Bắc-kỳ.
Rõ thật nôm hay mà chữ dốt,
Tám khoa chưa khỏi phạm trường-qui. 4

CHÚ THÍCH. — Cống-hỉ là tiếng Tàu, chính chữ là 恭 禧 cung hi (kính mừng), tiếng để chúc nhau. — 2. Mét-sì (merci) là tiếng Tây, nghĩa là cám ơn. — 3. Là nơi trường thi. — 4. Trường-qui là phép tắc trường thi. Hồi xưa học-trò đi thi phải theo các phép tắc của quan trường định sẵn về cách viết quyển văn, về sự giữ quyển văn sạch sẽ và về các chữ lề lối phải theo, cùng các tên húy phải tránh, v. v.; người phạm trường-qui, dù văn hay chữ tốt đến đâu cũng phải đánh hỏng.

29. — DẠI KHÔN

Thế-sự đua nhau nói dại khôn,
Biết ai là dại, biết ai khôn?
Khôn nghề cờ bạc là khôn dại,
Dại chốn văn-chương ấy dại khôn.
Mấy kẻ nên khôn đều có dại,
Làm người có dại mới nên khôn.
Cái khôn ai cũng khôn là thế,
Mới biết trần-gian kẻ dại khôn.

30. — TÁT NƯỚC

Giấc mộng Nam-kha 1 khéo chập-chờn,
Giữa trời riêng một cảnh giang-sơn.
Cỏ cây vui mắt nằm quên ngủ,
Sấm sét bên tai dạ chẳng chồn,
Chênh-chếch đèn trăng soi trước bóng,
Hiu-hiu quạt gió phẩy bên sườn.
Bởi vì nỗi nước nên ra sức,
Bao quản phong trần mảnh áo đơn.

CHÚ THÍCH. — 1. Xưa có một người nằm mộng thấy mình đến nước Hòe-an, Quốc-vương gả con gái cho, phong làm Thái-thú quận Nam-kha, sau bị cách quan, vợ cũng chết; bừng mắt tỉnh dậy. Nên gọi giấc mộng, giấc ngủ là giấc Nam-kha.

CHU-MẠNH-TRINH 朱 孟 楨 (1862-1905)

Thường gọi là quan Án-Chu, người làng Phú-thị, huyện Đông-yên, tỉnh Hưng-yên, đỗ tiến-sĩ, năm Thành-Thái thứ 9 (1897), làm quan đến Án-sát, cáo về nghỉ nhà.

Ông người rất tài tình, các nghề chơi như thơ, đàn, đều giỏi cả. Chữ tốt, văn hay, nôm cũng sành. Có tập thơ vịnh Kiều đề là Thanh-tâm tài-nhân thi-tập và bài Hương-sơn nhật-trinh ca.

Văn ông có vẻ tài tình, thật là tiêu-biểu cho lối lãng-mạn (genre romantique) trong văn-giới nước ta.

31. — KIỀU ĐI THANH-MINH

Mầu xanh ai khéo vẽ nên tranh,
Nô nức đua nhau hội Đạp-thanh. 1
Phận bạc ngậm-ngùi người chín suối,
Duyên may dun-dủi khách ba sinh. 2
Dưới hoa nép mặt gương lồng bóng,
Ngàn liễu rung cương sóng gợn tình.
Man-mác vì đâu thêm ngán nỗi!
Đường về chiêng đã gác chênh-chênh. 3

CHÚ THÍCH. — 1. Ngày thanh-minh khách đi chơi xuân, nên cũng gọi là hội đạp-thanh, nghĩa là giẫm lên đám cỏ xanh. — 2. Theo tích một người lúc sống mắc nợ không trả được, lúc chết đi phải đầu thai ba kiếp để trả nợ; khách ba sinh là người có duyên nợ kiếp trước cùng mình. — 3. Nhà văn Tàu xưa nay quen gọi mặt trời là cái chiêng đồng.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Kể qua việc Kiều đi chơi thanh-minh. Trong buổi đi chơi ấy có những việc gì quan-hệ đến cuộc đời nàng Kiều?

2. Hai câu đề tả cảnh gì? Nói rõ hai câu thực, một câu nói về việc gặp mả Đạm-Tiên, một câu nói về việc gặp Kim-Trọng. — Hai câu luận, câu trên nói ai? câu dưới nói ai? — Cứ theo hai câu kết thì nỗi lòng nàng Kiều lúc bấy giờ ra làm sao?

II. Lời văn. — 1. Người chín suối là nói ai? khách ba sinh là nói ai? Cắt nghĩa những chữ: gương lồng bóng, sóng gợn tình — Man-mác, chênh-chênh: những chữ ấy nói ý gì?

