Trang chủ Viện

Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm

48. — THƠ LẤY VẦN KHOAI

Chương 4 / 16

48. — THƠ LẤY VẦN KHOAI

Tuy-lý-vương

Đức ông Tuy-lý-vương là con đức Minh-Mệnh. Ngài cùng với Tùng-Thiện-vương là hai tay thơ hay có tiếng. Đức Tự-Đức đã có câu thơ khen rằng: « Thi đáo Tùng, Tuy, thất Thịnh-Đường » nghĩa là thơ đến như thơ Tùng-thiện-vương và Tuy-lý-vương thì mất cả đời Thịnh-Đường (là đời thơ hay có tiếng ở bên Tàu). Thơ chữ của ngài rất nhiều có in thành sách, còn thơ nôm ngài làm có ít.

TIỂU DẪN. — Nguyên ngài cùng với sáu vị nữa đến chơi nhà mát của ngài Vương-Thọ, mới bày ra làm thơ lấy vận khoai. Bài của ngài chấm được nhất.

Cũng phải xơi ngơi 1 cũng phải chơi,
Làm người nào phải Phật lo đời.
Ngày dài dễ đặng ba muôn sáu,
Tháng chẵn lần qua một chục hai.
Việc phủ vua quan giờ có phép, 2
Tiệc thơ hầu hạ dám nhường ai.
Mua vui ngàn lượng xin đừng tiếc,
Đã thấy co ro cất củ khoai. 3

CHÚ THÍCH. — 1. Tiếng hoàng phái: xơi=thời, ăn; ngơi=giấc, ngủ. — 2. Ngài khi ấy làm Hữu-tôn-khanh. — 3. Ý nói hà tiện, để cười một đôi ngài kia.

49. — ĐĨ GIÀ ĐI TU

Tôn-thọ-Tường

TIỂU DẪN. — Ông người Nam-kỳ về đời Tự-Đức, có làm quan; lúc về trí-sĩ làm ra bài này, mượn tâm-cảnh một người đĩ hết duyên, chán trần về Phật mà tả tâm-sự của ông.

Chày kình 1 gióng tỉnh giấc Vu-san 2,
Mái tóc kim-sinh nửa trắng vàng.
Đài cảnh biếng soi mầu phấn nhạt[53],
Cửa không 3 đành gửi cái xuân tàn.
Trạnh niềm hoa liễu vài câu kệ,
An cảnh tang-du 4 một chữ nhàn.
Ngoảnh lại lầu xanh thương những kẻ,
Trầm-luân chưa khỏi kiếp hồng-nhan.

CHÚ THÍCH. — 1. Là chày đánh chuông chùa. — 2. Điển cũ: người đàn-bà thần ở dưới núi Vu-sơn, sáng làm mây, tối làm mưa, hiện vào chiêm bao, xin cùng vua Tống chung chăn gối; sau theo điển ấy nói chuyện trai gái gọi là giấc Vu-sơn. — 3. Là cửa Phật. — 4. Cảnh già ví như bóng mặt trời buổi chiều le-lói ở trên ngọn cây tang-du.

50. — GIÃ VỢ NHÀ ĐI LÀM QUAN

Phan-thanh-Giản

Cụ người tỉnh Bến-tre trong Nam-kỳ, làm quan triều Tự-Đức; hồi quân Pháp đánh lấy 3 tỉnh phía đông Nam-kỳ, cụ thương-thuyết ký tờ hòa-ước, sau lại sang sứ bên Pháp, về được cử làm Kinh-lược sứ ba tỉnh phía tây. Đến năm 1867, quân thuyền Pháp tiến đến tỉnh thành Vĩnh-long định sự lấy nốt ba tỉnh ấy, cụ biết thế không chống nổi bèn nộp thành-trì cho quân Pháp, rồi uống thuốc độc tự tử. — Cụ đậu tiến-sĩ, là một nhà văn học có tiếng trong lục tỉnh. Thơ văn chữ hán của cụ in thành « Tập Lương-khế ». — Bài này là lúc cụ từ giã nhà đi làm quan soạn ra.

Từ thuở vương xe mối chỉ hồng,
Lòng này ghi tạc có non sông!
Đàng mây cười tớ ham giong-ruổi,
Trướng liễu thương ai chịu lạnh-lùng.
Ơn nước nợ trai đành nỗi bận,
Cha già nhà khó cạy nhau cùng.
Mấy lời dặn bảo cơn lâm-biệt,
Rằng nhớ rằng quên, lòng hỡi lòng!

