Trang chủ Viện

Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm

86 — HAI BÊN THỀ NGUYỀN CÙNG NHAU

Chương 8 / 16

86 — HAI BÊN THỀ NGUYỀN CÙNG NHAU

TIỂU DẪN. — Đoạn này là chỗ Lương-Sinh và Dao-Tiên hai người thề-nguyền gắn-bó với nhau.

Trên yên bút giá, hương bình,
Tiên hoa ngày trước để dành hai trương.
Tiên thề tay thảo một chương,
Lọn lời chép núi, đầy hàng tạc sông 1.
Chứng trên vằng-vặc vừng trong 2,
Lại ghi Hương, Nguyệt 3 trên dòng cuối trương.
Triện-thành 4 nghi-ngút tuôn nhang,
Mấy lời khấn nguyện mặc chàng trước sau.
Ép nài nể ý đôi hầu,
Vén xiêm ngồi xuống gật đầu vài phen.
Văn thề trao chịu hai tiên,
Kìa lòng vàng đá, nọ nguyền tóc tơ.
Ỷ hoa 5 song-sóng người thơ,
Bóng hồng chung vẻ hương đưa lẫn mùi.
Cờ lòng 6 nghe cũng láng-lai,
Trong khi gắn-bó ra bài lần-khân.
Nàng rằng: « Bồ-liễu 7 chút thân,
Móc đường 8 những lệ chúa xuân phải phiền.
Trăm năm nhẹ một tấm nguyền,
Vừng soi đã hổ với trên đỉnh đầu.
Thề lòng đợi bến hà-châu 9,
Đợi nhau trên Bộc trong dâu 10 ru mà!
Dám xin tính rộng toan xa,
Bảng vàng treo đã, đuốc hoa 11 vội gì.
Một chiều thêm một nể vì,
Lọ mây ngồi với mưa đi mới tình.
Chuyện-trò thêm gắn sắt đanh,
Dùi sương chợt mảng trên thành điểm năm.
Giục ai giọt lệ khôn cầm,
Rốn thêm căn-vặn, lưu tâm mấy lời.
Sầu đâu cũ mới xui người,
Bên băng gác tía, bên dời song thưa.

CHÚ THÍCH. — 1. Lời thề lâu bền tựa núi sông. — 2. Là vừng trăng; trên có mặt trăng chứng giám. — 3. Là tên hai con hầu của nàng Dao-Tiên lúc bấy giờ cũng có mặt ở đấy. — 4. Là cái nắp lư-hương con triện. — 5. Là ghế. — 6. Theo câu thơ cổ: Lòng ta phấp-phới như cờ bay. — 7. Là cây bồ cây liễu, hai thứ cây yếu-ớt ví như người đàn bà. — 8. Sương móc ngoài đường. Xuất điển ở câu kinh Thi: « Yểm-ấp hành lộ, khởi bất túc dạ, vị hành đa lộ ». (Ngoài đường đầm-đìa những sương móc, ta há chẳng muốn đi khuya đi sớm, vì sợ ngoài đường nhiều móc). Ý nói người con gái sợ ra đường gặp người ghẹo bỡn. — 9. Hà châu là bãi sông, xuất điển ở câu kinh Thi: « Quan-quan thư-cưu, tại hà chi châu, yểu-điệu thục-nữ, quân tử hảo-cầu. » (Ríu-rít chim thư-cưu, kêu ở ngoài bãi sông, yểu-điệu người thục-nữ, sánh đôi cùng người quân-tử). Thơ khen bà phi vợ vua Văn-vương nết-na đoan-chính. — 10. Bộc là sông Bộc. Đời Xuân-thu vua nước Vệ đi qua sông Bộc, nghe thấy có tiếng đàn dâm lắm, hỏi ra mới biết ngày xưa có quan Thái-sư vua Trụ trẫm mình ở đấy, nên những bài đàn (đờn) ấy vẫn lưu truyền tự đời vua Trụ. Trong dâu: chữ lấy trong kinh Thi: « Kỳ ngã vu tang trung » (hẹn ta ở trong bãi dâu), Trên bộc trong dâu: nghĩa bóng nói thói dâm-bôn. — 11. Bảng vàng là bảng biên tên các người thi đỗ (đậu); ý nói đi thi đỗ. Đuốc hoa đốt ở phòng vợ chồng mới; ý nói cưới vợ.

87 — HAI BÊN LẠI GẶP NHAU

TIỂU-DẪN. — Đoạn này là lúc Lương-Sinh ly-biệt Dao-Tiên đã lâu lại gặp nàng rồi cùng kể tâm-sự cho nhau nghe.