2. Bài này tả tâm-sự nàng Kiều buổi đi Thanh-minh có được hệt như tình-tiết trong truyện Kiều không? Thử đem mấy đoạn ra mà đối chiếu với các câu trong bài thơ này.

32. — KIỀU BÁN MÌNH CHUỘC CHA

Thử đem tình hiếu bắc đồng cân,
Trăm thảm nghìn sầu góp một thân.
Bèo dạt, mây trôi đành với phận,
Đào tơ, liễu yếu ngán cho xuân.
Giọt sương chĩu nặng hoa lìa gốc,
Vạ gió gây nên nước đến chân.
Nông nỗi hợp tan lời gắn bó,
Trời già âu cũng mở đường nhân.

33. — KIỀU TỰ TẬN, TÚ-BÀ DỖ KIỀU

Sa chân đã trót xuống thuyền[43] buôn,
Cả giận xui nên muốn hết khôn.[44]
Non nước chắc chi lời ước cũ.
Phong-trần liều với mũi dao con.
Hoa gieo dưới trướng hồn man-mác,
Gió thổi bên tai giọng ngọt ngon.
Cho biết tay già là tổ bợm,
Dù ai bóp bẹp cũng vê tròn.

34 — TỪ-HẢI RA HÀNG

Sao bỗng đem thân bỏ chiến-trường?
Ba quân xao-xác ngọn cờ hàng.
Sá chi bèo bọt tôi vì nước,
Thẹn với non sông thiếp phụ chàng.
Cung oán nỉ-non đàn bạc-mệnh,
Duyên may run-rủi lưới Tiền-đường.
Mười lăm năm ấy người trong mộng,
Chẳng những là đây mới đoạn-trường.

HOÀNG-CAO-KHẢI 黃 高 啓

Tướng-công người Hà-tĩnh, đậu cử-nhân, làm quan tới Phụ-chánh đại-thần triều vua Thành-Thái, hàm Thái-tử thái-phó, văn-minh-điện đại-học-sĩ, tước Duyên-mậu quận-công. Trước tướng-công từng làm quan ngoài Bắc-kỳ, đi đánh dẹp các nơi, sau sung chức kinh-lược Bắc-kỳ. Hay chữ mà nôm cũng hay, có soạn nhiều sách rất có giá-trị về đường sử học nước nhà: Việt-nam-sử yếu, Việt-nam nhân-thần giám, Việt sử kính, ba quyển ấy tướng-công đều tự dịch ra quốc-văn. Về phần văn nôm, có tập Vịnh-nam-sử, tập Làm con phải hiếu, tập Đàn bà nước Nam[45] và hai vở tuồng: Tây Nam đắc bằng và Tượng-kỳ khí xa.[46]

VỊNH NAM-SỬ

Những bài sau này là trích ở tập « Vịnh Nam-sử ». Trong tập này tướng-công chọn các danh-nhân trong nước Nam, mỗi người có một bài tiểu-truyện, một bài thơ vịnh và một bài bàn.

Những bài bàn này, lời văn rất hay, lại vừa thích giải bài thơ, nên lục in ra đây để làm cái mẫu giảng nghĩa lối thơ ta.

35. — TRƯNG-VƯƠNG

Tượng đá trời nam giại tuyết sương,
Nghìn năm công đức nhớ Trưng-Vương.
Tham tàn trách bởi quan gây biến,
Oanh liệt khen cho gái dị-thường!
Liều với non sông hai má phấn,
Dành nhau nòi giống một da vàng.
Cột đồng Đông-Hán tìm đâu thấy,
Chỉ thấy Tây-hồ bóng nước gương.

Bài thơ này là thuật công đức bà Trưng-vương; đại ý nói rằng: Ta thường đi qua xã Hát-môn, (huyện Phúc-thọ, Sơn-tây) trông thấy miếu-mạo nguy nga, có hai tượng đá dựng ở trời Nam, đã cách mấy nghìn năm nay, trải biết bao nhiêu tuyết sương mà vẫn y như cũ. Người ta nói rằng: « Ấy là hai tượng của chị em bà Trưng-vương thuở trước đã đuổi quan Thái-thú là ngươi Tô-Định mà làm vua nước Lĩnh-Nam. Về sau người ta nhớ công đức mà dựng nên tượng ấy ». Thế mới biết rằng lòng người ta yêu mến dẫu lâu đời mà cũng không quên vậy.

