Trang chủ Viện

Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm

CHINH-PHỤ NGÂM

Chương 6 / 16

CHINH-PHỤ NGÂM

Khúc này nguyên-văn chữ nho của ông Thái-học-sinh Đặng-trần-Côn người làng Nhân-mục, (nay thuộc tỉnh Hà-đông) làm ra. Sau bà Nguyễn-thị-Điểm dịch ra quốc-văn mà bản dịch lại hay hơn bản nguyên-văn.

Đề-mục của khúc này là một đề-mục các nhà thi-sĩ nước Tàu nước ta thường đem ra ngâm vịnh, tức là các lời than-vãn của một người đàn bà còn trẻ tuổi mà chồng đi lính xa lâu không về. Nỗi ly-biệt, tình nhớ thương, phần lo cho chồng phải xông pha trận-mạc, phần tủi nỗi mình phải phấn ủ nhị tàn, ý ý âm-thầm, lời lời thiết-tha, thật tả rõ tình cảnh một người thiếu-phụ vắng chồng mà biết thủ tiết, kết lại một câu rằng mong cho chồng chóng được về để lại được sum vầy vui vẻ.

Lời văn khúc này thật là êm-đềm ảo-não, rõ ra giọng nói một người đàn bà buồn bã, nhưng có vẻ thê-lương hơn là vẻ đau đớn, không đến nỗi réo-rắt sầu khổ như giọng văn Cung oán: thật là lời văn hợp với cảnh vậy. Kể về phần hay thì không kém gì văn Truyện Kiều và văn Cung oán. Nhiều đoạn đặt theo thể liê-hoàn, chữ cuối câu trên láy lại làm chữ đầu câu dưới, cứ thế đặt dài tới mấy câu, cũng thành một giọng riêng và đọc lên nghe cũng có một vẻ hay riêng.

LÚC BIỆT LY

Ngoài đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dười-dượi[66] buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền[67] 1.
Nước có chảy mà phiền chẳng tả,
Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây.
Nhủ rồi, nhủ lại cầm tay,
Bước đi một bước giây giây lại dừng.
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo giọi,
Chàng sầu xa tìm cõi Thiên-san 2.
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo 3.
Săn Lâu-lan rằng theo Giới-tử 4,
Tới Man-khê bàn sự Phục-ba 5.
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Tiếng nhạc[68] ngựa lần xen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
Hà lương 6 chia rẽ đường này này,
Bên đường trông lá cờ bay ngùi-ngùi.
Quân trước đã gần ngoài doanh[69] Liễu 7,
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng-dương 8.
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu-dương biết thiếp đoạn trường này chăng 9?
Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng,
Hàng cờ bay trông bóng phất-phơ.
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nhìn dặng núi ngẩn-ngơ nỗi nhà.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Đoái trông theo đã cách ngàn,
Tuôn mầu mây biếc, trải ngàn núi xanh.
Chốn Hàm-dương 10 chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu-tương 11 thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu-tương cách Hàm-dương,
Cây Hàm-dương cách Tiêu-tương mấy trùng.
Cùng ngoảnh lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.