51. — VỊNH KIỀU

Phạm-quí-Thích

Cụ hiệu Lập-Trai, người làng Huê-đường, tỉnh Hải-dương, đậu tiến-sĩ đời Lê Cảnh-Hưng, ra làm quan lúc Lê mạt. Sau lúc đức Gia-Long bình định xong, có vời cụ ra làm quan, cụ cáo bệnh không được, mãi sau mới được từ về. Cụ dạy học-trò nhiều người thành đạt như các ông Nguyễn-Lý, Nguyễn-Siêu đều là học-trò cụ. Cụ có một tập thơ chữ truyền lại: Thảo-đường thi-tập. Chính cụ đã xuất bản đầu tiên quyển Truyện Kiều (bản Phường) và có sửa đổi một vài chỗ.

TIỂU DẪN. — Cụ nguyên là bầy tôi nhà Lê sau lại ra làm quan với Bản-triều, cụ mới mượn thân-thế nàng Kiều mà giãi bày tâm-sự của cụ, nên bài thơ này hay, mà trong biết bao nhiêu bài vịnh Kiều, bài này truyền tụng nhất. Bài này là dịch nghĩa bài thơ chữ Hán của cụ thường in ở đầu các bản truyện Kiều nôm.

Giọt nước Tiền-đường chẳng rửa oan,
Phong-ba chưa trắng nợ hồng-nhan.
Lòng tơ còn vướng chàng Kim-Trọng,
Vẻ ngọc chưa phai[54] chốn Thủy-quan 1.
Nửa giấc đoạn trường tan gối điệp 2,
Một dây bạc-mệnh dứt cầm loan.
Cho hay những kẻ tài tình lắm,
Trời bắt làm gương để thế-gian.

CHÚ THÍCH. — 1. Là nơi quan nhà thủy ở, ý nói một người tài sắc như nàng không đành chìm ngập ở nơi thủy-phủ mất. — 2. Là gối nằm ngủ. Điển cũ: xưa ông Trang-Chu nằm ngủ chiêm bao thấy mình hóa thành bướm, nên giấc mộng gọi là giấc điệp, gối ngủ gọi là gối điệp.

52. — NÚI NGŨ-HÀNH

Bà Bang-Nhãn

TIỂU DẪN. — Bà là vợ ông Phan-Quì tục thường gọi là ông Bang-Nhãn, người ở Quảng-nam. Bà có tài nôm ngâm vịnh cũng nhiều. — Núi Ngũ-Hành tục gọi là Hòn-non-nước (Montagnes de Marbre) ở Quảng-nam, cảnh-trí kỳ đẹp, xưa nay các nhà thi-sĩ đề vịnh rất nhiều.

Cảnh-trí nào hơn cảnh-trí này!
Bồng-lai thôi cũng hẳn là đây!
Núi chen sắc đá mầu phơi gấm,
Chùa nức hơi hương khói lộn mây,
Ngư-phủ gác cần ngơ mặt nước,
Tiều-phu chống búa dựa lưng cây.
Nhìn xem phong-cảnh ưa lòng khách,
Khen bấy thợ trời khéo đắp xây!

53. — ĐĨ ĐI TU

Hoàng-mẫn-Đạt

Ông người Nam-kỳ, đồng thời với ông Tôn-thọ-Tường làm quan tới Tuần-phủ Hà-tiên. Nên so sánh bài này với bài Đĩ già đi tu của ông Tôn.

Lầu xanh thảnh-thót tiếng chuông truyền,
Tỉnh giấc cao-đường 1 lúc ngửa nghiêng.
Mượn chiếc thoàn 2 tình qua biển ái,
Đưa con sóng sắc đến rừng thiền 3.
Trông gương trí-tuệ lau lòng tục,
Lần chuỗi bồ-đề kết trái duyên.
Mát mẻ cửa không trăng gió sẵn.
Dầu chưa nên phật, cũng nên tiên.

CHÚ THÍCH. — 1. Điển cũ: Vua Tống chơi ở dưới núi Cao-đường, chiêm bao gặp người con gái thần cùng vua hợp hoan. — 2. Tiếng Nam-kỳ: tức là thuyền. — 3. Tức là cảnh phật.

54. — NGŨ THẬP NGŨ TỰ THỌ

Dương-Khuê

Thường gọi là cụ Vân-Đình, vì cụ người làng Vân đình, phủ Ứng-hòa, tỉnh Hà-đông, đậu tiến-sĩ đời Tự-Đức, làm quan đến thượng-thư, cùng với em là Dương-Lâm, đậu giải-nguyên, đều là tay hay nôm có tiếng gần đây, còn nhiều thơ ca truyền lại.