Trong buổi ấy chẳng phải là buổi nước Tàu cai-trị nước ta ru? Nếu không phải những kẻ quan-lại tham tàn thời bởi đâu mà gây ra loạn, lại không có những kẻ anh hùng khẳng khái thì lấy ai mà cứu cho dân. Nhưng cái sự oanh-liệt ấy bởi tay kẻ nam-nhi thì cũng là thường, mà bởi tay kẻ nữ-nhi thì thiệt là lạ vậy.

Tuy rằng, về sau thế-lực không địch nổi thì cũng đành lấy hai má phấn mà liều với non sông, nhưng cũng để làm gương cho những kẻ đồng loại ấy không nên lấy thế mạnh mà hiếp thế hèn vậy.

Than ôi! được thua ấy là công việc trong một buổi mà còn mất ấy là chứng cớ của muôn đời, kìa như ông Mã-Viện khi đã đánh thua được bà Trưng-vương thì dựng lên cột đồng cao vòi vọi, để mà ghi chép lấy công nghiệp của mình. Mà đến bây giờ thời cột ấy hoặc bị sóng bồi, không còn tìm thấy đâu nữa mà hai họ Trưng thì danh-tiết chói sáng cùng với mặt trăng hồ Tây muôn kiếp vẫn còn. Ấy mới biết rằng cái sự danh-tiết ấy là một cái chứng-cớ làm gương soi cho người ta vậy.

36. — TÔ-HIẾN-THÀNH

Khinh bề tài hóa, trọng cương-thường,
Lòng giãi hai triều một tiết sương.
Mặt bạc trách ai toan đổi trắng,
Chiếu son còn đó dám tham vàng!
Nhà yên, gà mái mai không giống gáy,
Nước vững, anh con cánh lại giương.
Phò chúa xin ai nên nghĩ lấy,
Nghìn năm bia miệng có Tô Trương.

Bài thơ này là khen ông Tô-hiến-Thành hết lòng phò chúa mà khuyên người đời sau phải nên lấy thế mà làm gương vậy.

Đại-ý nói rằng: « Nghĩa lợi bất lưỡng lập 1 ». Lợi là ích riêng của một nhà, nghĩa là ích chung của một nước: nhưng làm quan đại-thần ấy, đã lấy ích chung mà lo toan cho nước thời không nên lấy ích riêng mà thu vén cho nhà; bởi thế thời tài-hóa vốn phải nên khinh mà cương-thường vốn phải nên trọng. Như ông Tô-hiến-Thành phụ-chánh hai triều giúp vua Cao-Tôn, vua Anh-Tôn nhà Lý mà trước sau trọn lấy một tiết; tâm sự quang minh, như là bạch-nhật, tiết-tháo lẫm-liệt, giống thể thu sương 2.

Xem như đương buổi vua Anh-Tôn mất, để tờ di-chiếu lập vua Cao-Tôn, mà bà Thái-hậu có ý đổi thay, một thời hiếp đó lấy thế, một thời dụ đó lấy lợi, nếu khiến ông ấy mà tham của bất nghĩa, thời thay đen đổi trắng, nào có khó gì, thế mà ông khăng-khăng giữ lấy một niềm trung-ái, thế đã không sợ, lợi cũng không tham. Bởi thế mà bà Mẫu-hậu không được chuyên chế, thời gà mái buổi mai không gáy, mà vận nhà từ đó mới yên; ấu-chúa không đổi ngôi, thời anh con cánh lại giương bay, mà thế nước từ đó mới vững. Thế chẳng phải là trọng nghĩa khinh tài, khí-độ hơn người lắm ru!

Than ôi! Quân-tử tại triều, nước bao giờ cũng là thịnh, tiểu-nhân đắc chí, nước bao giờ cũng là suy. Kìa như ngươi Trương-phúc-Loan cũng là phò ấu-chúa, thế mà giam vua Hiếu-Khang, lập vua Hiếu-Định 3, mà nghiệp chúa Nguyễn từ đó mới suy. Xem với ông Tô chẳng là còn thẹn lắm thay! Ta khuyên những người có trách-nhiệm phò chúa ấy, không nên tham lấy chữ lợi mà phải giữ lấy chữ nghĩa cho tròn: Trăm năm bia đá cũng mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ '

CHÚ THÍCH — 1. Nghĩa với lợi không cùng đứng với nhau được, được cái nọ tất hỏng cái kia. — 2. Giọt sương mùa thu, trong lắm. — 3. Khi chúa Nguyễn là Võ-Vương mất (1765), quyền-thần là Trương-phúc-Loan đổi tờ di-chiếu, bỏ đức Chương-Võ (tức là Hoàng-khảo đức Gia-Long, sau truy tôn là Hiếu-Khang hoàng-đế), mà lập vua Định-vương (sau truy tôn là Hiếu-Định hoàng-đế) mới có 12 tuổi để được chuyên quyền làm bậy. Vì vậy mới sinh ra loạn Tây-Sơn.

