Trang chủ Viện

Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm

VĂN-SÁCH

Chương 11 / 16

VĂN-SÁCH

Văn-sách là một bài văn vấn-đáp (questionnaire) đầu bài hỏi thế nào thì trong bài văn mình phải trả lời lại làm vậy.

Văn-sách cũng là một lối ứng-thí của ta xưa. Đầu bài thường lấy những lời nói hoặc công việc của cổ-nhân cùng các việc đương thời ra hỏi học-trò. Mỗi mục văn-sách định hỏi về việc gì, thường nêu lên một câu gọi là đề-án, rồi ở dưới nhặt (lặt) các lời nói của thánh hiền và các công việc trong lịch-sử có liên-lạc đến đề-mục ấy ra mà hỏi; cuối cùng hỏi một vài câu thời-sự cũng thuộc về mục ấy.

Lúc làm bài văn đáp lại thì cũng cứ theo từng câu trong đầu bài mà trả lời lại, phải biện lý, phải dẫn chứng, giải-thích sao cho vỡ-vạc gẫy gọn.

Lắm khi đầu bài hỏi lăng-líu, câu nọ chằng sang câu kia thì lúc làm bài hoặc theo thứ tự, hoặc đảo lên đảo xuống, liệu cách mà gỡ lần lần từng mối từng cớ, sao cho đáp khỏi thiếu ý mà cũng đừng thừa ý. Bởi vậy nên làm được văn-sách hay phải học rộng nhớ nhiều, lại phải có kiến-thức lịch-duyệt nữa, nên trong các lối văn ứng-thí của ta xưa, chỉ có lối này là thiết-thực hữu-dụng hơn cả.

Làm văn-sách tuy được tùy ý mình xếp đặt, nhưng cũng phải theo một vài câu lề-lối đã định trong trường-qui; bắt đầu làm phải đặt mấy chữ: « Đối sĩ văn 對 士 聞 » (thưa, tôi nghe) hoặc « thần đối thần văn 臣 對 臣 聞 » (thần thưa thần nghe); hết đoạn mở bài phải đặt câu: « Tư thừa sách vấn nhi lược trần chi 茲 承 策 問 而 略 陳 之 »; (nay vâng lời sách hỏi mà lược bày ra). Đầu câu đáp phải đặt 2 chữ: « Thiết vị 竊 謂 »; (trộm nghĩ rằng). Cuối bài lại viết mấy câu lề-lối này: « sĩ giã, hạnh phùng thịnh thế, tòng sự văn trường, quản kiến như tư, vị tri khả phủ, nguyện chấp sự kỳ trạch nhi tiến chi, sĩ cẩn đối. 士 也。幸 逢 盛 世。從 事 文 塲。管 見 如 斯。未 知 可 否。願 執 事 其 擇 而 進 之。士 謹 對。» (Tôi đây, may gặp đời thịnh, theo việc trường văn, kiến-thức hẹp-hòi như vậy, chưa biết có phải hay không, xin các quan coi việc kén lựa mà cất nhắc cho. Tôi cẩn thưa).

Trong văn nôm ta có mấy bài văn-sách thường lấy các câu ca-dao tục-ngữ ra làm đầu bài.

102 — CÂU HỎI

Vấn: Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang điểm má hồng răng đen.

Truyện rằng: « Chẳng tham ruộng cả ao liền, tham về cái bút cái nghiên anh đồ. »

Kim khảo 1: « Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm, » tằng kiến ư thiên vạn nữ-nhi chi nghị; bất tri hà sở thủ ư anh đồ, nhi quyến-luyến nhược thị rư 2?

Thí vị trần chi, dĩ quan xuân-hoài tình-tự 3.

BÀI LÀM

Em nghe rằng: Sen ngó đào tơ, may gặp hội hôn-nhân chi phải lứa; chả chim cơm trắng, vẫn là mong giải-cấu chi tốt đôi; chọn mặt gửi vàng, dẫu ý ai cũng vậy.