Năm mươi lăm tuổi hãy mừng ta,
Còn bốn mươi lăm nữa đó mà.
Đội đức hải sơn ngày tháng rộng,
Gẫm mình râu tóc tuyết sương pha.
Cung đàn ả nguyệt dầu yêu trẻ,
Chén rượu làng quê vẫn kính già.
Xiêm áo cũng chung nhờ lộc nước,
Được riêng khỏe mạnh phúc nhà ta.

HÁT NÓI

PHÉP TẮC VỀ LỐI HÁT NÓI

Các lối ca từ của ta, không kể các lối mượn của Tàu, cũng có nhiều thể: lý, sẩm, hề, điên, trống-quân, quan-họ, đò-đưa, v. v. Nhưng có lối hát ả-đào (hay xướng-ca) là thịnh-hành nhất và có văn-chương lý-thú nhất.

Hát ả-đào cũng có nhiều lối lắm như: dâng hương, giáo trống, gửi thư, thét nhạc, v. v.; song chỉ có lối hát nói là thông-dụng nhất. Các nhà danh-sĩ từng soạn ra bài hát nói, nhiều bài có ý-tưởng, có văn-chương, có thể coi là những nền kiệt-tác trong văn nôm ta. Vậy xin nói qua về thể-cách lối hát nói.

I. — Cách đặt câu áp vần

Lối hát nói là lối vừa để hát lên vừa phải hòa với bài đàn và dịp phách, nên làm một bài hát nói phải đặt câu hạ vần sao cho âm-điệu hợp với cung đàn khổ phách.

Đại để cách đặt câu hát từ bốn chữ đến bảy chữ, chín chữ là vừa, bài hát thì mười một câu là đủ. Song cũng có khi câu đặt dài hơn khúc khủyu nhiều đoạn, gọi là câu gối-hạc, bài đặt dài hơn 11 câu gọi là dôi-khổ. Các câu trên đều đi đôi cả, duy câu cuối buông lẻ xuống sáu chữ cho hợp với dịp phách.

Cách áp vần thì có hai thứ vận: cước vận là vần ở cuối câu và yêu vận là vần ở lưng chừng câu. Lúc hạ vần thường đương vần bằng thay sang vần trắc, hoặc đương vần trắc thay sang vần bằng, sao cho âm-điệu hợp với cung đàn khổ phách.

II. — Nội-dung bài hát nói

Một bài hát nói chính-thức có 11 câu chia ra làm 5 đoạn:

1•) Hai câu đầu là tổng-mạo là câu gióng lên để vào bài.

2•) Hai câu sau là thừa-đề nối ý hai câu trên mà tiếp-tục xuống ý dưới.

3•) Rồi đến hai câu thơ chữ hay thơ nôm dùng lối ngũ-ngôn hay thất-ngôn để nêu đại-ý trong bài.

4•) Bốn câu sau là phô-diễn giải thích rõ ràng ý nghĩa trong bài.

5•) Câu cuối cùng là câu kết tóm tắt đại-ý cả bài.

Lệ trên bài hát nói thường đặt bốn câu ca lục-bát (trên sáu dưới tám) gọi là câu mưỡu để nêu ý-nghĩa cả bài lên trước.

Xem bài mẫu: Họa lại bài ông phỗng đá của ông Phan-văn-Ái, tran

55. — ÔNG PHỖNG ĐÁ

Mưỡu

Người đâu tên họ là gì?
Khéo thay chích-chích chi-chi nực cười.
Giang tay ngửa mặt lên trời,
Hay là còn nghĩ sự đời chi đây?

Nói

Trông phỗng đá lạ lùng muốn hỏi:
Cớ làm sao len-lỏi đến chi đây?
Hay tưởng trông cây cỏ nước non này?
Chí cũng rắp chen chân vào hội Lạc 1?
Thanh-sơn tự tiếu đầu tương hạc,
靑 山 自 笑 頭 將 鶴
Thương-hải thùy tri ngã diệc âu 2?
滄 海 誰 知 我 亦 鷗
Thôi cũng đừng chấp chuyện đâu đâu,
Túi vũ-trụ mặc đàn em sau gánh vác.
Duyên kỳ-ngộ là duyên tuổi-tác,
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác,
Cuộc tỉnh say say tỉnh cùng nhau.
Nên chăng đá cũng gật đầu!

Nguyễn-Khuyến[55]

CHÚ THICH. — 1. Tức là hội Lạc-xã kỳ-anh là hội các ông già về đời nhà Tống. — 2. Nghĩa hai câu thơ: núi xanh tự cười đầu ta sắp trắng như lông con hạc, ý nói đầu đã bạc; bể (biển) biếc nào hay ta cũng là con chim âu (giống vịt nước hai bên đầu có hai chòm lông: mũ ni các cụ già đội cũng có hai miếng vải hai bên để che tai); ý nói cảnh già.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Trong bài này tác giả muốn tả ý-chí gì? Tác-giả mượn vật gì để tả cái ý-chí ấy?