37. — NƯỜNG MỊ-Ê

TIỂU DẪN. — Năm 1044, vua Lý Thái-tôn vào đánh nước Chiêm-thành, phá kinh-đô là Phật-thệ (nay thuộc tỉnh Thừa-thiên), giết quốc-vương là Sạ-Đẩu, bắt vương-phi là nàng Mị-Ê đem về, khi đến sông Lý-nhân, vua đòi nàng ấy sang hầu bên thuyền ngự. Nàng ấy giữ tiết không chịu, quấn chiên lăn xuống sông tự tử.

Thuyền[47] rồng không dựa, dựa thuyền chài,
Khắn-vó vì chưng chót một hai.
Tiết-nghĩa mảnh chiên trời ấm lạnh,
Cương-thường giọt lệ nước đầy vơi.
Chứng-minh đã có mười phương Phật,
Sống thác cùng nhau một giống Hời.
Sử sách nghìn năm ghi chép đó,
Thương ai mà lại thẹn cho ai!

Bài thơ này khen bà Mị-Ê là người trinh tiết; đại ý nói rằng: Đương buổi thành Phật-thệ đã phải tan, vua Sạ-Đẩu lại phải giết, bà ấy ví chẳng khác như chiếc bách (bá) lênh-đênh, mây tan bèo nổi, mà không ngờ rằng duyên ưa phận đẹp, cá nước vẫy vùng; tục-ngữ có câu rằng: « Một ngày dựa mạn thuyền rồng, cũng bằng chín tháng nằm trong thuyền chài », chẳng là sung sướng lắm ru! Thế mà bà ấy lấy làm xấu-hổ[48], vì chưng giữ dạ kiên-trinh nhớ lời khắn-vó, người thì phải theo nhau một giống, gái không lẽ thờ đến hai chồng. Thôi thời đành lấy chiên mà quấn mảnh thân tiết-nghĩa, dẫu khi ấm khi lạnh cũng phó cho trời, lấy máu mà hòa giọt lệ cương-thường, dẫu hoặc đầy hoặc vơi cũng trôi với nước. Ai có biết dẫu ai không có biết, chứng-minh đã có Phật mười phương; sống cùng nhau, thì thác phải cùng nhau, chung-thủy cho tròn Hời một giống. (Hời là giống người Chiêm-thành.)

Than ôi! Trinh-tiết là đức riêng của gái, mà khen chê là lẽ phải của đời, thương cho vàng đá dạ người, thẹn cho những kẻ ép nài mưa mây, nghìn năm sử sách còn đây.

38. — HUYỀN-TRÂN CÔNG-CHÚA

TIỂU DẪN. — Năm 1306 đời vua Trần Anh-Tôn, vua Chiêm-thành là Chế-Mân muốn lấy Huyền-Trân công-chúa mới dưng cho vua ta hai châu Ô, Lý, sau đổi là Thuận-châu và Hóa-châu (nay là đất Thừa-thiên và nửa tỉnh Quảng-trị và tỉnh Quảng-nam). Đến sau vua Chiêm-thành mất, vua ta sai Trần-khắc-Chung giả mượn tiếng vào thăm, tìm kế đưa công-chúa về.

Đổi chác khôn ngoan cũng nực cười,
Vốn đà không mất lại thêm lời.
Hai châu Ô, Lý vuông nghìn dặm,
Một gái Huyền-Trân của mấy mươi?
Lòng đỏ khen ai lo việc nước,
Môi son phải giống mãi trên đời?
Châu đi rồi lại châu về đó,
Ngơ-ngẩn trông nhau mấy đứa Hời!

Bài thơ này là nói đổi một bà Huyền-Trân công-chúa mà lấy được hai châu của nước Chiêm-thành, cũng là biết rằng khôn dại khác nhau như thế; đại-ý nói rằng:

Xưa nay gọi là đổi chác thì phải lấy hai vật đổi cho nhau, kẻ được vật kia, người được vật nọ mà có một sự làm cho ta nực cười ấy là đã không mất vốn mà lại được lời, như thế chẳng là khôn ngoan lắm ru!

Xem như châu Ô, châu Lý, là đất của nước Chiêm-thành cũng thiệt là rộng mà tốt, dẫu rằng có bao nhiêu của dễ rằng đổi chác được đâu; mà không ngờ rằng vua Anh-Tôn nhà Trần cho lấy một người con gái là bà Huyền-Trân thì vua Chiêm-thành chịu đem hai châu mà dưng lại. Tuy rằng không phải đổi chác mà cũng như là đổi chác vậy.