Tưởng bây giờ là bao giờ?
Song song đôi mặt còn ngờ chiêm-bao.
Bấy lâu mưa khóa gió rào.
Ngoài muôn nghìn dặm biết bao nhiêu tình.
— « Biết đâu hương lửa ba-sinh,
« Còn trăng còn gió còn dành duyên ta.
« Dịp đâu đã nhỡ[92] lại hòa,
« Mới là tơ vận, mới là nguyệt xoay. »
Nàng nghe giọt tủi thêm đầy,
Cạn lời lại giãi niềm tây mọi lời.
— Rằng: « Vâng mừng trộm cho người.
« Đã duyên đằm-thắm lại vời giầu sang.
« Tiếc thay sương tuyết cũ càng.
« Lối duyên ai nghĩ tự chàng rắc gai.
« Thề hoa vì tiếng hơi hơi,
« Vẫn ghi lòng kẻo thẹn lời với hoa.[93]
« Soi người còn đó trăng già,
« Ai ngờ vàng đá xẩy ra cát lầm.
« Duyên đâu nữa để mà làm!
« Dện[94] vương lại mấy phen nhầm[95] nữa đây.
« Bấy lâu chút mảnh riêng tây,
« Ái-ân này đến đêm này là xong.
« Tiên thề dù hãi chút lòng,
« Trên mồ một chén, rượu trong cũng là.
« Thói thường ấm lạnh thế mà,
« Trách ai rẻ-rúng cho ta sượng-sùng.
« Giãi lòng với mảnh trăng trong,
« Tạ lòng vâng đã biết lòng thế thôi. »
Trước lan so bóng ngán lời,
Trăng mờ gương lạnh, dế rời khúc ngâm.
Gió thương mây thảm âm-thầm,
Dần-dần ngọn hạnh như đầm hạt mưa:
— « Chủ-trương kia hỡi ông tơ!
« Nào ai gió lật trăng lừa với ai!
« Mảnh gương ai bẻ làm hai,
« Biết đâu mà được giãi bày duyên-do.
« Mảnh son 1 dầu được giải cho,
« Thì cam há quản tươi khô 2 đâu mà.
« Kể từ doanh-liễu dời xa,
« Cửa Lưu 3 khi ép, đình ba 4 khi tìm.
« Bắc nam dặm dứt đường chim 5,
« Vì ai bèo nổi mây chìm bấy lâu!
« Nắm xương mai, sá nghĩ đâu,
« Nghĩ chăng, nhưng nghĩ lầm nhau tại mình.
« Hay đâu cơ-hội còn dành,
« Gác vàng lại nhủ gió thanh đưa đường.
« Buổi này hợp mặt tròn gương,
« Mới hay còn có lửa hương kiếp này.
« Nhân sao nương náu chi đây?
« Những sao nông-nổi bấy nay dạy cùng. »
Càng nghe càng một não-nùng,
Ai hay ai cũng còn lòng chưa quên.
Tình kia nào phụ chi duyên!
Gió run mưa rẩy cho nên cớ nào!
Sự-tình kể hết tiêu-hao:
« Đã đành chiếc bách 6 sóng đào lênh-đênh.
« Thương ôi muôn dặm biên thành,
« Xa-xôi nào thấu dữ lành tin hơi.
« Xót lời nên mới ngỏ lời,
« Gặp nhau cùng khách quê người biết sao. »
Một cơn gió giật mưa dào,
Nhẽ này người quyết dạ nào đinh-ninh.
— « Bụi Hồ 7 quét sạch sành sanh,
« Ơn trên sau nữa nghĩa mình giả[96] xuôi.
« Hẳn dù nhầm nhỡ[97] lứa đôi,
« Trót thề để chút đền bồi cũng xong.
« Họa khi trời cũng chiều lòng,
Một chuông vàng 8 một chỉ hồng 9 cũng hay!
« Bọc da 10 dù đến thân này,
« Cũng đành tỏ chút tình ngay với người.
« Kiếp này đã dở dang rồi,
« Ra chi mà có tiếc đời làm chi!
« Thôi thì thôi có nghĩ gì,
« Thiệt mình mà giả[98] được nghì cũng nên ».

CHÚ THÍCH. — 1. Là tấm lòng, tâm sự mình. — 2. Là sống chết. — 3. Là cửa nhà họ Lưu; đây Lương-Sinh nói đến việc cha mẹ ép phải lấy con gái Lưu Tể-tướng. — 4. Là « đình Vọng-ba » (đình ngồi xem sóng) là nơi Lương-Sinh và Dao-Tiên thề nguyền cùng nhau; đây Lương-Sinh nói việc sang tìm nàng ở chốn cũ. — 5. Đường chim: xuất điển ở câu thơ ông Đỗ-Phủ: « Quan tái cực thiên duy điểu đạo » (cửa ải ngất trời, chỉ có đường chim đi được). — 6. Là thuyền (ghe) gỗ bách; đây ví thân phận lênh-đênh như chiếc thuyền ở giữa bể. — 7. Là giặc rợ Hồ. — 8. Dịch nghĩa chữ Kim-chung; chỉ sự làm quan. — 9. Dịch nghĩa chữ xích thằng: nói về việc hôn-nhân. —10. Là chết ở chiến trường lấy da bọc thây.