2. Bốn câu mưỡu tả gì? Tác-giả tả ông phỗng đá chú trọng về điều gì? Tại sao vậy?

3. Tác-giả thấy phỗng đá liền thổ lộ cái ý-chí gì của mình ra? Cách chuyển ý có tự-nhiên không?

4. Hai câu thơ cốt nói ý gì?

5. Cái quan-niệm về sự nhàn của các cụ ta thế nào? Cái quan-niệm ấy đối với tình-thế ngày nay có thích-hợp không?

6. So bài này với bài họa lại của ông Phan-văn-Ái.

II. Lời văn. — 1. Chích-chích chi-chi: 4 chữ ấy nói ý gì? — Hội Lạc là hội gì? — Chuyện đâu đâu là những chuyện gì? — Vũ-trụ: nghĩa đen hai chữ ấy. — Túi vũ-trụ nói ý gì? — Duyên kỳ-ngộ là duyên gì? — Cuộc tỉnh say là cuộc gì? sao gọi thế?

2. Cách bố-cục bài hát nói này có trúng cách không? Nói qua về thể-cách một bài hát nói chính-thức

56. — BÀI HỌA LẠI BÀI TRƯỚC

Mưỡu

Non thiêng khéo đúc nên người,

Trông chừng sành-sỏi khác người trần-gian.

Trải bao gió núi mưa ngàn,

Đã già già sóc, lại gan gan lỳ!

Nói

Tổng-mạo

{

Gan-lỳ già sóc, c. t.[56]

Hà non chi mà sợ cóc y. t. chi ai! c. b.

Thừa-đề

{

Người là người yb tớ cũng là người c. b.

Nhằm cho kỹ vẫn tranh vanh đầu giốc c. t.

Hai câu thơ

{

Tương tri tằng thức năng công ngọc, c. t.

相 知 曾 識 能 攻 玉

Mạc luyện như hà khả bổ thiên? c. b.

莫 鍊 如 何 可 補 天

Phô-diễn

{

Thôi mặc ai răng trắng răng đen, c. b.

Thế như thế cũng ngồi yên yb như thế vậy. c. t.

Còn trời đất hãy còn tai mắt ấy, c. t.

Lặng mà coi họa thấy yt lúc nào chăng? c. b.

Kết

Hẵng về giã gạo ba trăng! c. b.

Phan-văn-Ái

GIẢNG NGHĨA. — Cụ Phan-văn-Ái là người làng Đồng-tỉnh về Bắc-ninh đậu Phó-bảng. Bài này cụ họa theo bài « Ông phỗng đá » của cụ tam-nguyên Yên-đổ để tả chí-ý của mình, tức thuộc về thể thuật hoài. Đại-ý nói mình có tài mà đời không biết dùng, thì mình cũng đành yên phận để đợi thời.

Chia ra làm ba đoạn:

I. Bốn câu mưỡu tả ông phỗng đá mượn đấy để tả tài trí mình. Đọc bốn câu ấy rõ ra một ông phỗng đá trải bao mưa gió mà vẫn y nguyên, ngụ ý rằng mình cũng là người lỗi-lạc có tài trí có can đảm khác thường. Đoạn này lời văn rắn-rỏi, hơi văn mạnh-mẽ; nên nhận hai bộ điệp-tự già già, gan gan làm cho câu văn mạnh biết chừng nào.

II. Bốn câu trên “bài nói” tả chí khí của mình: đã gan đã già, đã có tài-trí hơn người thời có sợ ai, vẫn biết trọng phẩm-giá mình mà treo cao lên, chứ không chịu tự-hạ mà luồn cúi đê mạt như ai.

Rồi hạ hai câu thơ chữ để nói ý đời không biết dùng mình mà chuyển xuống đoạn sau. Hai câu thơ nghĩa là: người biết mình biết giũa được ngọc; không luyện làm sao vá được trời? Ý nói rằng mình có tài-trí có thể giúp đời được ví như đá có thể đem giũa được ngọc đem vá được trời, nhưng không ai biết đến. Đoạn văn này giọng khảng-khái lắm, rõ ra chí khí một người có tài mà không chịu khuất ai.

III. Năm câu cuối nói ý an phận đãi thời. Ý nói đời đã không biết dùng ta thì ta cũng mặc họ tha hồ mà múa may, tha hồ mà làm trò. Ta cứ ngồi yên mà ngắm cuộc đời, hễ mình còn sống thì tất có lúc đem tài trí ra mà thi thố được, khác nào như người đã có công cấy tất có lúc được gặt. Nay hãy cứ trau giồi thêm cái nhân-cách của ta để dự-bị lúc ra đời cũng như ta chưa có lúa mùa thì ta hẵng giã gạo ba-trăng để ăn đến lúc gặt.

