Trang chủ Viện

Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm

115 — TỰ TRỌNG

Chương 13 / 16

115 — TỰ TRỌNG

Người có ý-khí tài-lực hơn người, không nương tựa ai, không luồn lụy ai, tự mình mình đi, tự mình mình lại, tự mình quí mình, ai yêu cũng mừng, ai ghét không giận, gọi là người tự-trọng (自 重). Còn tài chẳng hơn ai, đức chẳng hơn ai, con mắt sáng bằng hạt đậu, trí khôn nông như đọi đèn, cũng bắc bực làm cao, khinh thế ngạo vật, không gọi là tự-trọng.

Những kẻ thiếu-niên, sinh đời tranh-cạnh, không có chí tiến-tu, không có lòng ganh-gổ, hay nói chuyện yếm-thế, hay có tính khinh người, thì gọi là tự-khí (自 棄). Kẻ không kính trọng phép luật hay chống cự người trên, gọi là loạn-đảng (亂 黨). Kẻ không an-thường thủ-phận, hay phản-đối nhà-nước, gọi là nghịch-đảng (逆 黨). Kẻ hay tự-đắc, hay khoe mình, gọi là người kiêu-căng (驕 矜). Kẻ hay ích-kỷ, gọi là tự-tư (自 私). Kẻ không hợp quần, gọi là cô-độc (孤 獨). Những kẻ ấy dù có tài tốt thế nào, chẳng có tội với phép luật, cũng có tội với đạo-đức, không gọi là tự-trọng.

Ta phải biết rằng người tự-trọng vốn hòa-hợp với mọi người, vốn kính trọng người tiền-bối, vốn giữ phép luật, vốn trọng cương-thường; có tài-năng, có kiến-thức, việc đã làm, không sợ khó, chí đã định, không hồ-nghi, thấy giầu sang không náo-nức, phải nghèo hèn không phàn-nàn. Có câu rằng:

« Lòng ta ta đã chắc rồi, dễ ai giục đứng giục ngồi mà nao ».

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Thích nghĩa hai chữ tự-trọng. Chữ tự-cao tự-đại có đồng nghĩa với chữ tự-trọng không? — Phân-biệt những tính ấy với những tính xưa nay người ta thường nhận lầm là tự-trọng. Thế nào là tự-trọng thật?

II. Lời văn. — Cắt nghĩa những chữ: sáng bằng hạt đậu, nông như đọi đèn. — Khinh thế ngạo vật nghĩa là gì? — Thích nghĩa những chữ loạn-đảng, nghịch-đảng. Khác nhau thế nào? — Câu ca cuối bài này ý nói gì?

2. Thích nghĩa thế nào là lọn? Cách thích nghĩa trong bài này thế nào?

116 — HI-VỌNG

Làm người ai cũng có hi-vọng, như kẻ làm ruộng mong cho đến ngày gặt lúa, kẻ đi đường mong cho đến chỗ nghỉ chân. Công việc càng lớn thì hi-vọng càng cao, hi-vọng càng cao thì sự-nghiệp càng lớn, cho nên người ta có hi-vọng thì tự-nhiên quên hết mọi sự hiểm nghèo, mọi sự khó nhọc.

Người ta đương lúc thiếu-niên, lòng xuân 1 phơi-phới, như trăng mới lên, như hoa mới nở, sự đời chưa hề từng trải, tư-tưởng những sự cao xa. Đến lúc tuổi càng cao, kinh-lịch càng lắm, bấy giờ mới biết sự đời là khó, tài mình là hèn, chân đã mỏi, đường còn xa, lòng hi-vọng cũng mỗi ngày một nhạt[137]. Những người trí bạc tài hèn, bỏ việc nửa đường, hồ hết là vì những tình-cảnh ấy. Vì thế cho nên hi-vọng của mỗi người cũng không nên quá lượng. Cái hi-vọng mình đã lớn thì sự dụng sức mình cũng phải nhiều: không chịu nhãng một ngày, không chịu lui một bước, như thế mới trông mong có ngày đắc chí được.

Cảnh khốn nạn trong đời người không gì bằng thất-vọng. Như kẻ đi đường, bóng chiều đã xế, dặm đường còn xa, chân trời góc bể, biết đâu là nhà, có khi phải ngồi xuống bên đường mà khóc cái mệnh[138] vận mình, rồi sinh lòng vô cùng oán-hối.