88 — NGỌC-KHANH THỦ TIẾT

TIỂU DẪN. — Lương-Sinh đi đánh giặc, tin đồn về rằng chết. Ngọc-Khanh mới để tang giữ tiết, nhất định khước các người xui dỗ mối lái.

Ngọc-Khanh xiết nỗi ngại-ngùng,
Đổi mầu xiêm trắng, kém thưng cơm vàng.
Xót vì chúng cũng khuyên nàng:
« Dây đàn đứt nối 1 là thường nghĩ sao ».
Thấy lời canh yến lao-sao,
Càng chan giọt thắm, càng bào lòng son.
Rằng: « Cương-thường 2 nặng núi non,
« Hãy còn trời đất hãy còn di-luân 3.
« Vẻ chi một mảnh hồng-quần,
« Chủ hoa đành đã đông quân 4 đấy rồi.
« Thôi thôi đã vậy thì thôi!
« Cũng liều má phấn cho rồi ngày xanh!
« Luân-thường cốt gánh lấy mình,
« Treo gương trinh bạch rành rành cho coi.
« Mảng bao dầy mỏng thói đời,
« Đợi tuần ráo cỏ 5 chê cười như không.
« Dẫu rằng mòn núi cạn sông,
« Gương này quyết chẳng soi chung mấy người.
« Lưỡi oanh khéo uốn ra lời,
« Gớm thay cái mặt con người vô-lương ».

CHÚ THÍCH. — 1. Dịch theo chữ tục-huyền (nối dây); dây đã đứt lại nối; nghĩa bóng là người góa (quá) lại lấy người khác. — 2. Xem câu chú thích (6) về bài thơ Vịnh bà Phan-thị-Thuấn ở trang 33. — 3. Luân-thường. — 4. Đông-quân là chúa mùa xuân làm chủ các hoa: người con gái đã hứa gả cho người nào cũng ví như hoa đã có chủ rồi. — 5. Điển cũ: ông Trang-tử xưa gặp một người con gái đang quạt mồ, ông hỏi, người ấy nói khi chồng chết có dặn lại rằng chờ cho đất mả ráo hãy đi lấy chồng, nên người ấy quạt cho chóng ráo. Bởi thế ta có câu: « Thương thay cho gái quạt mồ, ghê thay cho gái lấy vồ đập săng ».

NGUYỄN-ĐÌNH-CHIỂU 阮 廷 炤

Tục thường gọi là cụ Đồ-Chiểu, người làng Tân-khánh, huyện Bình-dương, tỉnh Gia-định trong Nam-kỳ; đậu tú-tài năm Thiệu-Trị thứ ba (1863). Chẳng may được ít lâu mắc đau, mù cả hai con mắt, cụ mới mở trường dạy học-trò ở tỉnh Biên-hòa, nhiều người nghe tiếng cụ đến theo học đông lắm.

Hồi quân Pháp sang đánh Nam-kỳ, cụ cũng theo các thân sĩ trong ấy chống cự lại, nay đây mai đó thật là gian-truân. Sau yên ổn rồi, cụ lại về Bến-tre lập một trường học, sinh-đồ càng ngày càng đông.

Nhà-nước biết cụ là người có tài mà chẳng may gặp cảnh khổ, định cấp cho cụ một số tiền để dưỡng lão, song cụ từ chối không lĩnh.

Về sau cụ ngày một yếu thêm, mắt đã mù tai lại điếc, thật là khối óc tinh anh phải giam hãm trong tấm thân tàn-tật; đáng ái ngại thay!

Những lúc nhàn-hạ, cụ bảo học-trò đọc cho nghe quyển truyện Tây-Minh của Tàu, nhân thấy có nhiều cảnh-ngộ thảm thương tựa thân-thế mình, cụ bèn theo đấy mà soạn thành quyển truyện Lục-vân-Tiên.

LỤC-VÂN-TIÊN

Truyện này là một quyển luân-lý tiểu-thuyết, cốt dạy người ta đạo làm người. Ngay đoạn mở đầu cụ đã nói rõ cái chủ-ý truyện:

Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu sửa mình.

Cụ muốn đem gương người xưa mà khuyên người ta về đường cương-thường đạo-nghĩa, trong truyện cụ khéo phản chiếu kẻ hay người dở, kẻ thiện người ác, mà kết cấu thành ra kẻ hay người thiện dù có gặp nỗi gian-truân khổ-sở, sau cũng được phần vinh-hoa sung-sướng, mà kẻ dở người ác dù có lúc giầu sang rực-rỡ, rút cục lại cũng đến tội vạ khốn cùng, để khuyên người ta nên:

Dữ răn việc trước, lành dè thân sau.