CHÚ THÍCH. — 1. Tả cái tâm-cảnh người chinh-phụ đưa chồng, bấy giờ tự giận mình không được bằng cái thuyền ở dưới nước, con ngựa ở trên bộ được cùng đi với người chinh-phu. — 2. Điển cũ: Tiết-nhân-Quí đi đánh Cao-ly, bắn ba phát tên hạ được Thiên-sơn. Đây nói tìm cõi Thiên-sơn là tìm tới chỗ giặc ở. — 3. Điển cũ: Ban-Siêu đi sứ Tây-vực về đến nước Thợn-thợn, nghe trong nước ấy có loạn, Siêu nói: Không liều vào hang beo không bắt được beo con. Đêm lẻn vào phá tan được giặc, thu phục được nước ấy. Đây nói ngàn hang beo là nói trận-mạc nguy-hiểm. — 4. Vua Lâu-lan giết quan sứ nhà Hán, ông Giới-tử lập mưu giả đò đem vàng ngọc vào dâng vua Lâu-lan rồi sai tráng-sĩ chém chết. — 5. Mã Phục-ba (Mã-Viện) là lão-tướng nhà Hán đánh được Man-khê. — 6. Là cầu sông. Có câu thơ cổ: chia tay nhau ở hà lương, nên thường cứ nói hà lương là nơi tống biệt. — 7. Chu-ác-Phu đem quân đi chống Hung-nô, đóng dinh Tế-liễu. — 8. Về đời Hán bên Tàu thường phải kéo quân ra ngoài cửa ải cự giặc Hồ. Tràng-dương là nơi gần cửa ải. — 9. Câu thơ cổ: Nhớ chồng vin cành dương liễu cho khuây. — 10. Tức là Hàm-kinh, kinh thành nước Tàu về đời Tần. — 11. Tên một con sông lớn về phần đất Sở. Xưa Tàu đóng kinh-đô ở Hàm-dương, người Tàu cho đất Sở là một nơi xa-xôi cách trở lắm, nên nhà văn Tàu tả cảnh biệt-ly thường dùng tiếng Tần Sở, tiếng Hàm-dương Tiêu-tương là hai nơi cách xa nhau lắm.

NHỚ MONG

Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai,
Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.
Trong cửa này đã đành phận thiếp,
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay.
Những mong cá nước vui vầy,
Bao ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh-phụ,
Chàng há từng học lũ Vương-tôn 1.
Cớ sao cách trở nước non,
Khiến người thôi sớm thời hôm đeo sầu.
Trang phong-lưu đương chừng niên-thiếu,
Sánh nhau cùng dan-díu chữ duyên.
Nỡ nào đôi lứa thiếu-niên,
Quan-sơn để cách hàn-huyên 2 sao đành.
Thủa lâm-hành 3, oanh chưa bén liễu,
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca;
Nay quyên đã giục oanh già,
Ý-nhi lại gáy trước nhà líu-lo.
Thủa đăng đồ 4 mai chưa dạn gió,
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông;
Nay đào đã quyến gió đông,
Phù-dung lại rã bên sông bơ-sờ.
Hẹn cùng ta Lũng-tây 5 nham ấy,
Sớm đã trông nào thấy hơi tăm.
Ngập-ngừng lá rụng cành trâm,
Buổi hôm nghe dậy tiếng cầm xôn-xao.
Hẹn nơi nao Hán-dương 6 cầu nọ,
Chiều lại tìm nào có tiêu-hao 7;
Ngập-ngừng gió thổi áo bào,
Bãi hôm tuôn dẫy, nước trào mênh-mông.
Tin thường lại, người không thấy lại,
Hoa dương tàn đã trải rêu xanh.
Rêu xanh mấy lớp chung quanh,
Chân đi một bước trăm tình ngẩn-ngơ.
Thư thường tới, người chưa thấy tới,
Bức rèm thưa lần giãi bóng dương 8.
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang,
Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai.
Thử tính lại diễn khơi 9 ngày ấy,
Tiền sen 10 này đã nẩy là ba.
Xót người lần-lữa ải xa,
Xót người nương chốn hoàng-hoa 11 dặm ngoài.

CHÚ THÍCH. — 1. Câu trong Sở-từ: Vương-tôn đi chẳng về. Đây ý nói người đi xa không về. — 2. Là lạnh ấm, khi lạnh khi ấm, cũng như nói khi mưa khi nắng. — 3. Là lúc bước chân đi. — 4. Là lúc lên đường. — 5. Theo câu cũ: Hẹn cùng ta chỗ Lũng-tây (tên đất), sao tới giờ mà không đến. Chữ ấy dùng nói chỗ hẹn nhau cùng gặp. — 6. Tên đất. — 7. Là tin tức. — 8. Là bóng mặt trời. — 9. Là đi xa. — 10. Là lá sen nhỏ mà tròn trông như đồng tiền. — 11. Hoàng-hoa là hoa cúc. Đời xưa sai lính đi thú, cứ tháng chín đi lại đến tháng chín về; tháng chín là mùa hoa cúc, nên nói nương chốn hoàng-hoa là nương náu nơi viễn-thú.