Thất-vọng là bởi mình không có chí mà cũng bởi cái hi-vọng quá cao không xứng với cái lực-lượng mình, như thuyền[139] nhỏ chở đày, người yếu gánh nặng.

Việc hi-vọng của người ta thành bại là bởi sức người mà cũng nhờ thời vận 2. Xưa nay những kẻ làm nên vương tướng, chưa hẳn là những bực thánh thần, còn bao nhiêu kẻ trầm-luân 3 chưa hẳn là những người tội ác. Chẳng qua là hữu tài vô vận, hữu vận vô tài.

Việc thành bại quá nửa về quyền mệnh-vận, song làm trai lập chí có lẽ nào muôn việc cứ nhờ trời. Chí đã định phải làm hết sức mình, còn nên hay thua không kể đến, chẳng oán trời cũng chẳng trách trời, gọi là thuận mệnh.

CHÚ THÍCH. — 1. Là tấm lòng của người trai trẻ ví như mùa xuân. — 2. Tức là may rủi. — 3. Là chìm đắm, nói những người gặp bước gian-nan khổ sở.

CÂU HỎI. — 1. Bài này về thể văn gì? Chia ra làm mấy đoạn? — Tóm đại-ý mỗi đoạn. Các đoạn mạch trong bài này có xứng-đối không?

2. Hi-vọng đối với người ta quan-hệ thế nào? Tại sao hi-vọng không nên quá cao? Bởi đâu thường sinh ra nỗi thất-vọng? Vận-mệnh là gì? Việc thành bại có ở vận mệnh không? Giải nghĩa câu: anh-hùng tạo thời thế, thời thế tạo anh-hùng. Ta có nên tạ sự có vận-mệnh mà không lập chí gắng công rư? Câu cách-ngôn của Tây « Aide-toi, le ciel t’aidera » (Ta hãy tự giúp, trời sẽ giúp ta) ý nói gì?

117 — MẠO-HIỂM

Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Xưa nay những đứng anh-hùng làm nên những việc gian-nan không ai làm nổi, cũng là nhờ cái gan mạo-hiểm, ở đời không biết cái khó là cái gì Sách có nói rằng: không vào hang hùm, sao bắt được cọp.

Các nước Âu-châu ngày nay đã nên giầu-mạnh, cũng là nhờ có những tay mạo-hiểm: kẻ đóng tầu vào Bắc-cực, người vượt bể[140] sang Mỹ-châu, dấn sức với ba-đào 1. thi gan với sương tuyết; để sưu-cầu những đất mới, những báu lạ, từng trải bao nhiêu là gian-hiểm mới có cái cảnh-tượng ngày nay.

Còn những kẻ cứ du-dú như gián ngày 2, làm việc gì cũng chờ trời đợi số; chỉ mong cho được một đời an-nhàn vô-sự, sống lâu giầu bền, còn việc nước việc đời không quan-hệ gì đến mình cả. Như thế gọi là sống thừa, còn mong có ngày vùng-vẫy trong trường cạnh-tranh này thế nào được nữa. Hãy trông những bọn thiếu-niên con nhà kiều-dưỡng 3, cả đời không dám đi đâu xa nhà, không dám làm quen với một người khách lạ; đi thuyền[141] thì sợ sóng, trèo cao thì run chân, cứ áo buông chùng quần đóng gót, tưởng thế là nho-nhã, tưởng thế là tư-văn; mà thực không có lực-lưỡng, không có khí-phách; hễ ra khỏi tay bảo-hộ của cha mẹ hay kẻ có thế-lực nào thì không có thể mà tự-lập được.

Vậy học-trò ngày nay phải tập xông-pha, phải biết nhẫn-nhục; mưa nắng cũng không lấy làm nhọc-nhằn, đói rét cũng không lấy làm khổ-sở. Phải biết rằng: hay ăn miếng ngon, hay mặc của tốt, hễ ra khỏi nhà thì nhảy lên cái xe, hễ ngồi quá giờ thì đã kêu chóng mặt; ấy là những cách làm cho mình yếu-đuối dút-dát, mất hẳn cái tinh-thần mạo-hiểm của mình đi.

CHÚ THÍCH. — 1. Sóng lớn. — 2. Giống gián ban ngày rất dát. — 3. Con nhà giầu sang, được cha mẹ chiều chuộng.

CÂU HỎI. — 1. Bài này về thể văn gì? Đại ý khuyên ta điều gì? Tóm tắt đại ý các đoạn mạch trong bài này.