Xem bài này biết rõ chí-khí một người có tài mà không gặp thời nhưng cũng không chán đời.

Còn văn-thể bài này thì rất trúng cách lối hát nói: 4 câu mưỡu theo thể lục-bát, 11 câu nói giữa xen hai câu thơ chữ nho. Vận điệu cũng hợp thức cả.

57. — CUỘC PHONG-TRẦN

Chẳng lưu lạc dễ trải mùi trần-thế,
Còn trần-ai 1 khôn tỏ mặt công hầu 2.
Ngất-ngưởng thay con Tạo khéo cơ-cầu,
Muốn đại thụ 3 hẵng gìm cho lúng-túng.
Thân hệ bang gia chung hữu dụng,
身 係 邦 家 終 有 用
Thiên sinh hào-kiệt bất ưng hư 4!
天 生 豪 傑 不 應 虛
Hẵng bền lòng chớ chút oán vưu,
Thời chí hĩ, ngư long biến hóa 5.
Thôi đã biết cùng thông 6 là mệnh cả,
Cũng đừng đem hình dịch 7 lại cầu chi.
Hơn nhau cũng một chữ thì!

Cao-bá-Quát

Ông người làng Phú-thụy, huyện Gia-lâm, tỉnh Bắc-ninh, đậu cử-nhân năm Minh-Mệnh thứ 12 (1831), làm chức giáo-thụ. Đến đời vua Tự-Đức, vì ông cậy mình có tài văn-học mà công-danh không bằng người, ông mới tìm một người dòng-dõi nhà Lê, tôn làm minh-chủ, rồi nổi loạn, tục gọi là giặc châu-chấu. Được ít lâu ông bị thua chết.

Văn ông rất hay: Vua Tự-Đức đã có câu thơ khen rằng: « Văn như Siêu Quát vô Tiền-Tấn » ý nói so với văn ông Siêu (tức là quan phó-bảng Nguyễn-Siêu hiệu Phương-Đình) và ông Quát thì văn hay nhà Tiền-Tấn bên Tàu cũng không vào đâu: đương thời cũng có câu rằng: « Thần Siêu thánh Quát ». Ông có tập thơ chữ nho (Cao-chu-Thần thi-tập; Chu-Thần là tên hiệu ông) để lại. Văn nôm cũng hay lắm, còn nhiều bài hát nói truyền-tụng đến giờ.

CHÚ THÍCH. — 1. Là bụi bậm; ý nói hàn-vi — 2. Ý cả câu: Lúc chưa gặp thời thì chưa tỏ được tài chí của mình. — 3. Là trao cho việc lớn. Hai câu này ý nói: trời thường thử người có tài, muốn cho mình làm nên sự-nghiệp lớn, hẵng bắt phải gian-truân cực khổ đã. — 4. Nghĩa là: thân mình vốn của nước của nhà, tất là có việc dùng; trời kia sinh ra người tài giỏi há lại bỏ không ru? — 5. Nghĩa là: thời mà đến thì cá hóa rồng; ý nói: lúc gặp thời hẳn đem tài ra thi-thố mà làm nên công-danh được. — 6. Nghĩa là cùng mãi đến lúc thông, bĩ mãi đến lúc thái. — 7. Nghĩa là đem thân-hình ra mà chịu sai khiến, chịu vất vả.

58. — ĐỜI NGƯỜI THẤM-THOẮT

Nhân sinh thiên địa gian nhất nghịch lữ 1,
Có bao lăm ba vạn sáu nghìn ngày?
Như thoi đưa, như bóng sổ, như gang tay,
Sực nhớ chữ cố-nhân bỉnh chúc 2.
Cao sơn lưu thủy thi thiên trục,
高 山 流 水 詩 千 軸
Minh nguyệt thanh phong tửu nhất thuyền 3.
明 月 清 風 酒 一 船
Giang tay người tài-tử khách thuyền-quyên,
Chén rượu thánh câu thơ thần thích chí.
Thành-thị ấy mà giang-sơn ấy,
Đâu chẳng là tuyết nguyệt phong hoa?
Bốn mùa xuân lại thu qua,
Đời người thấm thoắt như là con thoi.
Cho hay kẻ thế người đời!

Cao-bá-Quát

CHÚ THÍCH. — 1. 人 生 天 地 間 一 逆 旅: Người ta sống trong trời đất như người đi dọc đường; ý nói đời người ngắn ngủi. — 2. 古 人 秉 燭: Người đời xưa cầm đuốc (đi chơi đêm vì nỗi ban ngày ngắn quá). — 3. Nghĩa là: núi cao nước chảy thơ nghìn cuốn, trăng trong gió mát rượu một thuyền (ghe).