BUỒN RẦU

Đề chữ gấm 1 phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền 2 tin dở còn ngờ.
Trời hôm tựa bóng ngẩn-ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ-phờ tóc mai.
Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ-thơ thẩn-thẩn như không.
Trâm cài xiêm giắt thẹn-thùng,
Lệch vừng tóc rối, lỏng vòng lưng eo.
Dạo hiên vắng, thầm gieo từng bước,
Ngoài rèm thưa, rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chửa mách tin 3,
Trông rèm dường đã có đèn biết chăng 4.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi-thiết mà thôi!
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
Gà eo-óc gáy sương năm trống,
Hòe phất-phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng-đẵng như niên,
Mối sầu dằng-dặc tựa miền bể xa.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương[70] gượng soi lệ lại chứa-chan,
Sắt cầm gượng gẩy ngón đàn[71],
Duyên uyên kinh đứt, phím loan ngại trùng.
Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên 5.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm-thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm-thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau-đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết-tha lòng,
Cành cây sương dột, tiếng trùng 6 mưa phun.
Sương như búa bổ[72] mòn gốc liễu.
Tuyết nhường cưa sẻ héo cành ngô.
Giọt sương phủ bụi chim gù,
Sân tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi.
Vài tiếng dế, nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu.
Đâu xiết kể muôn sầu nghìn não
Từ nữ-công phụ-xảo 7 đều nguôi.
Biếng cầm kim, biếng đưa thoi,
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa,
Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói,
Sớm lại chiều ròi-rõi nương song.
Nương song luống ngẩn-ngơ lòng,
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai.
Biếng trang điểm lòng người sầu tủi.
Xót nỗi chàng ngoài cõi Giang-lăng.
Khác gì ả Chức chị Hằng,
Bến Ngân sùi-sụt, cung trăng chốc mòng.

CHÚ THÍCH. — 1. Nàng Tô-Huệ là vợ Đậu-Thao. Thao phải đi thú phương xa, nàng làm bài hồi-văn dệt chữ vào gấm, dâng vua xin cho chồng về — 2 Tục bói lấy đồng tiền gieo quẻ. — 3. Bởi câu thơ cổ: trước sân chim thước kêu là điềm tốt báo tin cho biết nhà có người đi xa sắp về. — 4. Ý nói: chỉ có ngọn đèn để làm bạn. — 5. Yên là đất Yên, ngoài ải, gần với rợ Hồ, chỉ nơi chồng đánh giặc ở đấy. — 6. Tiếng sâu kêu. — 7. Nữ công là công việc của người đàn bà như thêu, dệt, may, vá, v.v.; phụ xảo: là nghề khéo của đàn bà.

NGUYỄN-DU 阮 攸 (1765 - 1820)

Ông người làng Tiên-điền, huyện Nghi-xuân, tỉnh Hà-tĩnh. Tổ-tiên nhà ông đời đời làm quan với nhà Lê. Ông có khí-tiết, gặp loạn Tây-sơn, không chịu ra làm quan. Năm Gia-Long nguyên-niên (1802), ngài vời mãi mới ra làm Tri-phủ Thường-tín (Hà-đông). Năm thứ 8 ra làm cai-bạ Quảng-bình. Năm thứ 12, thăng lên Cần-chính-điện học-sĩ sung làm chánh-sứ sang cống bên Tàu. Đến khi về thăng Lễ-bộ hữu-tham-tri. Năm Minh-Mệnh nguyên-niên (1820) lại có mệnh sang sứ Tàu, nhưng chưa đi thì ông mất.

Ông giỏi nghề văn-chương mà quốc-văn lại hay lắm. Hồi gặp loạn Tây-sơn, ông không ra làm quan, chỉ lấy chơi bời săn bắn lám vui, trong 99 ngọn núi Hồng-sơn không chỗ nào chân ông không đi đến. Khi đi sứ Tàu về, ông có soạn một bộ Bắc-hành thi-tập và quyển truyện Thúy-Kiều (nguyên nhan là Đoạn-trường tân-thanh).