Ta khen cho những người lo việc nước ấy có trí khôn ngoan, bởi vì đất là để sinh sản cho người, người mà chết cũng hóa ra đất; thế thì rừng vàng bể (biển) bạc, đất vẫn là quí, dẫu rằng môi son má phấn, người cũng là khinh. Lấy đường hơn lẽ thiệt mà suy thời biết rằng đất vẫn là quí hơn người vậy.

Phương chi từ khi vua Chiêm-thành đã mất rồi, thời vua Trần Anh-Tôn lại sai ngươi Trần-khắc-Chung cướp bà Huyền-Trân mà đem về.

Câu tục-ngữ có nói rằng:

« Của trời trời lại lấy đi,
« Giương hai con mắt làm chi được trời ».

Than ôi! Ta khen cho nước ta là khôn ngoan thì ta lại thương cho nước Chiêm-thành là ngu dại.

DƯƠNG-BÁ-TRẠC 楊 伯 濯

39. — VỊNH HAI BÀ TRƯNG

Nước nhà gặp cơn bĩ,
Trách-nhiệm gái trai chung;
Quyết lo đền nợ nước,
Há những vị thù chồng 1.
Tham-tàn căm tướng « Chệch »,
Tai mắt tủi nòi Hồng.
Em ơi đứng cùng chị;
Thù riêng mà nghĩa công.
Xin đem phận bồ liễu,
Đành liều với non sông.
Một trận đuổi Tô-Định,
Quân Tàu đuôi chạy cong.
Lĩnh-nam bảy mươi quận 2,
Mặc sức ta vẫy vùng.
Mê-linh 3 dựng nghiệp đế,
Độc lập nên cờ hồng.
Bốn năm nước tự chủ;
Nhi-nữ cũng anh-hùng.

CHÚ THÍCH. — 1. Chồng bà Trưng-Trắc là Thi-Sách bị quan Tàu là Tô-Định giết. — 2. Hai bà đánh đuổi quân Tàu lấy được hơn bảy mươi thành ở đất Lĩnh-nam. — 3. Bà Trưng đuổi được quân Tàu về, xưng vương tự lập, đóng đô ở Mê-linh (nay thuộc huyện Yên-lãng tỉnh Phúc-yên).

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bài này về thể thơ gì? — Kể qua sự trạng hai bà Trưng. — Tóm đại-ý mỗi đoạn trong bài này.

2. Tại sao bà Trưng nổi lên đánh quân Tàu? Có những vì sự chồng bị hại không? — Công việc hai bà đánh Tô-Định thế nào? — Bà làm vua được mấy năm? — Tại sao bà phải thua?

3. Việc hai bà đánh quân Tàu dù sau không thành công, có ảnh-hưởng gì đến lịch-sử nước ta không?

II. Lời văn. — 1. Cắt nghĩa những chữ nòi Hồng, phận bồ liễu. — Thù riêng là thù gì? nghĩa công là nghĩa gì?

2. Bài này thuộc về lối thơ gì? Nói qua phép tắc lối thơ ấy.

40. — VỊNH TRIỆU-ẨU

Khí thiêng Lô Tản 1 đúc nên người,
Chẳng những trai hay gái cũng tài.
Vùng vẫy non sông ba thước vú 2,
Xông pha tên đạn một đầu voi 3.
Thằng Ngô gan thỏ 4 kinh gần rụng,
Cửa tướng con dòng 5 đích chẳng sai.
Thua được sự thường chi sá kể,
Nữ-nhi ái-quốc tiếng muôn đời.

CHÚ THÍCH. — 1. Là sông Lô chảy qua Tuyên-quang và núi Tản-viên ở Sơn-tây. — 2. Sử chép rằng vú bà dài tới ba thước. — 3. Bà thường cưỡi voi ra đánh trận. — 4. Giống thỏ rất nhát. — 5. Là con nhà dòng dõi, vì bà là em ông Triệu-quốc-đạt cũng khởi nghĩa đánh quân Ngô bấy giờ.

41. — VỊNH BÀ PHAN-THỊ-THUẤN

TIỂU DẪN. — Bà là vợ lẽ ông Ngô-cảnh-Hoàn đời Hậu-Lê; ông đi đánh quân Tây-sơn, tử trận ở sông Thúy-ái (nay thuộc huyện Thanh-trì, tỉnh Hà-đông), người nhà được tin thương khóc, bà vẫn cười nói như thường; có người hỏi, bà đáp: chết vì việc nước còn gì hơn nữa mà phải thương tiếc. Ma chay xong, bà mặc đồ đào đỏ đến chỗ chồng chết trận đâm đầu xuống sông chết.