Nay vâng lời sách hỏi mà lược bày ra.

Trộm nghĩ rằng: Rồng bay còn đợi đám mây, bắn bình-tước 4 phải đợi tay anh-hùng. Lấy chúng em chi má đỏ hồng-hồng, răng đen nhưng-nhức, chẳng những muốn cô tú dì nho chi dự, vẫn là mong chồng loan vợ phụng chi chung tình. Nếu mà cú đậu cành mai, thời công trang-điểm chẳng hoài lắm ru? Vậy nên sớm gửi tơ duyên, ai là chẳng ngọc đá, vàng thau chi lừa lọc.

Nay xét phương-ngôn chị em bạn gái nói chuyện rằng:

— « Chẳng tham ruộng cả ao liền, tham về cái bút cái nghiên anh đồ. »

Ý trộm nghĩ rằng: Ngọc còn đợi giá, vàng chẳng lộn thau. Cây gỗ lim chìm, quyết chẳng nỡ mang làm cọc giậu; hoa đào tươi tốt, hẳn không đem bán cho lái buôn. Cam đường với quả quít hôi, cũng cân nhắc ư ba đồng một, một đồng đôi chi giá.

Thử ngó coi: Ruộng sâu ao cả, chàng nông kia chi trọc-phú những khoe giầu; song Vương-Khải Thạch-Sùng 5 đã từng đấu phú, rồi cũng giương mắt ếch ư của đời người thế chi thu.

Nghiên ruộng bút cày, anh đồ nọ chi đa văn 6 không ngại khó; kìa Mãi-Thần, Mông-Chính 7 có lẽ tràng bần, rồi cũng bổng cánh hồng ư bĩ-cực thái-lai chi hội.

Nông nhì sĩ nhất, lẽ ấy đã rành.

Vả: Chân lấm tay bùn, chàng nông nãi vũ-phu chi cục-kịch, lấy yếm thắm chỉ đào chi tha-thướt, giá thể mà mang bầu xách lọ, sao cho cam hạt Ngọc để Ngâu vầy.

Miệng vàng dạ gấm, anh đồ là quân-tử chi dịu dàng, lấy môi son má phấn chi nhởn-nhơ, giá thể mà sửa túi nâng khăn, thì mới đáng cành ngô cho phụng đậu.

Vậy có thơ rằng:

Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng,
Chẳng bằng kinh sử một vài pho.

Lại có thơ rằng:

Gươm trời chi để tay phàm tuốt,
Búa nguyệt sao cho đứa tục mài.

Vả: Tiếng-tăm con gái, nết-na học-trò, nên em nghĩ duyên em, em nghĩ tình em, lại tưởng đến anh đồ chi sự-nghiệp. Đèn xanh một ngọn, án tuyết ân-cần, quyển vàng mấy con, cửa huỳnh 8 gióng-giả.

Còn trong trần-lụy, anh đồ là vị vũ chi giao long, 9 may khoa thi mà kim bảng đề danh, tức hôm nọ chi hàn nho mà hôm nay đã Bảng-nhỡn Thám-hoa chi đài các, em phỏng có duyên ưa lá thắm, thời trước voi anh, sau võng thiếp, cũng thỏa đời ư võng lọng chi nghênh ngang.

Đương thủa hàn vi, anh đồ là tại sơn chi hổ báo 10, gặp vận thái mà thanh vân đắc lộ, tức bữa tê chi tiện-sĩ, mà bữa ni[119] đã Thượng-thư, Đô-đốc chi phong-lưu; em phỏng như phận đẹp chỉ hồng, thì anh quan cả, thiếp hầu bà, cũng sướng kiếp ư ngựa xe chi đủng-đỉnh!

Huống chi: Kinh sử lầu thông, anh đồ chi tài học, đã sẵn tay kinh tế; tuy có dài lưng tốn vải, bấy giờ đã đai vàng áo gấm chi bảnh-bao.