2. Tính mạo hiểm là gì? Quan-hệ thế nào? — Hãy kể gương các nhà mạo-hiểm để chứng dẫn cái hiệu-quả của tính ấy. — Những kẻ dút-dát có làm được công chuyện gì không? Muốn làm được việc lớn ta phải luyện tập thế nào?

118 — VĂN-CHƯƠNG

Khéo mồm mép mà làm hại tâm-thuật không gì bằng văn-chương. Vì văn-chương hay vì tình mà không hay về lý; cho nên những người làm văn không biết chép sự thực, và những câu luận chân lý lại không phải văn hay, xem thế thời đồ văn-chương không phải thực dụng.

Tiểu-thuyết, ký-sự, luận-thuyết, diễn-thuyết là những văn-chương hữu dụng; còn thơ phú ca dao, có vần có điệu, chỉ dùng để ngâm-nga, không suy ra thực sự, chẳng những vô ích mà lại có lúc làm cho mê-mẩn mất cả tinh-thần, tô điểm sai cả cảnh thực.

Hãy xem như nước ta, nghề học văn-chương càng đua tranh bao nhiêu, thì nghề học thực dụng càng suy lạc đi bấy nhiêu, càng ngày càng tệ, đến nỗi làm cho trong nước bao nhiêu người thông minh tài tuấn đã hóa ra một bọn ngồi không ăn dưng.

Ngày nay học-trò phải có tư-tưởng cho cao, tập luận-nghị cho rộng; phải đọc những sách có kinh luân 1 trong xã-hội, phải bàn những chuyện có can hệ đến nước nhà, để ngày sau có thể đem học vấn suy ra việc làm. Còn những lối ngâm hoa vịnh nguyệt, dù hay cho quỷ khóc thần kinh 2, cũng không đáng một đồng tiền kẽm.

Văn quí có sinh khí; văn không có khí như người làm hoa giấy, có đẹp mà không có thơm. Văn có khí không phải là lời nói cho hùng, lý tưởng cho lạ; phải có chân-cảnh, có mục-đích, có tôn-chỉ, có điều-lý, có nhiệt-thành, khiến cho người ta nghe câu văn, như mắt trông thấy cảnh, tai nghe thấy người mà sinh ra cái lòng quan cảm, như thế mới là văn-chương có khí.

Văn khí bởi đâu mà ra? — Cũng là bởi kiến-thức tinh-thần của người làm văn mà ra. Người cục-súc hay làm những văn tiểu-sảo 3; người nhu-nhược hay làm những văn chi-li; người thô-sơ hay làm những văn sống-sượng, người danh lợi hay làm những văn thù-phụng 4, người bợm-bãi hay làm những văn hoa tình. Những người ấy mà cho làm văn nói về phong-tục, đạo-đức, lịch-sử, chính-trị, chẳng qua mơ mơ màng màng, ba câu lề lối, mấy chữ bẻm mép, sao gọi là văn có khí.

Văn-chương với đạo-đức thường không có quan hệ với nhau; xưa có người, kể trong đạo-đức, thì là kẻ có tội, mà văn hay truyền tụng còn đến bây giờ. Vì chính-trị có luật-phép, mà văn-chương không có luật-phép, cho nên khen văn chưa hẳn là yêu người mà luận người cũng không ở văn-tự.

(Giở lên 4 bài trích ở tập Lời khuyên học-trò trong Nam-Phong)

CHÚ THÍCH. — 1. Là thiết-thực hữu-dụng cho đời. — 2. Quỉ phải khóc, thần phải sợ, nói những bài văn có giọng réo rắt bi ai. — 3. Là khéo vặt. — 4. Nịnh nọt tâng bốc người.

CÂU HỎI. — 1. Bài này về thể văn gì? Chia ra làm mấy đoạn?

2. Văn-chương là gì? Hai chữ ấy hiểu nghĩa rộng là gì? Hiểu nghĩa hẹp là gì? Tác-giả hiểu chữ hay thế nào? Tình và lý khác nhau thế nào? Trong một bài văn cái gì là lý mà cái gì là tình?

3. Tác-giả chia văn-chương ra làm mấy lối? Thế nào là văn hữu-dụng? văn vô-dụng? Văn-chương nước ta thường mắc phải tệ gì?

4. Văn-khí là gì? Văn-khí bởi đâu mà ra?

5. Văn-chương với tâm tính người ta quan hệ với nhau thế nào? Bình luận câu cách-ngôn Pháp: « Le style c’est l’homme » (Văn tức là người).

