Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm
107 — CÁC BỰC CAO-SĨ NƯỚC NAM TA
Chương 12 / 16
107 — CÁC BỰC CAO-SĨ NƯỚC NAM TA
Vua nước Ngụy hỏi Tử-Thuận: ai là người cao-sĩ trong thiên-hạ bây giờ? Tử-Thuận đáp: có ông Lỗ-trọng-Liên. Thời bấy giờ ai cũng lấy làm đích đáng. Thế nào gọi là người cao-sĩ? Đi theo về đường nhân nghĩa, giữ vững lấy nền đạo-đức, lợi lộc không thể dỗ-dành được, uy thế không thể hà-hiếp được, phàm vật trong thiên-hạ không cái gì chuyển động được lòng, như tiết-tháo ông Lỗ-trọng-Liên, 1 thật đáng là bực cao-sĩ. Nước Nam ở về đời nhà Trần có được năm người: ông Chu-An 朱 安 2 dâng sớ lên xin chém kẻ nịnh thần, trong triều ngoài dã sợ khiếp cả, rồi ông chụt mũ cáo quan mà về, không chịu ở trong vòng giàng buộc, trên thời quân-vương tôn kính, dưới thời công khanh khâm phục, thật là bực cao-sĩ hạng nhất; Đặng-Tảo 鄧 藻 thời cho sủng lộc làm cay đắng khó chịu, mà cam tâm ở chốn điền-viên; Trương-Đỗ 張 杜 ba lần can vua không nghe thời bỏ quan mà về ở ẩn; biết họ Hồ chuyên quyền mà chịu náu ở nhà không ra làm quan, như ông Bùi-mộng-Hoa 裴 夢 華; giả cách nghễnh-ngãng để tránh vạ không chịu thờ kẻ thoán-nghịch, như ông Trần-đình-Tham 陳 廷 琛 đều là bực cao-sĩ hạng thứ. Các ông ấy phẩm-hạnh thanh-giới cao-khiết, có cái phong thái người sĩ-quân-tử như đời nhà Tây-Hán bên Tàu, không phải kẻ tầm thường sánh kịp được. Bởi vì nhà Trần đãi kẻ sĩ thông-dung mà không hẹp hòi, hòa-dị mà có lễ-phép, cho nên nhân-sĩ thời bấy giờ ai cũng tự thụ lập, anh-hào tuấn-vĩ, vượt ra ngoài lưu-tục, làm cho quang vinh cả sử-sách, không thẹn với trời đất, há phải đời sau kịp được đâu.
Từ Lê triều trở xuống đã ít nghe có cái sĩ-phong ấy nữa. Ta thường xét sĩ-phong đời Tiền-Lê, đại để có ba lần biến đổi. Đời Lê-sơ thừa sau lúc nhiễu-nhương 3, các hàng nho-lưu hãy còn thưa-thớt lắm, như là làm nên đến chức thị-tụng mà có cái khí-phách anh-nghị, có cái thói cảm-ngôn như ông Nguyễn-thiên-Tứ, Bùi-cầm-Hổ; ở chốn lâm-tuyền 4, mà có cái tiết-tháo khiết-bạch, không có lòng cầu cạnh phú quí như Lý-tử-Cấu, Nguyễn-thời-Trung, đó là một thời. Đến khoảng năm Hồng-đức 5 (1570-1597), rộng mở đường khoa-mục, để kén kẻ văn tài, học-trò đua tập phù-hoa, chạm vẽ ra từng câu văn-chương, để hi-vọng lấy chức quyền yếu, cái khí tiết khảng-khái đã thấy suy đồi mất rồi. Tuy vậy, đường sủng lộc dẫu mở mà phép khuyến-hóa vẫn nghiêm, người nào điềm tĩnh vẫn được thăng lên làm quan, kẻ nào cầu cạnh vẫn phải ruồng đuổi cách về, cho nên những người ra làm quan còn ít kẻ xôn xao bôn cạnh, mà thiên-hạ còn biết quý danh nghĩa, không đến nỗi tệ cho lắm, đó lại là một thời.
Từ năm Đoan-khánh 6 (1505) trở về sau, lời thanh-nghị rất là suy đồi, thói ủy-mĩ lại càng thậm tệ; người làm quan thời ít giữ được thói thanh-liêm lễ-nhượng, chốn triều-đình thời không nghe thấy lời gián-chánh trực-ngôn; gặp việc thì chỉ dua nịnh mong cho được cẩu-miễn, thấy cơn nguy thì bán nước đi để thoát thân; hiệu là kẻ danh-nho mà cũng điềm-nhiên nhận lấy cái sủng lộc bất-nghĩa; nào là làm ra câu thơ bài hát để tán-tụng khoe-mẽ lẫn nhau, sĩ-tập bại-hoại đến thế là cùng; đó lại là một thời biến, tệ-tập không thể nói xiết được. Xét trong quốc-sử hơn một trăm năm mà chỉ được vài người cao-sĩ như ông Lý-tử-Cấu mà thôi; khá thương thay, những người danh-tiết sao mà hiếm có vậy!