Đại lược truyện có thể chia ra làm 4 đoạn như vầy:

I. — Nguyên Lục-vân-Tiên, là một người học-trò có nết, có tài, con nhà phúc-hậu, đã đính-hôn với Vũ-thái-Loan, nhân gặp khoa thi, lên kinh-đô để kịp ngày vào trường. Lúc đi đường gặp nàng Kiều-nguyệt-Nga bị đảng giặc bắt, chàng bèn ra tay gỡ nàng thoát nạn. Sau hai bên từ-biệt nhau, nàng về nơi lỵ-sở nghiêm-đường, chàng đến chốn kinh-kỳ để kịp ngày vào thi.

II. — Chàng vừa đến nơi, chợt nghe tin thân-mẫu mất, vội vàng lìa chốn khoa-trường về nhà chịu tang. Đi đường vì nỗi đau buồn thụ bệnh mắt mù, đã gặp bọn dung-y pháp-sĩ lừa dối, tiền mất tật mang, lại gặp người bạn bất lương lập mưu hại. Sau tìm tới nhà nhạc-gia thì đã không cứu giúp lại sinh lòng nham-hiểm đem bỏ vào hang sâu. Sau may gặp một tiều-ông cứu ra, rồi gặp bạn hiền đem đến ở một ngôi chùa.

III. — Về phần Kiều-nguyệt-Nga, vì có một tên nịnh-thần muốn ép duyên không chịu, nhân có giặc Phiên sang quấy nhiễu, tên ấy bèn tâu với vua Sở bắt nàng sang cống vua Phiên. Nàng định thủ tiết, đi nửa đường đâm đầu xuống sông tự vẫn. May gặp ngư-ông quăng lưới vớt lên, sau đến ở một cái chùa.

IV. — Lục-vân-Tiên sau nhờ có thuốc tiên uống khỏi mắt, về nhà thăm nghiêm-đường, thăm Kiều-công (cha Nguyệt-Nga), rồi gặp khoa đi thi đỗ (đậu) trạng-nguyên; nhân có giặc Phiên lại sang quấy nhiễu, vua sai đi đánh, giặc thua tan. Lúc về chợt gặp Kiều-nguyệt-Nga ở chùa, hai bên nhận nhau, rồi lại được xum-họp một nhà. Sau nhân vua không có con, mới truyền ngôi cho Lục-vân-Tiên, thật là vinh-quang sung sướng. Còn như bọn gian-nịnh tham-ác trước đều bị tội vạ cực khổ cả.

Lời văn truyện này bình thường giản-dị, dù không có tài điêu-luyện như văn truyện Kiều, có giọng réo-rắt như văn Cung-Oán, nhưng cũng chải-chuốt thanh-tao, cũng là một áng văn hay trong nền quốc-âm ta.

89 — THƯƠNG GHÉT VỀ VIỆC ĐỜI

(Lời của một ông chủ quán hay chữ nói)

TIỂU DẪN. — Đoạn này là lúc Lục-vân-Tiên đã đến kinh-đô vào nghỉ trong quán trọ cùng với anh em bàn sách vở bàn văn thơ. Ông chủ quán vốn hay chữ, nhân thế cũng bàn luận các việc trong kinh sử. Đoạn này thật là một bài hợp thái về các điển-tích trong sách chữ nho.

Quán rằng: « Ghét việc tầm phào,
« Ghét cay ghét đắng ghét vào tới tâm.
« Ghét đời Kiệt, Trụ 1 mê dâm,
« Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
« Ghét đời U, Lệ 2 đa đoan,
« Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.
« Ghét đời Ngũ-Bá 3 phân-vân,
« Loạn-thần đa tiến nhân-dân nhọc-nhằn.
« Ghét đời Thúc-Quí 4 phân băng,
« Sớm hòa tối đánh lang-quàng rối dân.
« Thương là thương đức Thánh-nhân,
« Bị vì Tống, Vệ; Khuông, Trần tuyệt lương 5.
« Thương thày Nhan-Tử 6 dở-dang,
« Ba mươi mốt tuổi tiếc đường công-danh.
« Thương ông Gia-Cát 7 tài lành,
« Gặp cơn Hán mạt chịu đành tam-phân,
Thương thày Đổng-Tử 8 tinh-thần,
« Chí cao như thế tiếc phần không ngôi.
« Thương người Nghiêm-Lượng 9 ngùi-ngùi,
« Đã hay dẹp nước lại lui về cày.
« Thương ông Hàn-Dũ 10 chẳng may,
« Sớm dâng lời biểu, tối đầy đi xa.
« Thương thày Liêm, Lạc 11 mới ra,
« Gặp đời loạn phải về nhà dạy dân.
« Xem qua kinh sử mấy lần,
« Nửa thương nửa ghét tâm-thần vẩn-vương! »
Trực rằng: « Chùa đất phật vàng,
« Ai hay trong quán ẩn tàng kinh-luân.
« Thương dân sao chẳng lập thân,
« Đang khi nắng hạ, toan phần làm mưa 12? »
Quán rằng: « Nghiêu, Thuấn 13 thuở xưa,
« Khó ngăn Sào-Phủ 14, khôn ngừa Hứa-Do 15.
« Di, Tề 16 chẳng khứng giúp Châu,
« Núi non ẩn mặt, công hầu lảng tai.
« Ông Y, ông Phó 17 cao tài,
« Kẻ cày người cuốc đoái hoài chi đâu.
« Thái-công 18 xưa một cần câu,
« Sớm hôm sông Vị mặc dầu vui chơi;
« Nghiêm-Lăng 19 cũng bực cao tài,
« Áo tơi một mảnh lặng ngồi thả câu;
« Trần-Đoàn 20 tiên phẩm khác mầu,
« Gió trăng bỡn cợt vương hầu chiêm bao.
« Người nay có khác xưa nào,
« Muốn ra ai cấm, muốn vào ai ngăn? »