Tài năng rất mực, anh đồ chi duyên-phận, gặp được lúc long vân; tuy có ăn no lại nằm, bấy giờ đã cơm chúa võng đào chi chễnh-chện.

Gương trời vằng-vặc, sáng soi nhà vàng gác tía chi linh-lung;

Lộc nước miên-miên, súc tích gấm cuốn vàng cân chi ban cấp.

Như thế thì: Chồng quan sang, vợ hầu đẹp, ai chẳng khen nhất thế chi thần tiên; danh phận cả, bổng lộc nhiều, thế mới thỏa tam sinh chi hương hỏa. Khởi vô sở thủ ư anh đồ tai?

Vậy nên: Yếm trắng nước hồ, vã đi vã lại 11, chỉ mong anh nho-sĩ chi yêu đương. Miệng ong lưỡi én, uốn ngược uốn xuôi, cũng mặc giọng thế-gian chi mai-mỉa.

Em nay: Tuổi mới trăng tròn, tiết vừa hoa nở; vâng lời sách hỏi, giãi hết niềm đơn. Em cẩn thưa.

Lê-quí-Đôn (?)

CHÚ THÍCH. — 1. Nghĩa là: Nay xét. — 2. Nghĩa là từng thấy muôn nghìn con gái chê anh học-trò như vậy; không biết chuộng anh đồ vì nỗi gì mà quyến-luyến như thế rư? — 3. Nghĩa là: thử bày tỏ ra để xem tình ý lòng xuân. — 4. Bắn bình-tước. Theo tích ngươi Đậu-Nghị vẽ một con tước (chim sẻ) vào cánh bình phong và bảo rằng: Hễ ai bắn trúng mắt con chim sẻ này thì ta gả con gái cho. Đây ý nói bóng là chọn người mà lấy. — 5. Là hai người giầu có tiếng về đời Tấn, thi nhau sự xa-xỉ. — 6. Theo chữ đa văn vi phú (học được nhiều chữ là giầu). — 7. Chu-mãi-Thần người đời Hán, nhà nghèo phải vừa đi kiếm củi vừa học; Lã-mông-Chính người Tống, nhà nghèo chỉ ăn cháo, sau đỗ đến trạng-nguyên làm tể-tướng. — 8. Cửa huỳnh là cửa sổ có bóng đom-đóm. Theo tích Trác-Giận nhà nghèo phải nhờ ánh sáng đom-đóm để xem sách; chỉ nơi buồng học. — 9. Là con rồng gặp mưa: ý nói người tài giỏi chưa gặp thời. — 10. Là con hổ con báo còn ở núi: ý nói lúc còn hàn vi. — 11. Theo câu ca-dao: yếm trắng mà vã nước hồ, vã đi vã lại anh đồ yêu đương.

TỨ-LỤC

Lối tứ-lục tương-tự như lối phú, nhưng không có vần, thường hay đặt câu cách-cú, hoặc trên 4 dưới 6, hoặc trên 6 dưới 4 (bởi thế gọi là tứ-lục), nhưng muốn đặt dài hơn nữa cũng được.

Văn tứ-lục thường dùng làm những bài chiếu, biểu, chế, sắc. Chiếu là lời vua thi lệnh; ân-chiếu là lời vua ban ra khi có khánh-hỉ, hay để ra ân cho kẻ phạm tội hay kẻ bị hoạn-nạn; di-chiếu là lời vua dặn lại lúc thăng-hà. Chế, sắc là lời vua phong thưởng cho các quan hoặc bách (bá)-thần. Biểu là lời thần dân dâng lên vua; biểu hạ là lời mừng vua khi có khánh-tiết (nguyên-đán, vạn-thọ, vân vân); biểu tạ là lời tạ ơn vua khi được phong thưởng.

Lời chiếu sắc phải làm ra giọng nghiêm-trang điển-nhã; lời biểu làm ra giọng khiêm-tốn thù-phụng.