Lê-quí-Đôn[127] (Kiến-văn-tiểu-lục)
Nguyễn-hữu-Tiến dịch (Nam-phong, số 32)
CHÚ THÍCH. — 1. Ông người nước Tàu, gặp lúc nhà Tấn xưng đế, thủ tiết không chịu theo, nhẩy xuống bể chết. — 2. Xem sự-trạng ông ở bài sau. — 3. Lúc loạn-lạc. — 4. Nơi rừng núi suối khe, chỗ ở của người ẩn-dật. — 5. Niên-hiệu vua Lê Thánh-tôn. — 6. Niên-hiệu vua Lê Uy-Mục.
108 — BÀI VĂN BIA ĐỀN THỜ ÔNG CHU-VĂN-AN
Tiên-sinh họ Chu húy là An, người huyện Thanh-đàm 1 xưa. Ở về đời Trần, trải bốn đời vua 2. Sau ẩn về ở núi Chí-linh 3, được phong tặng là Văn-Trinh-công và được tùng-tự 4 ở văn-miếu. Đền này là chỗ thờ riêng ngài, tục truyền là nơi ngài giảng-học khi xưa. Mấy đời đều có gia-phong, đến nay thờ làm phúc-thần. Xưa có bia chép sự-tích ngài, sau lâu ngày chữ đã mòn cả. Nay dân làng phụng thờ lại, đến xin tôi soạn lại. Tôi là kẻ hậu-sinh, lại là người đồng-huyện, không dám vì mình còn thiển vụng mà từ chối. Vậy xin chắp tay làm bài tự này.
Ôi! Người sĩ-quân-tử hơn người là ở điều dốc đạo bền lòng, cử-động theo nghĩa, không theo thói thường mà tự dối mình. Hễ bàn đến các bực nho-sĩ nước Việt ta, chỉ có tiên-sinh là đáng trọng hơn cả. Đương lúc làm quan, không tham danh-lợi, hạnh thật là cao! Những khi ở nhà, chăm giảng kinh điển, học thật là chính! Lại đáng kính-phục nữa là đạo thầy rất mực tôn-nghiêm, học-trò nhiều người thành-tựu. Cái ơn tiên-sinh đào-tạo nên người thật là vô cùng vậy!
Niên-hiệu Khai-thái 5, sung chức tư-nghiệp, trông nom việc dạy thái-tử, làm mô-phạm cho bọn học-trò, danh tiếng thật là vòi-vọi! Triều vua Thiệu-phong 6, giận kẻ quyền-thần, dâng sớ xin chém bảy đầu, làm rùng mình cả bọn gian-nịnh, trung nghĩa thật là chói-lọi! Nói vua không nghe, liền xin từ chức, lui về làng cũ, vui vẻ núi non. Sau lại vời cho làm quan không chịu làm. Vì đã rõ thời-cơ thế-cục, không chịu đổi tiết thơm lấy công-hầu.
Than ôi! Đời thánh-hiền đã xa, không có ông làm gương thì kẻ học-giả lấy ai làm Thái-sơn 7? Thói liêm-sỉ đã tệ, không có ông cao-thượng thì kẻ sĩ-phu lấy ai làm nêu cột? Ông lúc mất đặt hiệu là Văn-Trinh thật không phải là hư-danh vậy. Nghìn năm phụng thờ thật là sứng đáng! Tuy vậy thói hay của ông cùng với sông Thanh-đàm còn chảy dài mãi, khí thiêng của ông cùng với núi Chí-linh còn cao ngất mãi. Trăm đời về sau hương thơm không dứt, há còn phải dựng bia đá nữa ru? Song mấy hàng chữ này khắc vào đá vững thì đạo-đức, sự-nghiệp, thanh-danh, khí-tiết của ông lại càng rõ rệt thêm, khiến cho người sau mắt thấy phải mộ phải theo, phải sùng phải ngưỡng, một để khích bụng liêm-sỉ, một để sửa thói siểm-nịnh. Thế thì dựng miếng bia này cũng có quan-hệ đến việc răn đời, cho nên chép.
(Dịch bài nguyên-văn chữ nho của ông Nguyễn-công-Thái).