CHÚ THÍCH. — 1. Kiệt là ông vua cuối cùng nhà Hạ bên Tàu; Trụ là ông vua cuối cùng nhà Thương; là hai ông vua dâm ác. — 2. U, Lệ là hai ông vua dở về đời nhà Chu. — 3. Đời Ngũ-Bá về cuối đời nhà Chu, vì quyền thế nhà vua đã suy nên năm nước mạnh tranh đánh nhau mà chiếm lấy bá-quyền. — 4. Đời Thúc-Quí về cuối đời nhà Đường bên Tàu, năm họ tranh cướp lẫn nhau, là một hồi nước Tàu nhiễu loạn lắm. — 5. Đây là nói về đức Khổng-Tử lúc đi chơi các nước chư-hầu gặp nhiều hồi gian-truân: bị vi Tống, Vệ là phải vây ở nước Tống nước Vệ; Khuông, Trần tuyệt lương là hết lương ăn ở nước Khuông nước Trần. — 6. Nhan-Tử (tức Nhan-Uyên) là người học-trò giỏi nhất của đức Khổng, chả may mất sớm. — 7. Tức là ông Gia-cát-Lượng là một ông tướng giỏi giúp ông Lưu-Bị nước Thục về đời Tam-quốc nhưng không thành công. — 8. Tức là ông Đổng-trọng-Thư, ở đời vua Hán Vũ-đế, đối sách bài « Thiên nhân tam sách » đỗ đầu, nhưng sau vua không biết dùng. — 9. Tức là Dữu-nguyên-Lượng giúp nhà Tấn nhất thống được thiên-hạ sau phải bãi chức về nhà cày ruộng. — 10. Ông Hàn-Dũ là một nhà đại văn-học đời Đường dâng biểu can vua, phải giáng chức ra làm quan ở ngoài. — 11. Tên hai con sông ở chỗ quê ông Chu ông Trình (nên gọi ông Chu là thầy Liêm, ông Trình là thầy Lạc); hai ông ở về cuối đời Tống, trong nước loạn-lạc không muốn làm quan, mới về nhà dạy học. — 12. Ý nói: đương khi trong nước có việc sao không ra giúp nước. — 13. Là tên hai ông thánh-quân bên Tàu đời xưa; Đường, Ngu là họ hai ông vua ấy. — 14 và 15. Sào-Phủ, Hứa-Do là hai người hiền-nhân đời xưa, một người vua Nghiêu truyền ngôi cho, một người vua Thuấn truyền cho, đều không chịu, ở nhà cày cấy làm ăn. — 16. Di là Bá-Di, Tề là Thúc-Tề: hai ông đều là bày tôi nhà Thương; đến khi nhà Thương mất nước, không chịu làm quan với nhà Chu, vào ẩn trong núi. — 17. Y là Y-Doãn, Phó là Phó-Duyệt, đều là bực đại-tài về đời Tam-đại (Hạ, Thương, Chu) mà không chịu ra làm quan, ở nhà cày cuốc. — 18. Tức là ông Lã-Vọng lúc chưa gặp vua Chu Văn-vương là ông vua hiền, thường câu cá trên sông Vị. — 19. Tức là ông Nghiêm-tử-Lăng (xem câu chú-thích (5) ở trang 15). — 20. Trần-Đoàn ở đời nhà Tống có phép tiên biết việc sau, nhưng không chịu ra giúp nước, vào ẩn trong núi.