119 — CÂU CHUYỆN MỘT TỐI CỦA NGƯỜI TÂN-HÔN

(Lời một người tân-hôn thuật lại chuyện mình cho chồng nghe)

« Than ôi! Cái khổ cảnh của thiếp sao nỡ để cho chàng nghe, song thiếp cũng không dám giấu chàng mà không nói. Trong mấy năm nay trên thờ mẹ già, dưới nuôi cháu mồ-côi, một thân thiếp vừa làm con gái, vừa làm con dâu; ngày ngày còn phải đi làm thuê làm mướn để hổ-khẩu 1 một nhà, ngày không được ngồi, đêm không được ngủ, dù người sắt cũng phải đau lòng. Hồi tưởng những ngày cha anh tôi còn, đang như cây ngọc đầy sân, hạt châu trên án, nào ngờ bao lâu vật đổi sao dời, nay đã thành như cảnh mộng.

« Sau khi cha tôi mất, liền bị mấy lần tàn phá, mẹ tôi đem chúng tôi về ở làng Cổ-sự, là nơi mẫu-quán. Anh tôi đi dạy học làng xa, cũng mất ở đó. Chị dâu tôi ở nhà nhân sản-nạn 2 mà chết, để lại cho mẹ tôi một chút con thơ; sự bất-hạnh trong gia-đình đến thế là cực.

« Bấy giờ tôi mới có mười bảy tuổi, mẹ tôi đã ngoài 50 tuổi, bình thời tinh-thần linh-mẫn, như người ba bốn mươi. Mới trong hai năm khóc con khóc dâu mà tóc bạc hồ hết, mắt càng lòa, tay càng run, như người bảy tám mươi tuổi. Thiếp đã lo gia-biến lại thương mẹ già, cũng muốn chia cay sẻ đắng, lấy chữ cần che chữ chuyết 3 để mẹ con nương náu qua thời. Tiếc thay! Từ xưa cha tôi làm quan, không tập cho chúng tôi theo đường thực-nghiệp; chỉ tưởng những nỗi một người đội ơn vua, cả nhà ăn lộc nước; lấy phấn xức làm thanh-cao, cho doanh-sinh 4 là trục-mạt. Để cho con em tập thói kiêu xa, quen thân biếng nhác, chỉ xu hướng về sự phù-hoa, không có thể suy ra thực-dụng. Đến bây giờ, trí vụng tài hèn, cơ hàn thiết thân, còn giữ sao cho được phong-thể!

« Sau tôi đến nhà một bà láng-diềng, kể cái cảnh-ngộ cho bà nghe, và xin bà bày tỏ cho tôi một lối mà đi làm mướn. Bà nói: « Làm thân con gái gặp buổi nguy nan như các con ngày nay, trừ một cách bán cái sỉ-nhục đi mà kiếm ăn, thời không còn phương kế gì là tự-cứu được. Nay có một lối là vào làm công trong nhà máy, suốt ngày dùng hết sức, hai tay hai mắt cũng chỉ đủ cung một cái dạ dày. Còn đến điều sẩy ra nguy hiểm trong việc làm, thực chưa có pháp-luật nào bảo-hộ bênh vực cho kẻ khổ-công 5 cả. »

« Tôi nghe nói lại càng ngao-ngán, trong thích-lí 6 đã không có cha chú nào tí-hộ, ngoài xóm làng lại cùng gặp buổi gian-nan. Thôi! Đã sinh ra làm một đời dân vô-vốc, còn tránh sao cho khỏi kiếp lầm-than; thà chịu một thân mình nắng giãi mưa rầu, còn hơn là ngồi mà trông thấy một nhà đói rét. Tôi xin bà dẫn lối cho tôi vào nhà máy sợi...

« Nghĩ mà chán thay! Thân giá một người khổ-công hèn hạ, thật là cực; cả ngày lao-động tổn-phí bao nhiêu là tinh-lực, mà một giờ không đáng được một xu. Cũng là vì việc có ít, người thì nhiều, cho nên người ta thắt buộc người mình, bói rẻ còn hơn là ngồi rỗi. Tưởng những thủa cha anh mình đang đắc ý, cứ tập thói xa-xỉ, huy-hoắc tiền của như đất bùn; nghĩ đâu những nông nỗi con em sau này phải đi làm thuê làm mướn cho người ta, cực khổ không bằng thân trâu ngựa. Hôm sau tôi dậy từ lúc 1 giờ sáng, thổi cơm cho mẹ và cháu ăn rồi, 5 giờ tôi tự làng ra đi, vừa đến 6 giờ thời vào làm nhà máy. Việc làm ở máy con (sé cúi 7 thành sợi), cũng là việc giản-dị, chỉ phải đứng, không được ngồi.....