Ông Nguyễn-công-Thái, đỗ (đậu) tiến-sĩ, làm quan giám-sát tỉnh Nghệ-an đời Lê. Bài văn bia này làm năm Vĩnh-Thịnh thứ ba (1707) đời vua Lê Dụ-tôn.
CHÚ THÍCH. — 1. Nay là huyện Thanh-trì tỉnh Hà-đông. — 2. Là những đời vua Trần Minh-tôn, Hiến-tôn, Dụ-tôn và Nghệ-tôn. — 3. Núi Chí-linh ở tỉnh Hải-dương; sau khi ông về trí-sĩ, ông làm nhà ở đấy. — 4. Văn-miếu nguyên thờ đức Khổng-tử, các bực tiên-hiền cao-sĩ thường được thờ kèm ở đấy, gọi là tùng-tự. — 5. Niên-hiệu vua Trần Minh-tôn (1324-1329). — 6. Niên-hiệu vua Trần Dụ-tôn (1341-1358). — 7. Thái-sơn là một trái núi cao có tiếng bên Tàu; đây nói bóng là cái mô-phạm tôn-nghiêm cho người ta ngưỡng-vọng.
109 — BẢY TÌNH NGƯỜI TA
Bảy tình là: mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét và muốn, đã là người không ai không có, nếu buông thả không biết đường ngăn giữ lại, thời hỏng mất tính hay, mà biết cách trị, thời tình phát hiện ra, đều là tính hay cả. Cách trị nên như thế nào? Nên như sau này.
Ngày xưa ông Tử-Lộ, 1 có người bảo cho điều lỗi, thời lấy làm mừng; nước Lỗ sai ông Nhạc Chính-tử 2 ra làm quan, ông Mạnh-tử nghe tin, mừng mà không ngủ. Như thế thời tình mừng được trị vậy.
Ông Nhan-tử 3 không nhân việc này, giận sang việc khác, ông Mạnh-tử khen vua Văn vua Vũ 4 nổi một cơn giận mà yên được thiên-hạ, ông Trương-kính-Phu 5 nói rằng: « Sự giận tức máu không nên có, sự giận nghĩa lý không nên không. » Như thế thời tình giận được trị vậy.
Kinh Thi nói rằng: « Thương sót cha mẹ đẻ ta khó nhọc. » Đức Khổng-tử nói rằng: « Thơ Quan-thư 6 có tình thương xót mà không đến nỗi hại tính mệnh[128]; lại nói rằng: « Ai đến chỗ tang ma, không có tình thương xót, ta còn bởi đâu mà xét tính nết nữa? » Ông Tăng-tử 7 nói rằng: « Khi tra hình ngục nên có lòng thương, không nên mừng là minh-sát. » Sách Sở-từ nói rằng: « Thương dân trên đời, phải nhiều sự khó nhọc. » Như thế thời tình thương được trị vậy.
Đức Khổng-tử nói rằng: « Tuổi cha mẹ không nên không biết, một là mừng cha mẹ được thọ, hai là lo cha mẹ đã già; lại nói rằng: « Làm việc gì cũng nên có lòng lo sợ. » Sách Trung-dung nói rằng: « Cẩn thận những điều chưa trông thấy, răn sợ những việc chưa nghe thấy. » Ông Mạnh-tử nói rằng: « Đức Khổng làm sách Xuân-thu, để răn những kẻ loạn-thần tặc-tử »; lại nói rằng: « Ta sợ Dương Mạc, làm loạn đạo thánh nên ta phải giữ lấy. » Như thế thời tình sợ được trị vậy.
Sách Lễ-ký nói rằng: « Con hiếu có lòng yêu cha mẹ lắm, tất có nét mặt hòa-thuận, có nét mặt hòa-thuận tất có lòng êm ái »; lại nói rằng: « Cha mẹ yêu ai mình cũng phải yêu. » Ông Mạnh-tử nói rằng: « Người nhân ở với em không để oán giận trong lòng, chỉ biết thân yêu mà thôi. » Luận-ngữ nói rằng: « Ai cũng nên yêu, mà thân với người nhân »; lại nói rằng: « Ông vua tiêu dùng[129] nên hà-tiện, mà yêu nhân-dân. » Như thế thời tình yêu trị vậy.
Đại-học nói rằng: « Mình ghét người ta vô lễ với mình, thời mình không nên lấy điều vô lễ sai kẻ dưới; mình ghét kẻ dưới bất trung với mình, thời mình không nên lấy điều bất trung thờ người trên »; lại nói rằng: « Người dở thì ghét, nhưng người ta có nết tốt cũng phải biết cho người ta. » Như thế thời tình ghét trị vậy.