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bài này cốt nói ý gì?

2. Các tư-tưởng của các cụ về cuộc đời thế nào? Cái tư-tưởng ấy trong văn Tàu và văn Tây (thơ ông Musset, ông Lamartine, v. v.) có thường nói đến không?

3. Cách chơi bời tiêu-khiển của các cụ ngày xưa thế nào? Ta có những thành-ngữ gì để tóm tắt các cuộc tiêu-khiển của các cụ?

4. Trong câu kết tác-giả có ý mỉa những hạng người nào?

II. Lời văn. — Cắt nghĩa những chữ: thoi đưa, bóng sổ, gang tay. Thế nào gọi là người tài-tử, khách thuyền-quyên? — Rượu thánh, thơ thần là thế nào? — Xuân lại, thu qua: ý nói gì?

2. Văn bài này có giọng phóng khoáng không? Giọng văn ấy có hợp với ý-tưởng trong bài không?

59. — CÔNG-DANH

Tang-bồng hồ-thỉ nam-nhi trái 1,
Cái công-danh là cái nợ nần!
Nặng nề thay đôi chữ quân, thân 2!
Đạo vi tử vi thần đâu có nhẽ?!
Cũng dắp điền-viên 3 vui thú-vị;
Trót đem thân-thế hẹn tang-bồng.
Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung 4,
Hết hai chữ trung trinh báo quốc.
Một mình để vì dân, vì nước,
Túi kinh-luân từ trước để nghìn sau,
Hơn nhau một tiếng công hầu.

Nguyễn-công-Trứ[57]

CHÚ THÍCH. — 1. 桑 蓬 弧 矢 男 兒 債: tang, bồng là cây dâu cây sậy; hồ, thỉ là cung, tên. Theo tục bên Tàu ngày xưa, hễ sinh con trai thì người ta lấy cái cung làm bằng gỗ dâu bắn sáu cái tên làm bằng cây sậy, bắn lên trời, xuống đất và ra bốn phương trời; thủ ý rằng sau này con theo việc cung tên lập nên công-danh. Câu này nghĩa bóng là: làm tài trai phải lập nên công-danh sự-nghiệp. — 2. Là vua với cha mẹ. — 3. Là ruộng vườn; thú điền viên là cảnh thú của người ẩn-dật ở nơi quê mùa. — 4. Là gươm với nỏ (ná, nỗ), việc kiếm cung là việc đánh giặc dẹp loạn.

CÂU HỎI — I. Ý tưởng. — 1. Đại ý bài này thế nào?

2. Công danh là gì? Cái quan-niệm của tác-giả về hai chữ công-danh thế nào? Sao tác-giả lại bảo công-danh là nợ nần?

3. Nghĩa quân thân là nghĩa gì? quan trọng thế nào?

4. Cái quan-niệm của tác-giả về chức-trách một ông quan thế nào?

II. Lời văn. — 1. Nghĩa chữ dắp chữ hẹn. — Xếp bút nghiên: ý nói gì? — Túi kinh-luân là gì? — Công hầu là gì? — Ý câu kết nói gì?

2. Về thể cách bài này có điều gì khác lạ không? Hai câu thơ chữ tác-giả thay làm hai câu gì?

60. — THOÁT VÒNG DANH LỢI

Chen chúc lợi danh đà chán ngắt,
Cúc, tùng, phong, nguyệt, mới vui sao!
Đám phồn-hoa trót bước chân vào,
Sực nghĩ lại giật mình bao kể xiết!
Quá giả vãng nhi bất thuyết 1,
Cái hình hài làm thiệt cái thân chi 2?
Cuộc đời thử ngẫm mà suy,
Bạn tùng cúc xưa kia là cố cựu.
Hẹn với lợi danh ba chén tửu,
Vui cùng phong nguyệt một câu thơ.
Chuyện cổ kim so sánh tựa bàn cờ,
Riêng vui thú giang, sơn, phong, nguyệt.
Mặc xa-mã thị-thành không dám biết.
Thú yên-hà 3 trời đất để riêng ta.
Nào ai ai biết chăng là!

Nguyễn-công-Trứ

CHÚ THÍCH. — 1. 過 者 往 而 不 說: Việc đã qua không cần nói nữa. — 2. Hình hài: xác thịt; thân: tâm tình. Câu này ý nói: Chớ nên ham danh lợi bề ngoài mà làm khổ tâm thân mình. — 3. Yên hà 煙 霞 là khói và mây; thú yên hà là thú của người nhàn-tản ẩn-dật.