« Từ khi vào làm trong nhà máy, không còn được trông thấy mặt trời. Từ 4 giờ sáng, còi nhà máy gọi lần thứ nhất, tôi trở dậy mà nấu ăn, đến 5 giờ còi gọi lần thứ hai, tôi bắt đầu ra đi, đến 6 giờ đến nơi vào làm, lại cho đến 9 giờ tối ra về; 10 giờ đến nhà, dọn dẹp cho đến 12 giờ thì đi ngủ.....

« Tính các chú đốc-công 8 người Hoa-kiều lại hay cợt-nhợt, thấy con gái sạch sẽ hay thương hay yêu, khi ra bẹo má, khi vào nắm tay, con gái nhà máy như cái quà của các chú. Chị nào vô-ý chống cự lại thời các chú nói với ông chủ phải đuổi, mất việc làm ngay. Bấy giờ tôi mới hiểu lời bà láng-diềng nói « bán cái sỉ-nhục đi mà kiếm ăn » là vì thế.

« Một hôm, trước ngày phát tiền công, theo lệ, tôi đang lau cái máy chỗ mình làm cho sạch sẽ, thấy một chú nhăn-nhở đi lại, tôi đã sợ đứng nép vào một bên. Bỗng chốc, thấy có tay ai mó vào mình tôi, giật mình, tôi ngã xô ngay vào cái máy đang chạy. Nghe một tiếng « soẹt » thấy máu ở tay tóe ra, đau buốt đến tận óc, tôi kêu lên một tiếng thời liền ngã ra, không còn biết gì nữa...

... « Tôi đương thiêm-thiếp; nghe thấy tiếng văng-vẳng bên tai, bừng mở mắt, thấy mẹ tôi đang đứng một bên năn-nỉ mà nói: « Mẹ đây, con có biết không, con? Mẹ nghe tin con phải máy kẹp mất tay, người ta đưa con vào nhà thương từ trưa đến nay, mẹ lật-đật đến đây, con có biết không, con? Tôi mới bàng-hoàng tỉnh lại, thấy mình đã mất hẳn hai ngón tay: « Mẹ ôi! mười mấy đồng xu, con đã bán rẻ cái mệnh[142] con, may mà trông thấy mẹ đây, biết bao giờ trả cái tủi nhục này cho được! »

« Tôi phải ở lại nhà thương hai tuần lễ nữa, bình-phục 9 rồi lại về nhà, không còn đi làm con gái máy sợi nữa.

« Ngày chàng cho băng-nhân 10 lại hỏi, chính là ngày mẹ tôi đang phải chứng đau tức kịch lắm. Mẹ tôi cứ bối rối mà nhận lời. Tôi nghe nói thất kinh rụng rời, vì mẹ đang đau, cháu còn dại, chưa biết ỷ thác vào đâu. Nghĩ mình thiếp đã vô đức vô tài, lại mang lấy tiếng tàn tật vào thân, dù trượng-phu có đức bao dung, song tự mình cũng lấy làm hổ thẹn lắm. Mẹ tôi gạt nước mắt mà nói: « Mẹ nay đã già, con cũng đã lớn, trước sau sao cũng phải về nhà người; dữ-kỳ mẹ con tạm thời lẩn-quẩn với nhau mà cùng khốn, sao bằng gửi thân vào nơi có đức để phòng khi hoãn-cấp mà dựa nương. Vả mẹ nay bệnh ngày một nặng, biết có nay, nào biết có mai, mong cho con được yên vợ yên chồng thời mẹ nhắm mắt dưới cửu-toàn cho đành dạ. » Tôi nghe bấy nhiêu điều, không còn muốn cưỡng lời mẹ tôi nữa. Than ôi! Sự mình càng nói càng đau, dẫu người sắt đá cũng sa châu nghìn hàng. Trời đã rạng đông, xin chàng đi nghỉ... »

(Đoản-thiên tiểu-thuyết đăng trong Nam-phong, số 46).

CHÚ THÍCH. — 1. Là nuôi cơm. — 2. Ốm (đau) vì đẻ. — 3. Cần là siêng năng, chuyết là khờ vụng; ý nói: tuy mình vụng nhưng chịu khó siêng năng. — 4. Là làm nghề để kiếm ăn. — 5. Kẻ làm thuê làm mướn khó nhọc. — 6. Họ hàng. — 7. Cuộn bông (goòng) chưa xe thành sợi. — 8. những người cai coi thợ làm. — 9. Khỏi bệnh. — 10 Người mối.