TRUYỆN THÚY-KIỀU

Truyện Thúy-Kiều nguyên ông Nguyễn-Du phỏng theo một bản tiểu-thuyết Tàu mà làm ra. Song không phải ông dịch y như nguyên-văn; ông chỉ phỏng theo cái cốt truyện của Tàu mà cách bố-cục, cách kết-cấu, cách thuật các tình-tiết, tả các người chủ-động trong truyện đều thay đổi châm-chước cho hợp với tâm-lý người Nam và phong-tục nước Nam.

Coi thân-thế ông cũng là một người có tài-đức mà không gặp thời, nên ông mượn truyện một người con gái có tài sắc có tiết-hạnh mà gặp nhiều cảnh gian-truân để bộc-bạch cái tâm-sự của ông; trong truyện ông lại khéo mô-tả thế-thái nhân-tình rạch-ròi chí lý, lời lời thấm-thiết, giọng điệu âm-thầm, đọc lên não-nùng ai-oán.

Lời văn thì thật là điêu-luyện: từ đầu chí cuối không câu nào non, không chữ nào ngượng mà đủ cả các lối văn: tả cảnh, tả tình, vẽ người, kể việc, lối nào cũng hay cả; thật là một áng văn tuyệt-bút trong nền quốc-âm ta, kể cả các truyện nôm của ta, không quyển nào được hoàn-toàn như quyển ấy.

Bởi vậy nên truyện Kiều phổ-thông nhất trong nước ta, trên từ các bậc văn-nhân, người khuê-các, dưới đến các hạng bình-dân, kẻ phụ-nhụ ai cũng ham đọc truyện này, ai cũng thuộc được ít nhiều câu trong truyện, rồi nhân đấy mà sinh ra bói Kiều, vịnh Kiều, làm bài tập Kiều, làm bài án Kiều: thật là một quyển sách rất có ảnh-hưởng về đường văn-học, đường phong-tục ở nước nhà.

TÀI SẮC HAI CHỊ EM THÚY-KIỀU

Đầu lòng hai ả tố-nga,
Thúy-Kiều là chị, em là Thúy-Vân.
Mai cốt-cách, tuyết tinh-thần;
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang-trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy-đặn, nét ngài nở-nang.
Hoa cười, ngọc thốt đoan-trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc-sảo mặn-mà;
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu-thủy, nét xuân-sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành;
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông-minh vốn sẵn tư (tính) trời,
Pha nghề thi-họa, đủ mùi ca-ngâm;
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ-cầm một trương;
Khúc nhà tay lựa nên xoang (chương),
Một thiên bạc-mệnh lại càng não nhân!
Phong-lưu rất mực hồng-quần,
Xuân-xanh xấp-xỉ tới tuần cập-kê.
Êm-đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

GIẢNG NGHĨA. — Đoạn này ở ngay đầu truyện Kiều. Trước khi kể tình-tiết truyện ấy, tác-giả cho ta được biết hai người chủ-động thế nào (présentation des personnages). Thuộc về lối văn tả người (portrait) cốt tả tài sắc hai chị em Thúy-Kiều.

Thoạt-tiên (4 câu trên) nói chung cả hai người, rồi tả riêng từng người: nàng Vân (4 câu trước), nàng Kiều (12 câu sau); sau cùng (4 câu cuối) nói cái phong-thái của hai người.

1. — Đoạn nói chung. — Đọc hai chữ tố-nga cũng đủ biết hai người là đẹp.

Mai cốt-cách, tuyết tinh-thần,
Một người một vẻ mười phân vẹn mười.

Rõ tả ra cái đẹp của hai người: vừa đẹp về hình thức (mai cốt-cách là nói dáng-điệu người đẹp tựa cây mai) vừa đẹp về tinh-thần (tuyết tinh-thần là nói tinh-thần trong như tuyết), hai người đều hoàn-toàn, mà mỗi người lại có một vẻ đặc-sắc riêng.