Chàng đi theo nước, thiếp theo chồng.
Thiếp chết trinh mà chàng chết trung.
Đến thế ân tình đôi trọn vẹn,
Việc chi cười nói chẳng thung-dung.
Ma chay đã đủ trên trần-thế,
Đào đỏ thôi về dưới thủy-cung 1.
Giã họ, giã hàng, giã thôn sóm,
Cương thường 2 để lại với non sông.

CHÚ THÍCH. — 1. Là cung vua thủy; là dưới nước. — 2. Tức là tam cương ngũ thường. Trong luân-lý Tàu và ta có ba mối liên-lạc lớn gọi là tam-cương (3 cái giường mối): 1• quân thần (đạo vua tôi) 2• phụ tử (đạo cha con), 3• phu phụ (đạo vợ chồng); và năm cái nết hay ai cũng phải thường có mới là người hay, gọi là ngũ-thường (5 nết thường): 1• nhân (lòng yêu người), 2• nghĩa (làm điều phải đạo), 3• lễ (đối với người ngoài có lễ phép), 4• trí (biết điều hay dở phải chẳng), 5• tín (giao-thiệp với kẻ khác có lòng thực cho người ta tin được).

42. — VỊNH ÔNG NGUYỄN-VĂN-QUYÊN

TIỂU DẪN. — Ông Quyên là người đầy tớ giữ ngựa của vua Lê Chiêu-Thống. Hồi vua Lê bị thua quân Tây-sơn, chạy sang Tàu cầu cứu, vua nhà Thanh không chịu giúp, an-trí vua ở Yên-kinh, lại đem đầy các người bày tôi tòng vong ở các nơi. Vua Lê tức giận, một hôm cưỡi ngựa đến vườn Viên-minh, (vua nhà Thanh đương ngự chơi ở đấy) đề kêu về việc ấy. Đến cửa, bọn lính Tàu không cho vào, lại bắt vua Lê, ông Quyên nóng tiết liều đánh mắng bọn ấy.

Giữ ngựa tuy hèn cũng chúa tôi,
Gan trung ngứa tiết sợ gì ai.
Cường-quyền chúa phải quân vô-lễ,
Quốc-thể tôi liều bịch mấy thoi.
Dùi-dắng đã không tình cấp-nạn,
Hung-hăng lại giở thói khinh người.
Anh Ngô biết mặt thằng này chửa?
Giữ ngựa tuy hèn cũng chúa tôi.

VỊNH BÀ NGUYỄN-THỊ-KIM

TIỂU DẪN. — Bà là hoàng-phi vua Lê Chiêu-Thống; hồi vua Lê thua quân Tây-Sơn phải chạy sang Tàu, bà không theo kịp phải về ẩn-náu chốn thôn quê, giữ tiết trong mười mấy năm trời. Đến khi bà nghe tin hài cốt vua Lê đã đem về nước, bà ra lạy linh-cữu cố-quân rồi uống thuốc độc chết.

Giong-ruổi quan-hà lạc chúa-công,
Ngọn mây non bắc tịt-mù trông.
Bồng mao 1 tạm lúc nương thân liễu;
Kinh khuyết 2 may sau thấy mặt rồng.
Thác nghĩa đã ghi cùng sắt đá;
Sống thừa còn hẹn với non sông.
Thôi thôi nước cũ đây là hết!
Năm lạy linh tiền 3 chứng thiếp trung.

CHÚ THÍCH. — 1. Chốn quê mùa. — 2. Nơi miếu điện ở hoàng-kinh. — 3. Trước linh-cữu: nghĩa là trước quan-tài (hòm) người mất.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bài thơ này cốt khen bà Nguyễn-thị-Kim là người thế nào?

2. Hai câu đề nói về việc gì? Tại sao bà Thị-Kim không theo vua Chiêu-Thống sang Tàu?

3. Theo hai câu thực thì cái tâm-cảnh bà cùng cái hi-vọng bà đi náu chốn thôn quê thế nào? Cái hi-vọng ấy sau có đạt không?

4. Hai câu luận tả cái chí-khí của bà Thị-Kim thế nào?

5. Khi bà Thị-Kim nghe tin vua Chiêu-Thống chết có còn muốn sống nữa không? Tại sao bà lại cố sống gượng đến lúc đem linh-cữu vua Lê về?