CÂU HỎI — I. Ý tưởng — 1. Bài này tả cảnh nhàn của bực người nào? — Tóm đại ý các đoạn trong bài này.

2. Tác-giả coi danh lợi thế nào? — 3. Các cuộc tiêu-khiển nói trong bài này có phải là những cuộc các cụ thường thưởng không?

4. So bài này với bài « Đời người thấm thoắt » của ông Cao-bá-Quát ở trên. Có những ý gì giống nhau? khác nhau?

II. Lời văn — 1. Cúc, tùng, phong, nguyệt: nghĩa đen bốn chữ ấy. Đây nói chung những cái gì? — Phồn-hoa là thế nào? — Hình-hài với thân khác nhau thế nào? — Nghĩa những câu 9, 10 và 11. — Câu kết ý nói gì?

2. Trong bài này có nhiều chỗ tương-phản (antithèse) không? Nhặt những chỗ ấy ra.

61. — CUỘC CÔNG-DANH

Cuộc công-danh không không có có,
Có rằng không, không có cũng ừ.
Nào ai hay trời đất những bao giờ,
Mà đã chắc non sông là mấy tuổi?
Hồn hồn nhất đại khối,
渾 渾 一 大 塊
Diểu diểu như nghĩ quần 1.
渺 渺 如 蟻 羣
Lọt lòng ra ai cũng có quân thân,
Mang lấy nợ lẽ lần khân không trả.
Cuộc kim cổ bày thôi lại xóa 2,
Cái râu mày nào biết dại hay khôn.
Trăm năm cũng một tiếng đồn!

Vô-danh thị

CHÚ THÍCH. — 1. Nghĩa là: trời đất ví như một khối lớn, người ta nhỏ như một đàn kiến. — 2. Cuộc Kim cổ: cuộc đời nay đời xưa; ý nói cuộc đời thay đổi.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng — 1. Đại-ý bài này thế nào?

Cái quan-niệm của tác-giả về chữ công-danh thế nào? So sánh cái quan-niệm ấy với cái quan-niệm của cụ Thượng-Trứ.

3. Tác-giả lấy những lẽ gì mà cho cuộc công-danh là một sự không có bằng cứ, là một tiếng đồn.

II. Lời văn. — Nghĩa hai câu 1, 2. Văn hai câu ấy có giọng gì? — Ý hai câu 3, 4. — Nghĩa những chữ: quân thân. — Lần-khân là thế nào? — Bày thôi lại xóa: đây tác-giả ví cuộc đời như cuộc gì? Sao vậy? — Cái râu mày: nghĩa đen, nghĩa bóng.

62. — LIỆT-NỮ NGUYỄN-THỊ-KIM

Xem bài Tiểu-dẫn về bà Thị-Kim ở trang 34.

Chiều Lê-quý có nàng tiết-liệt,
Hai mươi thu khăng khít thù tây,
Đem tàn-dung 1 nương chốn am mây,
Đạo thần tử tình trong phu phụ.
Vạn cổ di luân chiêu vũ trụ,
萬 古 彝 倫 昭 宇 宙
Nhất xoang trung nghĩa đáp quân vương 2.
一 腔 忠 義 答 君 王
Hai vai một gánh cương-thường,
Chén tân khổ nhắp ngon mùi chính khí.
Đã nên đấng trung-thần bất nhị 3,
Lại nên tài liệt-nữ bất canh 4.
Rõ ràng hai chữ trung, trinh!

Vô-danh thị

CHÚ THÍCH. 1. — Tàn dung: nhan sắc đã nhạt (lạt). — 2. Nghĩa là cái luân-thường muôn đời nhờ bà mà chói lọi cả trong vũ-trụ; lòng trung nghĩa đinh-ninh một dạ của bà đủ báo đáp đấng quân-vương. — 3. 忠 臣 不 二: Bầy tôi trung không thờ hai triều. — 4. 烈 女 不 更: Người liệt-nữ không thay hai đời chồng.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bà Thị-Kim thủ tiết với chồng thế nào? Tóm đại-ý các đoạn trong bài này.

2. Bà Thị-Kim đối với vua Chiêu-Thống có những tình nghĩa gì? (Cắt nghĩa câu thứ 4.) Sao tác-giả lại vừa khen bà ấy là trung, vừa khen là trinh? Nói cái cảm-tưởng của anh khi đọc xong bài này

II. Lời văn. — 1. Tiết, liệt: 2 chữ ấy khác nghĩa nhau thế nào? Sao bà Thị-Kim lại xứng cả 2 chữ ấy? — Khăng khít thù tây: ý nói gì? Chốn am mây là chốn nào? — Nghĩa hai câu 7 và 8. — Trung, trinh: nghĩa chữ ấy. Sao bà Thị-Kim lại xứng cả hai chữ ấy?