90 — NGUYỆT-NGA TRẪM MÌNH

Nguyệt-nga dạ xót như bào,
Đêm chong đèn hạnh, dầu hao than dài.
Thất tình trâm lược biếng cài,
Bên màn buông xõa tóc dài ngồi lo.
Chiêu-quân 1 xưa cũng cống Hồ,
Bởi ngươi Diên-Thọ 2 họa đồ cho nên.
Hạnh-Nguyên 3 xưa cũng hòa Phiên,
Bởi ngươi Lư-Kỷ 4 cựu hiềm còn ghi.
Hai nàng trước đã phải đi,
Một vì ngay chúa, hai vì thảo cha.
Chiêu-quân nhảy xuống Hắc-hà,
Thương vua nhà Hán hóa ra liều mình.
Hạnh-Nguyên nhảy xuống Trì-linh,
Thương chàng Lương-Ngọc chút tình phôi-pha.
Đến nay bạc phận là ta,
Nguyện cùng bức tượng đến già chung thân.
Tình phu phụ, nghĩa quân thần,
Làm người trọn nghĩa xa gần mới nên.
Trung, tình gánh nặng hai bên,
Nếu ngay cùng chúa, ắt quên ơn chồng.
Thôi thì một thác là xong,
Lấy mình báo chúa, lấy lòng sự phu.
Kéo buồm thuyền[98] tếch xa khơi,
Họ-đương ai cũng ngùi-ngùi ngó trông.
Mưa rầm vừa tới bể[99] đông,
Mênh-mang trời thẳm, đùng-đùng sóng giao.
Đêm nay chẳng biết đêm nào,
Vừng trăng mây vẩn, bóng sao sương mờ.
Canh khuya phẳng-lặng như tờ,
Chạnh niềm nhớ đến tóc tơ chẳng tròn.
Than rằng: « Nọ nước, kìa non,
« Cảnh nhìn như cũ, người còn đi đâu? »
Quân hầu nhân ngủ đã lâu,
Nàng ra tựa án rèm châu một mình.
Thề rằng: « Có bóng trăng thanh,
« Trăm năm xin gửi chút tình lại đây;
«Vân-Tiên chàng hỡi có hay.
« Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng. »
Than rồi gói tượng vai mang,
Nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay.

CHÚ THÍCH. — 1, 2. — Chiêu-quân là cung-nữ vua Hán, phải tay nịnh-thần là Mao-diên-Thọ vì nỗi thù hiềm, họa đồ mỹ-nhân dâng cho vua Phiên để bắt nàng phải sang cống Hồ; sau bà đi đến sông Hắc-thủy đâm đầu xuống đấy tự tận. — 3, 4. Hạnh-Nguyên ở đời nhà Đường vì Thái-sư bấy giờ là Lư-Kỷ nhân có hiềm với cha nàng, mới tâu vua bắt nàng sang cống Phiên; sau nàng đi đến Lạc-nhạn-nhai đâm đầu xuống đầm Trì-linh tự-vẫn để thủ tiết với chồng là Mai-lương-Ngọc.

QUAN-ÂM THỊ-KÍNH TRUYỆN

Vô-danh thị

Truyện này là truyện bà Thị-Kính người nước Cao-Ly, nguyên kiếp trước là đàn ông, tu hành đắc đạo sắp thành Phật, nhưng đức Thích-Ca muốn thử lòng, mới bắt đầu-thân xuống làm con gái nhà họ Mãng, rồi suốt đời bắt gặp nhiều cảnh oan khổ để xem sao.

I. Lớn lên có tài sắc, có nết na, cha mẹ gả cho một người thư-sinh tên là Thiện-Sĩ con nhà họ Sùng. Hai vợ chồng ăn ở với nhau rất hòa thuận. Một đêm chồng ngồi đọc sách, bà ngồi cạnh khâu, chợt khi chồng mệt tựa bên mình ngủ, bà trông trên cầm chồng, thấy râu mọc ngược, sẵn con dao cầm tay mà sắp cắt đi. Bỗng chồng giật mình thức dậy, thấy thế tưởng vợ có bụng hại mình, liền kêu (la) lên; cha mẹ chạy đến cứ một mực đổ riết cho bà, rồi sai mời cha bà sang trách móc và trả lại con.

II. Bà về nhà cha mẹ, nỗi oan-uổng, tình âu-sầu, không thổ-lộ cho ai biết được; thoạt tiên bà toan bề tự tận, nhưng nghĩ mình là con một, cha mẹ thì già, không nỡ dứt tình; bà bèn quyết chí đi tu cho tròn quả phúc để đền ơn sinh-thành. Bà mới giả hình nam-tử, đổi tên Kính-Tâm, trốn nhà đến tu ở chùa Vân-tự.

III. Kính-Tâm nương-náu cửa chùa, mối sầu nguôi dần. Bỗng đâu một cái tai vạ bất kỳ sẩy đến. Nguyên ở gần chùa có một người con gái là Thị-Mầu đương kén chồng, thường đến lễ chùa, thấy Kính-Tâm dáng người có duyên, sinh ra phải lòng, Kính-Tâm thì vẫn hờ-hững thờ-ơ; nhưng Thị-Mầu lửa dục đã nhóm lên khó dập tắt được, mới thông-dâm với đứa thương-đầu (đầy tớ) thành ra có mang. Làng biết gọi ra tra hỏi. Thị-Mầu đổ cho Kính-Tâm. Kính-Tâm khó bề biện-bạch, làng mới sai đánh và bắt khoán: thế lại mắc oan tầy đình lần thứ hai nữa.