II. Lời văn. — Quan hà nghĩa là gì? — Non bắc là nói đâu? — Thân liễu là nói ai? — Mặt rồng là chỉ ai? — Ghi cùng sắt đá, hẹn với non sông: ý nói gì? — Thường thường ta hay dùng chữ gì để nói cái chí-khí của một người đàn bà giữ tiết với chồng? Tại sao đây tác-giả lại dùng chữ trung?

HỢP THÁI

44. — BÁN THAN

Trần-khánh-Dư (?)

TIỂU DẪN. — Ông là tôn-thất nhà Trần. Tục truyền ông làm quan phải cách chức, ra ở Chí-linh (thuộc Hải-dương) đốt củi bán than. Khi ấy có giặc Nguyên sang xâm, các vương-hầu hội ở Lục-đầu-giang (Phả-lại) bàn việc binh. Ông nhân chở thuyền (ghe) than qua đấy, vua Nhân-Tôn (1278-1293) ra ngay cho bài thơ tức-cảnh. Ông làm bài trên này, mượn việc bán than để tả chí-khí mình. Vua khen, phục chức cho theo đi đánh giặc; có công, sau nên một bực danh-tướng.

Một gánh kiền khôn quảy xuống (tếch)[49] ngàn,
Hỏi chi bán đấy? Gửi rằng than.
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt,
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn.
Ở với lửa hương cho vẹn kiếp (tiết),
Thử xem đá sắt có bền gan!
Nghĩ mình nhem nhuốc[50] toan nghề khác[51],
Nhưng lẹ 1 (sợ) trời kia lắm kẻ hàn. 2

CHÚ THÍCH. — 1. Ngại, sợ. — 2. Đương trời này lắm kẻ rét mướt (lạnh lẽo) phải cần đến than sưởi.

45. — TỰ TRÁCH MÌNH

Lê-quí-Đôn

Ông Lê-quí-Đôn 黎 貴 惇 người làng Diên-hà (thuộc tỉnh Thái-bình bây giờ) rất thông minh; thuở nhỏ đã nổi tiếng văn thơ; đậu thủ-khoa năm 18 tuổi, đậu bảng-nhỡn năm vua Hiến-Tôn thứ 13 (1752) sau làm quan và có sang sứ bên Tàu hai lần; ứng đối biến báo người Tàu phải phục cả. Sang bên ấy ông kiếm được nhiều sách lạ xem: sách cổ, sách kim, sách Tàu và cả sách ngoại quốc nữa. Ông học lực đã thâm, lại kiến văn rộng, lịch duyệt nhiều, nên khi ông về nước soạn ra rất nhiều sách: dễ trong đời Lê ông là người văn học quảng bác nhất và trước thuật nhiều nhất. Trong các bộ ông soạn ra, uyên-thúy nhất là bộ Vân-đài loại ngữ có thể coi như là một bộ triết-học tự-vựng được. Các bộ khác nữa là: Thánh-mô hiền-phạm lục, Kiến-văn tiểu lục, Hoàng-Việt văn hải, Thượng-kinh phong vật chí, v. v. Ông lại khởi thảo một bộ sử lớn nước ta là bộ Đại-Việt thông sử; nhưng bộ ấy còn dở-dang chưa xong, đến nay lại thất lạc mất nhiều đoạn.

TIỂU DẪN. — Ông thông minh khác thường, lên sáu tuổi đã biết làm thơ làm văn; khi 7, 8 tuổi cởi truồng đi tắm, có một quan Thượng vào chơi với cụ thân-sinh ông là Trung-hiếu công, trông thấy đứa trẻ hỏi thăm nhà; đứa trẻ ấy đứng giạng hai chân ra bảo quan Thượng rằng: Tôi đố ông biết chữ gì đây, hễ ông biết được thì tôi sẽ đưa ông vào nhà. Quan Thượng thấy thằng bé con hỗn xược, không thèm nói gì; đứa trẻ ấy cười ầm lên nói rằng: Chữ thái 太 thế mà không biết! Quan Thượng thấy đứa bé lạ, hỏi ra mới biết là con ông Trung-hiếu công; lúc vào nhà, gọi ông mắng rằng: mày là thằng rắn đầu rắn cổ, phải làm một bài thơ tự trách mình, nếu không làm được thì phải đòn; ông vâng lời làm bài tơ tự trách mình, tức là bài thơ này.

Chẳng phải liu-điu 1, vẫn giống nhà,
Rắn đầu chẳng (biếng) học chẳng ai tha.
Thẹn đèn, hổ lửa, đau lòng mẹ,
Nay thét, mai gầm, rát cổ cha.
Ráo mép chỉ quen tuồng nói dối,
Lằn lưng cam chịu vết roi tra.
Từ rầy Châu, Lỗ 2 chăm nghề học,
Kẻo hổ mang điều (danh) tiếng thế-gia 3.