2. Lấy mấy chữ dùng nghĩa bóng trong bài này mà nói qua cách dùng các chữ ấy trong lối văn ta.

63. — LIỆT NỮ PHAN-THỊ-THUẤN

Xem bài Tiểu-dẫn về bà Thị-Thuấn ở trang 33

Khảng-khái tòng vương dị,
慷 慨 從 王 易
Thung-dung tựu nghĩa nan 1.
從 容 就 義 難
Phận bọt bèo xiết nỗi khách hồng-nhan,
Lòng vàng đá mấy thua ông Tiền-Trạch 2.
Trung sở sự, 3 chàng đành kiệt lực,
Nhất nhi chung 4, nàng vẹn chữ tòng.
Lấy áo xiêm mà trả nợ non sông,
Đem lòng trắng giãi cùng bích-thủy.
Nhị-giang phong trích cương thường lệ,
珥 江 鋒 鏑 綱 常 淚
Thúy-ái ba đào tiết nghĩa thân 5.
翠 靄 波 濤 節 義 身
Người liệt-nữ, kẻ trung-thần,
Gương trước để soi chung lai-thế.
Nào là kẻ trung-thần nghĩa-sĩ,
Để cương-thường một đấng phụ-nhân.
Đùn-đùn khói tỏa giang-tân.

Vô-danh thị

CHÚ THÍCH. — 1. Nghĩa là: hăng hái theo việc nhà vua thì dễ, thung-dung chết vì nghĩa thì khó. — 2. Là chồng bà, được phong là Tiền-Trạch hầu. — 3. 忠 所 事: hết trung về cái chức-sự của mình. — 4. 一 而 終: Theo một chồng cho đến chết thì thôi. — 5. Nghĩa là: mũi giáo mũi tên ở nơi sông Nhị rỏ giọt lệ cương thường, sóng cồn ở bến Thúy ái để tấm thân tiết nghĩa. Mấy câu này câu trên nói về chồng bà, câu dưới nói về bà.

64. — MÙA THU ĐI CHƠI THUYỀN DƯỚI TRĂNG

Xinh thay tiết thu-thiên quang-cảnh,
Khi lạc-hà 1 giãi bóng tà-dương 2!
Một con thuyền[58] cạy bát 3 bên giang,
Thu-thủy cộng tràng-thiên nhất sắc 4.
Vầng ngọc-thỏ 5 in sông vằng-vặc,
Giữa giang-tâm bóng lộn mấy từng!
Trên một trăng, dưới một trăng,
Xui lòng kẻ hữu-tình ngao-ngán.
Thùy bả kim bôi phân lưỡng đoạn,
誰 把 金 杯 分 兩 段
Bán trầm thủy để bán thiên thai 6.
半 沉 水 底 半 天 台
Vầng trăng ai sẻ làm hai,
Nửa in dưới nước nửa cài trên không?
Nước mây thăm thẳm một dòng.

Vô-danh thị

CHÚ THÍCH. — 1. Lạc hà là đám mây có bóng mặt trời buổi chiều chiếu vào thành sắc vàng ánh. — 2. Tà-dương là mặt trời xế chiều. — 3. Tiếng nhà thuyền: cạy: lái ra; bát: lái vào. — 4. 秋 水 共 長 天 一 色: nước mùa thu cùng một mầu với trời rộng. — 5. Là mặt trăng. — 6. Nghĩa là: ai cầm chén vàng chia hai đoạn, nửa chìm đáy nước nửa lưng trời. (Chén vàng là mặt trăng). Hai câu thơ chữ này tác-giả đã dịch ở hai câu dưới.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bài này cốt tả cảnh gì?

2. Tác-giả tả cảnh trăng nước thế có khéo không?

3. Cái cảm-tưởng của tác-giả lúc bấy giờ thế nào?

II. Lời văn. — 1. Cạy bát: nghĩa những tiếng ấy. — Bóng lộn mấy từng: mấy chữ ấy tả có hệt không? — Ngao ngán: ý nói gì? Tại sao? — Ba câu cuối có thành một bức tranh tuyệt-bút không?

Chú thích của bản in

  1. Lạt. ↩
  2. Có bản chép: Gót ngọc khôn đành.... ↩
  3. Coi tiểu-truyện tác-giả trang 20. ↩
  4. Chữ viết tắt: c=cước-vận; y=yêu-vận; b=vần bằng; t=vần trắc. ↩
  5. Xem tiểu-truyện tác-giả ở trang 13. ↩
  6. Ghe. ↩