PHAN-KẾ-BÍNH 潘 繼 炳

Ông người làng Thụy-khuê, huyện Hoàn-long tỉnh Hà-đông, đậu củ-nhân, thâm hán-học lại sành quốc-văn; kiến-thức rộng, nghiên cứu nhiều, các học-thuyết cổ đều tinh thông mà tư-tưởng mới cũng thiệp-liệp.

Ông là một tay kỳ-cựu trong báo giới nước ta, một mình ông từng có công biên tập trong mấy tờ báo xuất hiện trước tiên là Đăng-cổ tùng-báo, Đông-dương tạp-chí, Trung Bắc tân-văn và Học-báo; trước thuật rất nhiều: không kể những bài luận-thuyết đoản-thiên đăng trên báo chí, ông lại soạn ra được nhiều sách rất có ích về đường văn-học sử-học nước ta như Nam-hải dị nhân liệt truyện, Hưng-Đạo đại-vương truyện, Việt-Nam phong-tục và Việt-Hán văn khảo (hai tập này đăng trong Đông-Dương tạp Văn dịch ông cũng tài tình: những bài hán-văn ông dịch đăng trong báo, nhiều bài không mất tinh-thần nguyên-văn mà diễn thành lời nôm rất êm-đềm thanh-thoát, có bài lại giữ được cả âm-điệu nguyên-văn; ngoài các bài ấy ông có dịch mấy quyển sách về sử-chí nước ta như: Việt-Nam khai quốc chí truyện, Đại-Nam liệt truyện, Đại-Nam nhất thống chí. (Các quyển này đều đăng trong Đông-dương tạp-chí). Ông thật là có công to với nền quốc-văn của ta vậy. — Ông mất năm 1921.

120 — LUẬN VỀ LÝ-THÚ VĂN-CHƯƠNG

Phàm về các cuộc chơi của thiên-hạ, cuộc nào cũng có một lý-thú riêng, như đánh cờ, uống rượu, gẩy đàn, chơi cảnh v.v., tuy là một cách tiêu-khiển nhỏ-nhặt, nhưng ngẫm ra thì cũng đều có một lý-thú. Mưu tính nước cao nước thấp, có thể nghiệm ra được các sự khôn dại ở đời; ngật-ngù chén tạc chén thù 1, có thể quên hết được các sự phiền não ở đời. Nước chẩy non cao, tính tình nẩy ra ngoài mấy tiếng nỉ-non thánh-thót; hoa thơm cỏ rậm, hứng thú gửi vào trong đám nghìn tía muôn hồng. Cái lý-thú đó dẫu tầm thường, nhưng cũng có thể di dưỡng được tinh-thần của người ta, mà cũng phải là người đạt-giả mới lĩnh-hội được.

Văn-chương cũng là một nghề chơi, mà nghề chơi lại thanh-nhã, lại hữu-dụng, cho nên cái lý-thú cũng to hơn các cuộc chơi khác. Muốn biết cái lý-thú của văn-chương thì trước hết phải biết cái hay của văn-chương.

Thế nào là cái hay của văn-chương?

Văn-chương không phải gọt từng chữ luyện từng câu là hay, không phải đặt lấy kênh-kiệu, đọc lấy rền-rĩ là hay, cũng không phải chắp chỉnh câu biền câu ngẫu 2, kỳ khu trổ phượng chạm rồng 3 là hay. Hay là hay ở tư-tưởng cao, hay là hay ở kiến-thức rộng, hay là hay ở lời bàn thấu lý, hay là hay ở câu nói đạt tình.

Có cái hay kỳ-cổ, có cái hay hùng-kiệt, có cái hay hồn-hậu, có cái hay thanh-sảng, có cái hay bóng-bẩy như

120 — LUẬN VỀ LÝ-THÚ VĂN-CHƯƠNG

Phàm về các cuộc chơi của thiên-hạ, cuộc nào cũng có một lý-thú riêng, như đánh cờ, uống rượu, gẩy đàn, chơi cảnh v.v., tuy là một cách tiêu-khiển nhỏ-nhặt, nhưng ngẫm ra thì cũng đều có một lý-thú. Mưu tính nước cao nước thấp, có thể nghiệm ra được các sự khôn dại ở đời; ngật-ngù chén tạc chén thù 1, có thể quên hết được các sự phiền não ở đời. Nước chẩy non cao, tính tình nẩy ra ngoài mấy tiếng nỉ-non thánh-thót; hoa thơm cỏ rậm, hứng thú gửi vào trong đám nghìn tía muôn hồng. Cái lý-thú đó dẫu tầm thường, nhưng cũng có thể di dưỡng được tinh-thần của người ta, mà cũng phải là người đạt-giả mới lĩnh-hội được.