IV. Được ít lâu Thị-Mầu sinh đứa con trai đem ra chùa bảo trả Kính-Tâm. Kính-Tâm nghĩ thương thằng bé mới đem về nuôi nấng chỉ mình biết lòng mình; được ba năm, đứa bé đã khôn lớn, coi bộ khôi-ngô, thì Kính-Tâm bỗng bị đau mất: thế là Phật đã cho siêu thân rồi đó. Trước lúc chết viết một bức thư để lại cho cha mẹ.

V. Sau sư vãi trong chùa ra thăm, xét di-hài mới biết Kính-Tâm là đàn-bà, bấy giờ làng mạc mới biết tình oan của bà. Lại đến khi nhà xem bức thư tuyệt-mệnh (mạnh) mới biết tội giết chồng là oan. Chồng từ khi bà đi cũng có lòng thương nhớ, đến khi thấu tình đầu, bèn cùng với cha mẹ bà sang bên chùa ma chay, rồi cũng trọn đời tu hành ở đấy. Sau đức Phật xét bà quả là người tu hành đắc-đạo cho bà làm Quan-âm bồ-tát.

Xét trong kinh Phật, bồ-tát (bodhisattva) là bậc tu-hành gần trọn đạo còn một kiếp nữa là thành Phật. Đức Quan-Âm cứ trong kinh Ấn-Độ tức là Avalokiteçvara, ngài sắp thành phật nhưng còn muốn cứu thoát cả chúng-sinh trong trần-thế rồi mới thăng Phật. Đến khi đạo Phật truyền sang Trung-quốc mới nhân truyện một vị nữ-thần là bà Thị-Kính mà đem làm Phật Quan-Âm. Kể đối với lịch-sử thì cũng có một phần sai lạc, nhưng cứ xét tình-tiết trong truyện thời thật là hay mà một người có bụng từ-bi như bà Thị-Kính này cũng đáng vào bực bồ-tát.

Đến như lời văn quyền (cuốn) truyện này thì dù không réo-rắt như văn Cung-oán, không sắc thép như văn truyện Kiều, nhưng thật thanh thoát tao nhã, nhiều đoạn không kém gì văn hai quyển kia mà không có chỗ nào quê kệch, câu nào non ép, thật cũng là một quyển truyện có giá trị trong quốc-văn ta.

91 — BÀ THỊ-KÍNH XUẤT GIA ĐI TU

Phòng riêng vò-võ hôm mai,
Trông ngày đằng-đẵng lại dài hơn năm.
Thương chàng giọt ngọc đầm-đầm.
Mùi ăn chẳng nhớ, giấc nằm chẳng ngon.
Nực cười sự cỏn còn con,
Bằng lông mà nẩy ra cồn Thái-sơn.
Vẻ chi chút phận hồng-nhan,
Cành hoa nở muộn thời tàn mà thôi.
Tủi thay tóc bạc (hạc) da mồi,
Vì ai nên phải đứng ngồi chẳng khuây.
Vò giày chút phận thơ ngây,
Sự vui chẳng thấy, thấy ngay sự phiền.
Lấy chi báo đức sinh-thiềng 1,
Để đem má phấn mà đền trời xanh?
Có khi dốc chí tu-hành,
Lánh mình trần-tục, nương mình thuyền-môn 2.
Độ-trì nhờ đức Thế-tôn 3,
Nhỡ nhàng[100] thuở trước, vuông tròn mai sau.
Nghiêm-từ 4 dành phúc về sau,
Họa đền nghĩa nặng ân sâu nghìn trùng[101].
Thượng-thừa 5 là phật là tăng,
Xích-thằng đã ải, kim-thằng 6 hẳn dai.
Chỉn e thưa gửi rõ bài,
Thương con ắt chẳng nỡ hoài cho đi.
Thôi thôi xuất cáo làm chi,
Thân này còn quản thị-phi được nào.
Bàn thầm mọi lẽ thấp cao,
Ba mươi sáu chước, chước nào là trên 7?
Xuất gia quyết một tâm liền,
Phụ tinh, đới nguyệt 8 bước lên dặm tràng.
Quần chân áo chít dịu-dàng,
Giả hình nam-tử ai tường căn-nguyên.