Đức Thánh nói rằng: « Mình muốn nhân thời nhân đến. » Đại-học nói rằng: « Ông vua muốn cho đức tốt rõ rệt trong thiên-hạ, tất phải trị nước trước, muốn tầy nhà tất phải sửa mình trước. » Như thế thời tình muốn trị vậy.
Những các nết ấy khi phát ra ngoài mà đâu vào đấy, chẳng phải là tính hay rư? Nếu mà trái lại thời là buông thả mất vậy. Nói tóm lại, thời tâm hay theo tính-tình, có biết ngăn cấm tâm trước, thời mới biết tránh điều dở mà theo điều hay.
Bùi-huy-Bích (Lữ-trung tạp thuyết)
Trần-văn-Ngoạn dịch (Nam-phong, số 19)
Cụ hiệu Tồn-Am, sinh năm 1744, đỗ (đậu) hoàng-giáp, làm quan triều vua Lê Hiển-tôn đến chức Hành-tham-tụng. Đến khi nhà Tây-Sơn dứt nhà Lê, mời thế nào cụ cũng không ra làm quan, đi tránh một nơi ngâm vịnh và trước thuật. — Trong bài này cụ lấy lời thánh hiền và chữ kinh truyện để dạy người ta cách trị thất tình.
CHÚ THÍCH. — 1. Học-trò đức Khổng-tử. — 2. Nhạc-chính-Tử là học-trò giỏi ông Mạnh. — 3. Học-trò hiền đức Khổng-tử. — 4. Văn là vua Văn-vương nhà Chu đánh nước Sùng nước Mật; Vũ là Chu Vũ-vương đánh vua Trụ để cứu dân. — 5. Một vị đại-nho đời Tống bên Tàu. — 6. Bài thơ đầu tiên trong kinh Thi; bài ấy đặt tên thế vì bắt đầu có câu: « Quan quan thư cứu — 7. Học trò đức Khổng.
110 — HỌC-THUẬT LÚC LÊ-MẠT
Xem các sách vở đời xưa chép lại, như là vua Vũ 1 nghe được câu nói hay thời sụp xuống lạy, ông Chu-công 2 coi mình lúc nào cũng như không đủ, ông Nhan-tử 3 điều gì chưa biết, dù người kém mình cũng chịu hỏi, trong bụng có cũng như không, đầy cũng như vơi. Ôi! ông Vũ, ông Chu, đã làm vua quan giúp cho đời bấy giờ được nhiều công việc, ông Nhan-tử dù không ra làm quan cũng truyền được đạo thánh có công với đời sau; mà các ông ấy tự-xử rất là nhũn-nhặn như thế, có phải cố ý làm như thế để cầu tiếng khen của đời đâu? Thật là có đức rất khiêm nhường, không biết mình là thánh vậy.
Đời bây giờ học hành chỉ chăm kêu gào, không lo gì đến sửa mình, tầy nhà, trị nước, bình thiên-hạ. Những bác mới học năm ba chữ quèn đã vội ngông-ngáo, nghĩ mình là giỏi. Không kể tài thấp bằng cái đống cái mô không có thể nói được trời bể, ví hiến học có giỏi thật, chẳng qua để cho ấm thân nuôi nhà, và che chở cho họ hàng làng mạc mà thôi, đã ai có thể giúp vua ơn dân đời bây giờ? Nữa là học không ra gì, đến khi dùng cái học ấy tất là hại dân, còn sợ người ta mắng trách, lại nên kiêu ngạo hay sao?
Ta thường thấy các bác đồ gàn dở, được một vài câu văn hay nổi tiếng, đứng trước phụ huynh bè bạn giơ chân giơ tay, tự đắc khanh tướng sắp đến; chẳng may bạc đầu cũng không đỗ[130] , nào trách trời không công, chê quan trường lấy xát, thường thường lòng oán giận ấy phát ra câu thơ câu văn. Đến khi răng long cũng không biết mình là dở. Như thế có đáng thương không?
Ta khi nhỏ bồ-côi thất học, kịp đến lúc lớn, lại học về môn cử nghiệp 5, thường phải bọn khinh-bạc chế-diễu, nhưng nhớ câu: « Điều gì mình không muốn, không nên thí với người khác », ta vẫn chôn vào trong ruột không dám bắt chước thói dở đời nay, thế mà nết na, nói năng ũng chưa khỏi lỗi, ai còn bảo ta cũng như bọn ấy, ta cũng xin vâng: được nhờ đá núi để mài viên ngọc, có đâu dám chẳng thờ làm xe chỉ-nam 6.