II. Nói về Thúy-Vân thì trang-trọng, đầy-đặn, nở-nang, đoan-trang, cười như hoa, nói như ngọc, tóc mây da tuyết: thật là một bức tranh đẹp rực-rỡ, nhưng rõ ra đẹp về hình-thức hơn đẹp về tinh-thần, suốt trong đoạn ấy chỉ tả cái sắc mà không nói đến tài. Khuôn trăng là nói hình mặt đầy-đặn như hình mặt trăng tròn, nét ngài là nói nét lông mày nở-nang như con ngài nằm. — Hoa cười ngọc thốt: ý nói cười tươi như hoa, nói hay như ngọc (phun châu, nhả ngọc cũng ý ấy). Mây thua nước tóc, tuyết nhường mầu da: ý nói tóc mượt đến mây cũng không bằng mà da trắng đến tuyết cũng phải kém.

III. Nói về Thúy-Kiều thì lại sắc-sảo hơn nhiều.

a) Nào sắc (câu 11 đến 14) thì thu thủy, xuân sơn, hoa thắm, liễu xanh, nghiêng nước nghiêng thành: thật là đẹp đậm-đà, có sắc có tình. Làn thu thủy nói mắt trong như nước mùa thu; nét xuân-sơn nói lông mày xanh như núi mùa xuân. — Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh là đối lại với câu: mây thua nước tóc, tuyết nhường mầu da; ghen với hờn vốn là tính-tình của người ta mà đem gán cho hoa liễu tức ví cây cũng như người vậy: đó cũng là một bút-pháp riêng (personnification). Nghiêng nước nghiêng thành: đẹp mà đến cười một tiếng nghiêng thành, cười hai tiếng nghiêng nước (theo câu thơ ông Lý-diên-niên) thật đã là đẹp lắm.

b) Đến tài (câu 15 đến 20) thì đủ cả cầm, ca, thi, họa, mà đặc-sắc nhất thì nghề đàn. Đàn giỏi đến làu cả các bậc ngũ-âm, mà ăn đứt hơn người là một trương Hồ-cầm, lại tự soạn lấy một điệu riêng là thiên bạc-mệnh. Con người thật là tài-hoa, nhưng cái tài-hoa ấy không phải là của một người chuộng sự vui chơi cho thỏa-thích, mà là của một người đa sầu đa cảm, vì vậy đàn lại hay gẩy khúc bạc-mệnh, hình như cái số-phận nàng Kiều sau này đã hiện ra ở cái khóe tài ấy rồi. Ngũ-âm là 5 thứ tiếng cao thấp khác nhau: cung, thương, giốc, chủy, vũ. — Hồ-cầm là lối đàn cầm của người Hồ đặt ra. Xoang là điệu đàn. — Bạc-mệnh là mệnh mỏng, không gặp may, không ra gì.

Trong hai đoạn tả người này, đoạn tả Thúy-Kiều dài hơn đoạn tả Thúy-Vân nhiều, vì nàng Kiều là vai chính trong truyện cần phải tả rõ hơn; vả nàng ấy sắc-sảo mặn-mà hơn, nên tả nàng Vân trong 4 câu đã đủ, mà tả nàng Kiều muốn cho đủ phải dài hơn, lại tả Vân trước rồi tả Kiều sau để nẩy ra ý Vân kém Kiều. Coi đó cũng đủ biết cái tài kết-cấu (composition) của tác-giả.

IV. Nói về phong-thái hai người thì rất mực phong-lưu đoan-chính: dù đã đến thì (cập-kê: tới kỳ cài-trâm; lệ bên Tàu con gái tới 15 tuổi thì cài trâm là tới kỳ sắp lấy chồng) mà vẫn kín-đáo (êm-đềm trướng rủ màn che), không thèm học cái thói hoa-nguyệt như ai (tường đông ong bướm đi về mặc ai: tường đông ong bướm là nói những tin đi mối lại bên ngoài: bên Tàu làm nhà thường xoay cửa về hướng đông, nên nói tường đông.)