Văn-chương cũng là một nghề chơi, mà nghề chơi lại thanh-nhã, lại hữu-dụng, cho nên cái lý-thú cũng to hơn các cuộc chơi khác. Muốn biết cái lý-thú của văn-chương thì trước hết phải biết cái hay của văn-chương.

Thế nào là cái hay của văn-chương?

Văn-chương không phải gọt từng chữ luyện từng câu là hay, không phải đặt lấy kênh-kiệu, đọc lấy rền-rĩ là hay, cũng không phải chắp chỉnh câu biền câu ngẫu 2, kỳ khu trổ phượng chạm rồng 3 là hay. Hay là hay ở tư-tưởng cao, hay là hay ở kiến-thức rộng, hay là hay ở lời bàn thấu lý, hay là hay ở câu nói đạt tình.

Có cái hay kỳ-cổ, có cái hay hùng-kiệt, có cái hay hồn-hậu, có cái hay thanh-sảng, có cái hay bóng-bẩy như vầng trăng dưới nước, như cành hoa[143] trong gương; có cái hay man-mác như gió phẩy mặt nước, như sao mọc trên trời; có cái hay rực-rỡ như thêu hoa dệt gấm, có cái hay quí báu như nhả ngọc phun châu.

Văn-chương lại hay ở tự tâm-khí nữa. Ông Mạnh-đông-Giã 4 có nói rằng: « Văn-chương là tâm-khí của hiền-nhân, tâm-khí vui thì văn-chương chính, tâm-khí trái thì văn-chương không chính ».

Văn-chương lại hay ở tự học-thức nhiều. Ông Phó-cảnh-Nhân 5 có nói rằng: « Tay áo dài khéo múa, lắm tiền khéo buôn. Ta chỉ nên lấy sách cổ-nhân, học cho thuộc và hiểu cho đến nghĩa tinh-vi, thì tự-nhiên nẩy ra văn-chương, rõ ràng như dáng mùa xuân, thơm tho như mùi lan huệ ».

Văn-chương lại hay ở sự lịch-duyệt nữa. Xem bài tựa của Mã-Tồn 5 kể cái hay của Tư-mã-Thiên 6 nói rằng: « Tử-Trường bình sinh tính hay chơi, đang lúc còn trẻ tuổi, hăng hái tự phụ, không dừng chân ở nhà mấy khi, không phải là đắm mê chơi dong đâu, nghĩa là xem cho trải biết cảnh lạ-lùng thiên-hạ, để giúp cho cái khí văn-chương, rồi mới nhả ra làm sách. Nay xem trong sách của ông ấy thì tựa như trông thấy cảnh tượng lúc đi chơi...

« Phàm muôn vật ở trong trời đất, những cảnh đáng sợ đáng hãi, hoặc đáng vui lòng, làm cho người ta sinh mừng sinh sợ, sinh lo sinh buồn, hết thẩy đem dùng làm văn-chương, vậy nên biến hóa ra vào như muôn thứ cảnh-tượng bày trong bốn mùa, không lúc nào hết. Muốn học cái văn-chương của Tử-Trường, trước hết nên học cái chơi của Tử-Trường mới được ».

Xem các lời trên này thì cái hay của văn-chương có nhiều lẽ, mà có hiểu được cái hay của văn-chương thì mới hội được cái thú của văn-chương. Cái thú tức ở trong cái hay mà ra. Kìa như những cảnh-tượng của tạo-hóa, ảo ảo huyền huyền, 8 kỳ kỳ quái quái, nghìn hình muôn trạng, biến hóa vô cùng, ai trông cho hết, ai biết cho đủ, nhờ có văn-chương mà biết được hầu không sót điều gì. Kìa như nhân-tình thế-thái, nào thiện, nào ác, nào nịnh, nào trung, nào những dạ ngoắt-ngoéo khắt khe, nào những thói thâm-trầm nham-hiểm, ai nói cho xuể, ai kể cho xiết, nhờ có văn-chương mà vẽ ra không thiếu một nét nào. Ngồi trong xó nhà, ma lịch-lãm được hết các nơi danh-thắng ở thiên-hạ; xem trên mảnh giấy, mà tinh tường được hết các việc hay dở của thế-gian; sinh ở dưới mấy nghìn năm, mà tựa hồ như được đối diện và được nghe tiếng bàn bạc của người sinh trước mấy nghìn năm, cũng đều nhờ có văn-chương cả.