Phạm-đình-Hổ (Vũ trung tùy bút lục)
Trần-văn-Ngoạn dịch (Nam-phong, số 19)
Tiên-sinh tự Bỉnh-Trực 秉 直 hiệu Tùng-Niên 松 年 ở làng Đan loan, huyện Đường-an (nay là phủ Bình-giang) tỉnh Hải-dương, sinh năm Cảnh-hưng thứ 31 (1770), thọ hơn 70 tuổi.
Tiên-sinh xem rộng biết nhiều, thi mãi không đỗ (đậu). Năm Minh-mệnh (mạng) thứ 2 (1821) vua nghe tiếng gọi về kinh cho làm chức hành-tẩu tòa Hàn-lâm, rồi thăng đến chức Quốc-tử giám-tế-tửu. Đến năm thứ 13 (1832) thời về nghỉ.
Tiên-sinh có làm nhiều sách như là: Vũ trung tùy bút lục, Kiền khô nhất lãm, Hi-kinh trắc lãi; lại cùng với ông Nguyên-Án soạn bộ Tan hương ngẫu lục.
CHÚ THÍCH. — 1. Là ông vua sáng nghiệp ra nhà Hạ bên Tàu. — 2. Là một bực đại-hiền đã giúp vua Văn-vương nhà Chu. — 3. Là họ trò giỏi đức Khổng-tử. — 4. Là không được học. — 5. Thi đỗ (đậu) làm quan. — 6. Là xe chỉ phương Nam cho mình biết đường mà đi.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bài này tác-giả chỉ-chích về thói gì? — Tóm tắt đại ý các đoạn trong bài này.
2. Các học-giả đời xưa thế nào? Phẩm-hạnh các học-giả đời Lê mạt thế nào?
3. Học-thuật có quan-hệ gì đến vận-hội trong nước không? Đem các điều nói trong bài này đối-chiếu với hiện-trạng trong xã-hội ta bây giờ.
II. Lời văn. — Coi mình lúc nào cũng như không; có cũng như không, đầy cũng như vơi: ý nói gì? — Đạo thánh là đạo nào? — Chữ thánh chỉ những bực người nào? (tỉ-dụ) — Sửa mình.... bình thiên-hạ: xuất điển ở đâu và nghĩa là gì? — Nghĩa chữ khanh-tướng. — Điều gì mình không muốn.. dịch câu chữ nho gì? Ý nghĩa câu ấy. — Câu cuối cùng tác-giả ý muốn nói gì?
111 — BÀI TỰA TRUYỆN KIỀU
Giá sử ngay khi trước, Liêu-dương 1 cách trở, duyên chàng Kim đừng dở việc ma chay; quan lại công bằng, án Viên-ngoại tỏ ngay tình oan uổng; thì đâu đến nỗi son phấn mấy năm lưu lạc, đem thân cho thiên hạ mua cười; mà chắc biên-thùy một cõi nghênh-ngang, ai xui được anh-hùng cởi giáp. Thì sao còn tỏ được là người thục-nữ mà đủ đường hiếu nghĩa, tay đàn bà mà lại có cơ quyền. Thế mới biết: người khôn thì hay gặp gian truân, chuyện đời khéo lắm trò quanh quẩn.
Con tạo-hóa vốn thương yêu tài sắc, nàng đà biết thế hay chưa? Khách má hồng đừng giận nỗi trăng già, ta cũng khuyên lời phải chẳng. Chỉ vì một tội: mối manh chưa có, thề thốt đã nhiều; trăng gió mắc vào, phồn hoa dính mãi. Cũng có người bảo: tại nước chẩy mây trôi lỡ bước, nên cành đưa lá đón quen thân. Nào biết đâu bông hạnh nở ngoài tường 2, chưa để con ong qua tới; cho có muốn lưỡi dao liều với mạng 3, lại sợ thành cháy vạ lây. Tấm lòng này như tuyết như gương, mối sầu nọ qua ngày qua tháng. Ngọc kia không vết, giá liên thành khôn xiết so bì; nước đã trôi xuôi, hồn cựu-mộng hãy còn vơ-vẩn.
Bàn cho thật phải, tình cũng nên thương. Lại xem như bút mực tài hoa, đoạn-trường mười khúc 4; trúc tơ phong nhã, hồ cầm một chương; câu thần vẳng giọng tiêu-tao, bóng ngọc tưởng chiều não-nuột; hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh, vậy nên khách đa tình say chuyện phong lưu, trăm năm cũ còn ghi tên tuổi hão; người chép sách tiếc vì tài sắc, nghìn thu sau nhặt cái phấn hương thừa.