Coi đoạn này đủ biết tài tả người của tác-giả thật khéo; nhất là đoạn tả Thúy-Kiều thật là một bức tranh đẹp đủ mọi vẻ, vừa đẹp về hình-thức vừa đẹp về tinh-thần, xứng với vai chính trong truyện. Có hai điều ta nên chú ý: 1º) bài này tức là cái mẫu văn tả người trong các truyện ta (nên so sánh với đoạn tả nàng cung-phi trong khúc Cung-oán) tả một cách bóng-bẩy (style imagé), thường mượn các vật ngoài mà hoặc ám-chỉ vào các vẻ trong người (métaphores) như khuôn trăng, nét ngài, làn thu-thủy, nét xuân-sơn; hoặc so sánh với các cái trong người (comparaisons) như hoa cười, ngọc thốt, mây thua nước tóc, tuyết nhường mầu da. 2º) Muốn cho nẩy tài sắc Thúy-Kiều thì tác-giả trước hãy tả Thúy-Vân rồi mới tả Thúy-Kiều để sóng vào đấy, khác nào như đem một bức tranh tuyệt đẹp mà để sóng với một bức đẹp vừa thì cái hơn kém thật rõ-rệt lắm.

76 — KIỀU ĐI CHƠI THANH-MINH GẶP MẢ ĐẠM-TIÊN

TIỂU DẪN. — Đoạn này tiếp ngay với đoạn trên. Nhân ngày hội Thanh-minh, Kiều cùng hai em đi tảo mộ và chơi xuân, nhân thế mà gặp mả Đạm-Tiên và chàng Kim-Trọng là hai việc rất có ảnh-hưởng đến cuộc đời Kiều sau này.

Ngày xuân con én đưa thoi 1,
Thiều-quang chín chục đã ngoài sáu mươi 2.
Cỏ non xanh rợn chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa[73].
Thanh-minh, trong tiết tháng ba,
Lễ là Tảo-mộ, hội là Đạp-thanh 3.
Gần xa nô-nức yến anh 4,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập-dìu tài-tử giai-nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nen 5;
Ngổn-ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng-vó (hồ) rắc, tro tiền giấy bay.
Tà-tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ-thẩn dan tay ra về.
Bước lần theo ngọn tiểu-khê,
Nhìn xem phong-cảnh có bề thanh-thanh.
Nao-nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho-nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Sè-sè nắm đất bên đường,
Dầu-dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: « Sao trong tiết Thanh-minh,
« Mà đây hương khói vắng tanh thế mà? »
Vương-Quan mới dẫn gần xa:
« Đạm-Tiên nàng ấy xưa là ca-nhi.
« Nổi danh tài sắc một thì,
« Xôn xao ngoài cửa thiếu[74] gì yến anh!
« Kiếp hồng-nhan có mỏng-manh,
« Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên-hương 6.
« Có người khách ở viễn-phương,
« Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
« Thuyền[75] tình vừa ghé tới nơi,
« Thì đà trâm gẫy bình rơi[76] bao giờ!
« Buồng không lặng ngắt như tờ,
« Dấu xe ngựa đã rêu lờ-mờ xanh.
« Khóc than khôn xiết sự tình:
« Khéo vô duyên mấy[77] là mình với ta!
« Đã không duyên trước chăng mà,
« Thì chi chút đỉnh, gọi là duyên sau ».
« Sắm sanh nếp tử xe châu 7,
« Vùi nông một nấm, mặc dầu cỏ hoa.
« Trải bao thỏ lặn, ác tà 8,
« Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm! »
Lòng đâu sẵn món thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa:
« Đau đớn thay phận đàn bà!
« Lời rằng bạc-mệnh cũng là lời chung!
« Phũ-phàng chi mấy[78] Hóa-công!
« Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi-pha.
« Sống làm vợ khắp người ta,
« Hại thay! thác xuống làm ma không chồng!
« Nào người phượng chạ loan chung 9?
« Nào người tích lục tham hồng 10 là ai!
« Đã không kẻ đoái người hoài!
« Sẵn đây ta thắp một vài nét hương.
« Gọi là gặp gỡ giữa đường,
« Họa là người dưới suối vàng biết cho ».
Lầm-dầm khấn-khứa nhỏ to,
Sụp ngồi, vài gật trước mồ, bước ra.
Một vùng cỏ áy 11 bóng tà,
Gió hiu-hiu thổi một và bông lau.
Rút trâm sẵn giắt mái đầu,
Vạch da cây, vịnh bốn câu ba vần 12.
Lại càng mê mẩn tâm-thần,
Lại càng đứng lặng tần-ngần chẳng ra;
Lại càng ủ dột nét hoa,
Sầu tuôn đứt nối, châu 13 sa vắn dài.