CHÚ THÍCH. — 1. Đức sinh-thiềng (hay thành) là công ơn cha mẹ đẻ ra mình và gây dựng cho mình. — 2. Là cửa Phật. — 3. Đức Thế-tôn là đức Phật tổ. — 4. Nghiêm từ là cha mẹ: Chữ nghiêm nói về cha, chữ từ nói về mẹ. — 5. Là cỗ xe lớn, ý nói phép Phật như cỗ xe lớn đưa người ta đi đến cõi Phật. — 6. Xích-thằng là dây đỏ như chữ tơ-hồng, chỉ việc nhân-duyên vợ chồng; Kim-thằng là dây vàng, chỉ phép Phật mầu-nhiệm. (Điển trong kinh Phật). — 7. Tích lấy ở Nam-bắc-triều: Đàn-công bảo Vương kính-Tắc: « Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách » nghĩa là trong ba mươi sáu chước, chước chạy là hơn. Xem câu trong truyện Kiều: « Ba mươi sáu chước chước gì là hơn ». — 8. Nghĩa là đầu đội sao trăng; ý nói lúc ban đêm.

92 — BÀ THỊ-KÍNH NUÔI CON THỊ-MẦU

Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
Bỗng nghe tiếng trẻ dưới hiên giật mình.
Ngảnh đi thời dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hóa ra tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn[102] mày dầy!
Chân-chân rằng: « Trả con đây » mà về.
Cơ thuyền kể đã khắt-khe,
Khéo xui ra đứa làm dê-đêu mình.
Nhưng thôi trong dạ hiếu sinh 1,
Phúc thì làm phúc, dơ đành phận dơ.
Cá trong đáy nước sởn-sơ,
Thời nay chẳng cứu còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù-lao 2,
Xót tình măng sữa nưng vào trong tay.
Buổi sau sư-phụ mới hay,
Dạy: « Như thế ấy thì thầy cũng nghi.
« Nếu như khác máu ru thì,
« Con ai mặc nấy can gì đa mang? »
— Bạch rằng: « Muôn đội thầy thương,
« Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
« Dẫu xây chín đợt phù-đồ 3,
« Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
« Vậy nên con phải vâng lời,
« Mạng người khôn lấy làm chơi mà liều ».
Sư nghe thưa thốt mấy điều,
Khen rằng: « Cũng có ít nhiều từ-tâm.
« Ngỡ là nước lã mà lầm,
« Cũng đem giọt máu tình thâm hòa vào ».
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện 4 làm sao cho tuyền.
Nưng niu xiết nỗi chuân chuyên,
Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến đâu ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương-đầu 5.
Mình là hai, với Thị-Mầu là ba.
Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hóa ra đỡ buồn.
Khi trống gióng, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
Lọ phương hoạt-ấu 6 lọ thầy bảo anh 7.
Độ trì đã sẵn kim-kinh 8,
Ma-vương 9 kia cũng phải kinh lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy năm mà đã lên ba tuổi rồi.
Con mày 10 mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác vời bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ-cừu 11 dễ sáng tiền-trình hơn xưa.

CHÚ THÍCH — 1. Muốn cho được sống. — 2. Cù lao nghĩa là nhọc nhằn luôn (hoài), thường dùng để nói công ơn cha mẹ, đây là nói người trông nom nuôi nấng một đứa bé. — 3. Phù-đồ là tháp nhà chùa. — 4. Theo câu ca dao ta: « Tò vò mà nuôi con nhện... ». Ý nói nuôi con của người khác. — 5. Thương-đầu là đứa đã thông dâm với Mầu-thị mà đẻ ra đứa bé ấy. — 6. Hoạt-ấu là làm cho đứa bé sống. — 7. Bảo-anh là giữ gìn trẻ thơ. — 8. Là kinh vàng, chỉ kinh Phật. — 9. Là các ma quỷ. Ý nói nhờ đức Phật mà phù hộ cho đứa bé được mạnh khỏe. — 10. Con mày: con của người khác, mình xin về nuôi. — 11. Thúng và áo cừu; nói một người con nối nghiệp cha mà lại giỏi hơn cha, như con thợ uốn cung lại biết thêm nghề đan thúng, con thợ rèn biết thêm nghề làm áo cừu.

LÝ-VĂN-PHỨC 李 文 馥

Tự Lân-Chi, người làng Hồ-khẩu, huyện Vĩnh-thuận (nay thuộc Hà-đông) đậu Cử-nhân năm Gia-Long thứ 18 (1819), làm quan đến Tham-tri, sau bị cách chức. Đến năm Minh-Mệnh (mạng) thứ 11 (1830) được cử sang sứ bên Pháp, sau được khai phục. Năm Minh-Mệnh thứ 16 (1835) lại phụng mệnh sang sứ Tàu.

Ông có tập thơ Sứ trình; quốc-văn cũng hay, có soạn quyển Nhị thập tứ hiếu và quyển Phụ-châm tiện lãm đều là những quyển sách có ích về đường luân-lý.

Chú thích của bản in

  1. Lỡ — ↩
  2. Huê — ↩
  3. Nhện — ↩
  4. Lầm. ↩
  5. a ă Trả. — ↩
  6. Lầm lỡ. ↩
  7. Ghe. — ↩
  8. Biển ↩
  9. Lỡ-làng. — ↩
  10. Có bản chép: ân sân gọi rằng. ↩
  11. Dặn. ↩