Than ôi! một bước phong trần, mấy phen chìm nổi; trời tình mờ mịt, bể giận mông mênh. Sợi tơ mành theo gió đưa đi, cánh hoa rụng chọn gì đất sạch. Ai dư nước mắt khóc người đời xưa; thế mà giống đa-tình luống những sầu chung, hạt lệ Tầm-dương 5 chan chứa. Lòng cảm cựu ai xui thương mướn, nghe câu ngọc-thụ 6 não nùng. Cho hay danh-sĩ giai-nhân, cùng một kiếp hoa nghiêm 7 nặng nợ. Ngán nỗi non xanh đất đỏ, để riêng ai luân lạc đau lòng. Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu 8. Cái kiếp không hoa lẩm-cẩm, còn hồn xuân-mộng bâng-khuâng 9. Đã toan đúc sẵn nhà vàng 10, chờ người quốc sắc; lại muốn mượn chùm phương-thảo 11, hú vía thuyền-quyên. Sẵn bút nghiên chia vịnh từng hồi, đem sự tích tóm làm một tựa. Bây giờ kể còn dài chưa hết, hạt ba-tiêu như thánh thót mưa thu. Hỡi ôi! hồn còn biết hay chăng? Bóng hoàn-bội 12 tưởng ra vào Lạc-phố 13!
Chu-mạnh-Trinh[131]
Đoàn-Quì dịch (Nam-Phong)
CHÚ THÍCH. — 1. Liêu-dương là quê Kim-Trọng. — 2. Ý nói làm thân phận một người đàn bà có tài sắc mà lại gặp bước lưu lạc. — 3. Đây nói hồi nàng Kiều phải tay Mã-giám-sinh lừa, đã toan tự vẫn, sau nghĩ đi nghĩ lại, sợ vạ lây đến cha mẹ, lại thôi. — 4. Thúy-Kiều khi đi chơi thanh-minh về nằm mộng thấy Đạm-Tiên đưa cho mười đầu bài thơ đoạn-trường để nàng vịnh. — 5. Tức là bến Tầm-dương nói trong bài « Tì bà hành » của ông Bạch-cư-Dị; ý nói nước mắt khóc người bạc-mệnh. — 6. Ngọc-thụ 玉 樹 là cây ngọc, ví với người đẹp. Câu cổ: không nỡ trông thấy cây ngọc chôn ở trong đất. Lời viếng một người chết. — 7. Hoa = tốt đẹp; nghiêm = nghiêm trang. Kiếp hoa-nghiêm nghĩa bóng chỉ cái kiếp luân-hồi của người ta (tiếng trong kinh Phật). — 8. Như nói người cùng một hội một thuyền, cùng một số kiếp. — 9. Không-hoa là cái hoa không có thực mà mình mơ tưởng là có; xuân-mộng là cái buổi xuân-xanh ngắn-ngủi như giấc chiêm-bao. Cả câu này ý nói: mình vẫn mê-man trong cõi sắc chưa tỉnh biết nó là cái hoa không; lại ngậm-ngùi về nỗi tuổi xuân vui thú chỉ ngắn-ngủi như giấc chiêm-bao. — 10. Tích cũ Vua Hán Vũ-đế ước lấy được nàng A-Kiều, nói: « Được người này thì lấy vàng làm nhà cho ở ». — 11. Là cỏ thơm. — 12. Hoàn-bội là ngọc đeo của đàn bà. — 13. Lạc-phố là bến sông Lạc, chỗ nàng tiên ở, theo điển trong Sở-từ.
VĂN XUÔI KIM
HOÀNG-CAO-KHẢI[132]
GƯƠNG HIẾU HẠNH
Những bài sau này trích ở quyển « Làm con phải hiếu[133] » của cụ Thái-Xuyên Hoàng quận-công. Trong quyển ấy cụ chọn 24 chuyện hiếu hạnh ở nước ta chép ra và bàn thêm. Chuyện là chuyện của người nước nhà, văn là văn một bực đại-gia, thật là một quyển sách gia-huấn rất hay. Xưa nay ta chỉ thường đọc chuyện « Nhị-thập tứ-hiếu » của người Tàu, ta cũng nên biết những gương hiếu-hạnh ở nước Nam ta nữa.
I
112 — ÔNG NGUYỄN-ĐÌNH-TẾ
Ông Nguyễn-đình-Tế, người huyện Bạch-hạc thuộc về tỉnh Sơn-tây, cha ông là Nguyễn-đình-Cửu trước lấy mẹ ông sinh ra ông cùng em là ngươi Quí-Bình; sau lại lấy một người thiếp sinh ra con là ngươi Soạn. Ông Đình-Cửu ghét người vợ cả mà thương người vợ thiếp. Bởi thế gia sản trong nhà, nhất thiết là giao cho người thiếp cai quản coi sóc, mà thiếp tự cậy có thế chồng yêu, không cho người vợ cả ở chung. Anh em ông ấy đều phải theo mẹ ở riêng làm ăn, thường đi lại thăm viếng cha, kính dì như mẹ, yêu con dì cũng như em ruột mình, không còn có chê trách gì được.