CHÚ THÍCH. — 1. Ngày giờ thấm-thoắt đi nhanh (lanh) như cái thoi dệt cửi hình tựa con én. — 2. Thiều-quang: bóng sáng mùa xuân; ý câu này nói đã sang tháng ba rồi. — 3. Xem câu chú thích (1) về bài thơ Kiều đi thanh-minh ở trang 25. — 4. Là chim én chim anh hai giống chim đẹp; ý nói tài-tử giai-nhân. — 5. Nen là một thứ cây thường mọc trên các đồi núi vùng Nghệ-an Hà-tĩnh, cành lá tươi tốt, trông xa tựa một người đứng; áo quần như nen là nói áo quần đẹp như núi nen đối với phần trên ngựa xe nhiều như nước chảy. — 6. Là hương trời, nói một người đàn bà đẹp. — 7. Nếp tử là áo quan (hòm) bằng gỗ tử; xe châu là xe đám ma. — 8. Thỏ là mặt trăng, theo điển trong Kinh phật: một con thỏ nhẩy vào lửa cho đồng loại ăn thịt mình để đỡ đói, sau được lên cung trăng. Chữ ngọc thỏ 玉 兔 cũng nghĩa ấy. Ác hay ô là con quạ, đây chỉ mặt trời, theo câu trong sách Hoài-nam-tử: « Tính mặt trời thịnh hóa ra con quạ ba chân ». Chữ Kim ô 金 烏 cũng nghĩa ấy. — 9. Nói những khách làng chơi đã tới lui nhà Đạm-Tiên. — 10. Là tiếc sắc biếc, tham mầu hồng, ý nói các tình-nhân của Đạm-Tiên. — 11. Áy là hơi héo. — 12. Là bài thơ tứ-tuyệt. — 13. Là nước mắt rỏ xuống như hạt châu. Câu này ý nói mối sầu của nàng Kiều bấy giờ hồ đứt lại nối, nước mắt rơi xuống giọt vắn giọt dài.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — Tóm đại ý các đoạn trong bài này.

2. Cảnh ngày hội Thanh-minh và cảnh chỗ mả Đạm-Tiên: hai cảnh có vẻ gì tương phản với nhau không?

3. Sao Thúy-Kiều trông thấy mả Đạm-Tiên lại hỏi đến duyên-do nàng? Xem một điều ấy đủ biết Kiều là người thế nào?

4. Trong lịch-sử nàng Đạm-Tiên có những điều gì là đặc-sắc khiến cho nàng Kiều động lòng?

5. Nàng Kiều nghe chuyện Đạm-Tiên cảm-tưởng ra thế nào?

6. Việc gặp mả Đạm-Tiên quan-hệ đến thân thế Kiều sau này thế nào?

II. Lời văn. — 1. Hai câu 3, 4 tả cảnh gì? Cảnh sắc ấy có hợp với cảnh mùa xuân không? — Nghĩa những chữ thanh-minh, tảo mộ. Hai câu 9, 10 tả cảnh gì? — Hai câu 11, 12 tả chỗ nào? — Những chữ tà-tà, thơ-thẩn nói ý gì? — Thanh-thanh, nao-nao, sè-sè, dầu-dầu, những chữ ấy có hình dung được các sự vật không? — Mong-manh: nghĩa gì? — Thuyền-tình, trâm gẫy bình rơi: nghĩa những chữ dùng nghĩa bóng ấy. — Thì chi chút đỉnh: ý nói gì? — Mặc dầu cỏ hoa: ý nói gì? — Mồ vô chủ: tại sao? — Châu sa: nghĩa. — Mòn-mỏi, phôi-pha: nghĩa. — Vợ khắp người ta, ma không chồng: sao vậy? — Suối-vàng: nghĩa — Nét hoa: nghĩa bóng.