CHÚ THÍCH. — 1. Liu điu, hổ lửa, mai gầm, (rắn) ráo, (thằn) lằn, hổ mang vừa là tên rắn vừa có nghĩa trong câu thơ. — 2. Châu 鄒 là chỗ ông Mạnh-tử ở; Lỗ 魯 là nước Lỗ, quê đức Khổng-tử: ý nói học đạo Khổng Mạnh. — 3. Ý nói: chớ để người ta chê là con nhà thế-gia mà dốt.

46. — QUA CỬA NGŨ-MÔN

Phạm-Thấu

TIỂU DẪN. — Ngũ-môn là năm cửa ở trước nhà kính-thiên thành Thăng-long là chỗ các quan vào chầu vua Lê khi xưa; ngoài cửa có chạm hai con rồng đá. Bấy giờ về cuối đời Lê, Tây-Sơn tràn ra ngoài Bắc, vua Lê không có quyền-hành gì nữa, nên ông Phạm đi qua cảm hứng mà làm bài này.

Chợt qua năm cửa động lòng thơ,
Rồng đá sao rầy gọi biếng thưa?
Nền-nếp vẫn (hãy) còn nền-nếp cũ,
Lễ-văn sao khác lễ-văn xưa?
Ý nhân thiên-tử thôi chầu sớm,
Hay bởi đình-thần mới thức trưa 1?
Nào kẻ mây mưa duyên khế trước 2,
Tôn Chu nghĩa cả khéo thờ-ơ!

CHÚ THÍCH. — 1. Hai câu luận này có ý trách vua tôi nhà Lê không biết sớm trưa lo liệu để đến nỗi mất nước. — 2. Là các quan dân nhà Lê, những người đã được ơn vua lộc nước. — 3. Đức Khổng-Tử làm kinh Xuân-Thu giữ nghĩa tôn nhà Chu. Đây là ông ví nhà Lê như nhà Chu bên Tàu mà có ý trách quan dân không ai biết gióng-giả giúp nhà vua.

47. — TRÀNG PHÁO

Nguyễn-hữu-Chỉnh

TIỂU DẪN. — Ông Chỉnh người Nghệ-an, thuở bé đã thông minh; tục truyền lúc lên 9 tuổi, nhân năm mới đến mừng thầy học. Thầy cầm một tràng pháo bảo vịnh một bài thơ. Ông liền ứng khẩu đọc bài này, thật là khẩu khí tự nhiên, xem có thể đoán được sự nghiệp ông sau này. Quả nhiên năm 16 tuổi đậu hương-cống, năm 18 tuổi đậu khoa võ, có tiếng là văn võ toàn tài. Chí muốn làm to; bấy giờ về cuối đời Lê, ngoài Bắc thì vua Lê chúa Trịnh, trong Nam thì Tây-Sơn đương tung hoành, thoạt tiên thì ông theo chúa Trịnh, sau bỏ vào trong Nam xui Tây-Sơn ra đánh Bắc-Hà, phù Lê diệt Trịnh; khi Tây-Sơn về, ông được ở lại giữ Nghệ-an. Sau đảng Trịnh lại nổi lên, vua Lê triệu ông ra phá tan đảng Trịnh, được phong tước Bằng quận-công, cầm binh quyền, giữ quốc-chính, thiệt là phỉ chí ao ước bấy lâu. Nhưng Nguyễn-Huệ nghe tin ấy ra đánh bắt được ông đem giết, thiệt là ứng với câu: kêu lắm lại càng tan xác lắm.

Xác không, vốn những cạy tay người,
Khôn khéo làm sao, đốt cũng rời[52]
Kêu lắm, lại càng tan xác (tác) lắm,
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.

Chú thích của bản in

  1. Có bản chép: Bút nghiên phó mặc.... ↩
  2. Ghe. — ↩
  3. Có bản chép: Cả giận thời thôi có nghĩ khôn. ↩
  4. Mấy tập này có đăng trong Đông-dương tạp-chí. ↩
  5. Hai cuốn này hiệu Đông-Kinh ấn-quán ở Hà-nội đã in bán. ↩
  6. Ghe ↩
  7. Mắc cở. ↩
  8. Trếch. — ↩
  9. Lem luốc. — ↩
  10. Có bản chép: Toan từ nhem nhuốc thay nghề khác. ↩
  11. Có bản chép: Bao nả công trình, tạch cái thôi! ↩