Khi cha mẹ ông ấy đã mất rồi, ông ấy xin về ở chung với dì, thờ dì rất là hiếu kính. Từ đó người dì ông ấy cũng hóa ra từ-mẫu, coi ông ấy cũng như con. Việc ấy chép ở Đại-Nam liệt-truyện
Thường tình người ta, bởi mẹ sinh ra mà giữ sự hiếu thời là dễ, không phải mẹ sinh ra mà giữ sự hiếu mới thực là khó.
Tục-ngữ đã có câu rằng: « Mẹ ghẻ con chồng » ấy là bảo rằng không có tình thương yêu nhau gì cả. Phương chi gặp những người bạc ác, thời cũng là những sự biến cố trong nhà. Nhưng ta xem ông Mẫn-tử-Khiên[134] tuy rằng mẹ là người bạc ác, nhưng còn may nhờ cha có đức nhân từ, nên chỉ lấy một lời hiếu hạnh mà làm cho trên thì cảm động lòng cha, dưới thì thay đổi tính mẹ, đến như ông Nguyễn-đình-Tế, cha thời yêu hầu mà bỏ vợ cả, dì thì cậy thế mà bỏ con chồng, cảnh ngộ như thế, chẳng là khó xử ru? Thế mà ông ấy khi cha đương còn thì cam ở riêng với mẹ, mà thần hôn chẳng bỏ lễ thường, khi cha đã mất thì về kẻ chung với dì, mà thảo thuận cũng như mẹ đẻ, bởi một lòng hiếu kính ấy mà làm cho dì đã khỏi được tiếng ghen từ trước, mà cha cũng khỏi mang tiếng ác về sau. Thế mới biết rằng cái sự hiếu ấy càng khó hơn ông Mẫn-tử-Khiên vậy.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bài này thuộc về thể văn gì?
2. Cảnh-ngộ ông Đình-Tế thế nào? — Khi cha mẹ ông còn sống ông cư sử với dì thế nào? Khi cha mẹ ông mất rồi ông ăn ở với dì thế nào?
3. Thường tình người ta con chồng đối với mẹ ghẻ thế nào? Kể qua chuyện ông Mẫn-tử-Khiên bên Tàu và so sánh chuyện ấy với chuyện ông Đình-Tế.
II. Lời văn. — Nghĩa chữ từ-mẫu. Kể những chữ đồng-nghĩa và phản nghĩa. — Nói qua về quyển Đại-Nam liệt-truyện. — Kể các câu tục-ngữ ca-dao của ta nói về « mẹ ghẻ con chồng ». — Nghĩa chữ thần-hôn. Kể các thành-ngữ nói về đạo làm con.
2. Lối văn truyện-ký thế nào là hay? — Lời bàn trong bài này có sác lý không?
II
113 — ÔNG NGUYỄN-VĂN-DANH
Ông Nguyễn-văn-Danh người huyện Bình-sơn thuộc về tỉnh Quảng-ngãi, thi đậu tú-tài. Thờ cha có hiếu. Nhà ở gần núi. Có một ngày cha ông ấy đi thăm ruộng, phải cọp bắt được. Ông ấy xốt lòng đem người nha qua tìm được thây cha; nhân xét dấu cọp, thấy một chân sau nhỏ, lấy dây đo để làm dấu. Đã mà đem thây cha về chôn, bèn làm bẫy đào hầm, ngày đêm chỉ lo về việc bắt cọp, đến nỗi quên ngủ quên ăn. Bắt được cọp cũng nhiều, nhưng chưa được con nào giống vết chân ấy; về sau bắt được một con, chân sau hơi thọt, giống như là cái dấu ông ấy đã đo trước. Tức thì mổ ruột con cọp đem tế mả cha, tế xong nhai ăn cho hết, bởi thế mà sinh ra chứng đau bụng, có ai đến thăm thời ông ấy thét nhẩy lên như là trạng con cọp, một lúc rồi mới tỉnh ra. Việc ấy chép ở Đại-Nam liệt truyện.
Sách có nói rằng: « Thù cha chẳng chung đội trời » Thế thì làm con mà không lo báo thù cho cha, không phải là đạo người vậy.