2. Trích những đoạn văn tả cảnh trong bài này để chứng rõ cái đặc-sắc lối văn tả cảnh trong truyện Kiều.

3. Tìm những câu chuyển (transitions) trong bài này và nói qua cách đặt những câu chuyển trong bài văn.

77 — KIỀU GẨY ĐÀN[78] CHO KIM-TRỌNG NGHE

TIỂU DẪN. — Từ khi Kiều đi chơi Thanh-minh gặp chàng Kim-Trọng, về nhà hai bên tơ-tưởng nhau; sau Kim đến tìm Kiều, hai bên đã mấy lần gặp nhau. Lần này sau khi hai người đã thề nguyền gắn bó cùng nhau, Kim mới bảo Kiều gẩy đàn cho nghe. Trong các đoạn văn tả tài đàn của nàng Kiều, đoạn này là dài nhất và hay nhất.

Rằng: « Nghe nổi tiếng cầm-đài,
Nước non luống những lắng tai Chung-Kỳ 1. »
Thưa rằng: « Tiện-kỹ 2 sá chi?
Đã lòng dạy đến, dạy thì phải vâng. »
Hiên sau treo sẵn cầm-trăng 3,
Vội-vàng, Sinh đã tay nâng ngang mày.
Nàng rằng: « Nghề mọn riêng tay,
Làm chi cho bận lòng này lắm thân 4? »
So dần dây vũ dây văn 5,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung, thương 6.
Khúc đâu Hán, Sở chiến tràng 7,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng xen nhau!
Khúc đâu Tư-mã Phượng-cầu 8,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng!
Kê-khang này khúc Quảng-lăng 9,
Một rằng Lưu-thủy, hai rằng Hành-vân.
Quá-quan 10 này khúc Chiêu-quân,
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm-sập như trời đổ mưa.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đấy mà ngơ-ngẩn sầu.
Khi tựa gối, khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.
Rằng: « Hay thì thật là hay;
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!
Lựa chi những khúc tiêu-tao 11,
Thiệt lòng mình, cũng nao-nao lòng người. »
Rằng: « Quen mất nết đi rồi,
Tẻ vui, âu cũng tính trời biết sao!
Lời vàng, 12 vâng lĩnh ý cao,
Họa dần dần bớt chút nào được không! »

CHÚ THÍCH. — 1. Chung-Kỳ tức là Chung-tử-Kỳ người sành nghe đàn có tiếng ở đời Xuân-thu bên Tàu. Ý câu này nói xưa nay vẫn ao-ước muốn nghe giọng đàn của nàng. — 2. Nghề khéo hèn mọn. — 3. Tức là đàn nguyệt. — 4. Lắm thân: tiếng Trung-kỳ như: lắm thay! — 5. Dây vũ là dây to, dây văn là dây nhỏ. — 6. Cung, thương là hai thứ tiếng trong ngũ âm (đã chú-thích ở trên, tr. 79). — 7. Tên một khúc đàn; nghĩa đen là chỗ đánh nhau của nước Hán nước Sở (bên Tàu). — 8. Tức là phượng cầu kỳ hoàng (chim phượng tìm chim hoàng), tên khúc đàn của Tư-mã Tương-như đời nhà Hán gẩy, giọng não-nùng ai-oán đến nỗi nàng Trác-văn-Quân nghe thấy phải mê. — 9. Tên một khúc đàn thần dạy cho Kê-khang đời nhà Tấn gẩy. — 10. Là qua cửa ải: Bà Chiêu-Quân là cung-nữ vua Hán phải ép gả cho chúa Hung-nô, nên lúc qua cửa ải nhớ nước nhớ nhà gẩy một khúc đàn giọng bi-ai lắm. — 11. Là buồn, tẻ. — 12. Là lời nói đáng quý như vàng.

Chú thích của bản in

  1. Giặc giặc. — ↩
  2. Ghe. — ↩
  3. Đạc. — ↩
  4. Dinh. ↩
  5. Kiếng. — ↩
  6. Đờn. — ↩
  7. Bửa. ↩
  8. Huê. ↩
  9. Hiếm. — ↩
  10. Ghe. — ↩
  11. Giớt. — ↩
  12. a ă Bấy. ↩
  13. Đờn. ↩