Huống hồ ta nghe những câu cảnh-tỉnh 9, làm cho ta sực tỉnh được giấc mơ màng; ta nghe những lời cảm-thiết, làm cho ta kích động đến lòng khảng khái; ta nghe những lời đạo nghĩa, làm cho ta hứng khởi cái mối thiện tâm; ta nghe những chuyện khoáng-đạt, làm cho ta phát sinh ra chí cao-thượng; ta nghe những nỗi chua cay của người đời, làm cho ta phải ứa nước mắt khóc, ta thấy những thói lạ lùng của nhân-thế làm cho ta phải bật tiếng buồn cười; đó là những cái lý-thú của văn-chương cả...

Tuy vậy, cái thú văn-chương không phải dễ mà ai ai cũng hiểu được; duy người nào lĩnh-hội được thì mới được hưởng. Người không biết lĩnh-hội dù hay đến đâu cũng không biết là hay, dù thú đến đâu cũng không biết là thú; mà thường những câu của người ấy cho là hay là thú, thì lại là những câu không thú vị gì. Còn như người lĩnh-hội được thì bất cứ câu văn tinh-diệu hay câu tầm-thường, câu văn cao-kỳ hay câu thiển-cận, lắm khi tự-nhiên nhân câu văn mà hội được cái thú riêng; có khi lại hội được ở ngoài câu văn nữa.

(Trích trong tập Việt Hán văn khảo)

CHÚ THÍCH. — 1. Là chén mời chén trả. — 2. Lối văn biền-ngẫu là lối văn chữ nọ đối chữ kia, câu trên đối câu dưới, chỉnh-tề khéo-léo. — 3. Là vẽ vời hoa hoét. — 4. Là một bực văn-hào về đời Đường bên Tàu. — 5. Là một nhà làm văn về đời Minh. — 6. Là một nhà làm văn về đời Tống. — 7. Là một bực văn-hào về đời Hán, làm ra bộ Sử-ký. — 8. Là bí-mật thần-diệu. — 9. Câu gióng giả khuyên răn.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Chia các đoạn mạch trong bài này.
2. Các cuộc chơi vui của các cụ ta là những gì — Lý-thú của văn-chương ở đâu mà ra? Cái hay của văn-chương những thế nào? — Văn-chương hay bởi đâu? Thế nào là tâm-khí? là lịch-duyệt? Tại sao phải có hai điều ấy mới làm được văn hay?

3. Lý-thú của văn-chương những gì? Sự bổ-ích của văn-chương thế nào? Muốn hưởng cái lý-thú của văn-chương phải thế nào?

4. Xem văn phải thế nào cho có ích mà không hại?

II. Lời văn. — 1. Thích nghĩa chữ tiêu-khiển và kể mấy cuộc tiêu-khiển. — Nước cờ thế nào là cao? là thấp? — Chữ ngật-ngù nói ý gì? Nghìn tía muôn hồng: bốn chữ ấy tả cảnh gì? Cắt nghĩa những chữ di-dưỡng, tinh-thần, đạt-giả, lĩnh-hội — Thấu-lý, đạt-tình nghĩa gì? — Cắt nghĩa mấy chữ chỉ các tính-chất hay của văn-chương: kỳ-cổ, hùng-kiệt, hồn-hậu, v. v. — Cắt nghĩa chữ nhân-tình, thế-thái, nơi danh-thắng, chuyện khoáng-đạt.

2. Trong đoạn văn này có nhiều câu đối nhau không? — Có nhiều chỗ so sánh (comparaisons), chữ bóng bẩy (images) không? Trích ra mấy chỗ xem tác-giả dùng chữ có khéo, có xứng không? — Trong bài này tác-giả dẫn những lời nói của ai? Phép làm văn khi nào nên dẫn lời người trước (citations) như thế?

Chú thích của bản in

  1. Lạt. ↩
  2. Mạng. — ↩
  3. Ghe. ↩
  4. Biển. — ↩
  5. Ghe. ↩
  6. Mạng. ↩
  7. Huê. ↩