Nhưng lấy người mà thù với người, còn có thể mà gặp, lấy người mà thù với thú dữ, âu khó dễ mà tìm. Thế mà ông Nguyễn-văn-Danh, ngày đêm chỉ lo bắt cọp, cho đến bắt được thì mới thôi, khi đã bắt được thì nhai ăn cho hết, dẫu thân này có hóa làm loài khác, nhưng lòng này vẫn giữ lấy máu cha.
Than ơi! cái sự báo thù ấy bởi sự đền ơn, không như thế thì không hết đạo làm con vậy.
III
114 — ÔNG NGUỄN-VĂN-TRÌNH
Ông Nguyễn-văn-Trình là người huyện Quỳnh-lưu thuộc về tỉnh Nghệ-an, thờ mẹ rất hiếu. Mẹ phải chứng đau bụng, uống thuốc lâu năm không lành. Thầy thuốc bảo rằng: « Phải kiếm một cái dạ dày của con nhím thì mới lành được. » Nhà ông ấy ở gần núi mà núi ấy thường có thú dữ, ông ấy không lấy làm sợ, ngày nào cũng vào núi bắt nhím, mà bắt không được.
Có một đêm nằm chiêm-bao thấy có một người bảo[135] rằng: « Ngày mai mày ra phía đông cái miếu của làng thì sẽ bắt được. » Đã mà ông ấy theo như lời nói ấy, quả là bắt được con nhím, đem về lấy cái dạ dầy nó mà chữa cho mẹ, từ đó bệnh mẹ mới lành. Niên-hiệu Minh-Mệnh[136] năm thứ ba, cha ông ấy phải giặc bắt, đòi chuộc 150 lạng bạc, ông ấy bán hết gia-sản, chỉ được 90 lạng, đưa chuộc cho cha; giặc nói giận rằng: bạc không được đủ số, toan đem giết đi. Ông ấy khóc xin chịu thay mà chết. Giặc thấy ông ấy là người hiếu, tha cả cha con cho về. Từ đó ông ấy đem cha ra ở phủ Diễn-châu, buôn bán mà nuôi, đến khi cha ông ấy mất mới đem về chôn ở làng. Việc này chép ở Đại-Nam liệt-truyện.
Lấy con mà thờ cha mẹ, khi tật bệnh thì phải nên hết sức, đừng thấy khó mà không làm. Bởi khó cũng có thể mà dễ; khi hoạn nạn thì phải nên liều mình, không nên lấy làm nguy mà không cứu, bởi nguy cũng có thể mà an.
Như ông Nguyễn-văn-Trình hết công tìm thuốc mà chũa cho mẹ, liều mình chịu thác mà cứu cho cha, cũng là cầu hết bổn phận làm con mà thôi. Thế mà bởi lòng hiếu mà sinh ra chiêm-bao, dẫu chiêm-bao cũng có sự thực, lấy lòng hiếu mà hóa loài giặc cướp, dẫu giặc cướp cũng có lòng lành.
Người đời xưa có nói rằng: « Sự hiếu ấy hay cảm động cho lòng người. »
Than ơi! Vẫn thực như thế!
NGUYỄN-BÁ-HỌC 阮 伯 學 (1857-1921)
Tiên-sinh người làng Nhân-mục tỉnh Hà-đông, vốn nhà nghiệp nho, từng đi thi hai khoa không đỗ (đậu), sau nhân lúc Chính-phủ Bảo-hộ cưỡng bách học-trò phải học chữ Pháp và chữ quốc-ngữ, tiên-sinh đi học ra thi trúng tuyển, bổ giáo-học tỉnh Sơn-tây, sau bổ về trường Nam-định, ở đấy đến hơn 20 năm. Tiên-sinh tính điềm-đạm trầm-mặc, ham suy-xét nghĩ-ngợi, thật là một nhà giáo-dục rất mực mô-phạm, một tay tiên-sinh đào-tạo ra không biết bao nhiêu là học-trò. Tiên-sinh tinh thông Hán-học mà Pháp-văn tự khảo-cứu lấy cũng rất là uyên-bác. Lúc về hưu-trí, tiên-sinh lại chăm việc trước-thuật: sở trường nhất về lối văn đoản-thiên tiểu-thuyết, khéo đem tình-trạng trong xã-hội, phong thói của người đời mà mô-tả ra thành câu chuyện hay. Mà bất luận bài văn nào của tiên-sinh cũng có ngụ ý khuyên người và răn đời cả, dù lời văn bình-đạm ít vẻ hoa mỹ, nhưng ý-tứ thâm-trầm, giọng điệu cổ-kính, khiến người đọc lên phải cảm-động kích-thích, thật là lối văn rất bổ-ích cho đời vậy.