103 — BÀI CHIẾU CỦA ĐỨC MINH-MỆNH[120] KHUYÊN RĂN THẦN DÂN VỀ LÚC ĐẦU NĂM

Chiếu rằng, trẫm nghe:

Kinh Lễ có lời « bố chính » 1 về tháng giêng,

Kinh Dịch có câu « thân mệnh » 2 ở quẻ Tốn.

Bởi thiên đạo sinh sinh không hết, đông lại sang xuân;

Nên nhân-quân chăm chút không quên, sau lo tự trước.

Vậy câu « Sắc thiên » 3 nói ở trong Thuấn-điển 4, phải kính từng việc từng giờ;

Nay lời « kinh thế » 5 bày ở trong Cơ-trù, 6 phải đem làm khuôn làm phép.

Kính nghĩ đứng Hoàng-khảo Thế-tổ Cao-hoàng-đế 7 ta:

Thông minh bẩm tính,

Trí dũng kiêm toàn.

Đánh một trận nên nghiệp gian nan, « mao việt » 8 mở cơ-đồ dằng-dặc;

Mưu trăm năm lo đường nối dõi, « thạch quân » 9 đủ phép tắc rõ ràng.

Trẫm nối nghiệp to,

Soi theo phép cũ.

Sớm chiều lo sợ, một lòng kính cẩn ban đầu;

Công việc thi hành, trăm mối tính lo cất nhắc.

Nối chí noi việc là đạo hiếu, đương ghín từng ngày để lo toan;

Ban ơn ra lệnh về mùa xuân, vậy tỏ lời nói để răn bảo.

Nào những kẻ thân-huân thạc-vọng 10, phải khuyên nhau sửa nết để cùng hưởng tôn vinh;

Nào các hàng nội ngoại trăm quan, phải gắng giữ chức mình để cùng nên mọi việc.

Nhà quân-sĩ phải luyện tập, nghề cho tinh, sức cho mạnh, lôi-đình mới tỏ được uy-thanh;

Đám nho-gia phải học hành, học cho rộng, nết cho thuần, lương-đống 11 mới làm nên tài-cán.

Bọn nông-phu chớ nhỡ thời làm ruộng, đất chớ bỏ hoang, người đừng lười nhác, phải khuyên nhau mà chăm việc cấy cày;

Kẻ thường-dân phải giữ đạo làm người, chơi đừng đua đả, nết chớ gian tà, phải bảo[121] nhau mà coi đường lễ nghĩa.

Để mà tỏ cái công ninh-tập 12 hai mươi năm về trước;

Để mà gây lấy cảnh thái-hòa cho nghìn muôn đời về sau.

Than ôi!

Thiên đạo đủ cả tứ thời, kìa như trời chuyển đất xoay, cơ trần mở đóng;

Thiên hạ hợp về một mối, sẽ thấy sấm vang gió động, hóa tốt lưu hành.

Vậy từ các công-khanh đại-thần cho đến quan quân chúng thứ, đều phải khuyên gắng, để hưởng cái phúc thái-bình, bảo khắp gần xa, cho đều nghe biết.

Phan-kế-Bính dịch theo
nguyên văn chữ nho in trong Đại-nam hội-điển

CHÚ THÍCH. — 1. Thi ra chính-lệnh. — 2. Hiểu bảo (biểu) rõ-ràng. Điển trong kinh Dịch: đứng vương-giả bắt chước theo tượng quẻ Tốn mà hiểu bảo rõ-ràng những mệnh-lệnh cho nhân-dân. — 3. Kính sợ mệnh (mạng) trời. — 4. Tên một thiên sách trong kinh Thư chép những lời truyền phán của vua Thuấn đời xưa. — 5. Trị đời. — 6. Tên một thiên sách trong kinh Thư, chép lời ông Cơ-tử diễn bày chín trù cho vua Chu Võ-vương nghe. — 7. Tôn-hiệu đức Gia-Long. — 8. Cờ mao mũi việt đều là đồ để hành binh đánh giặc. — 9. Đá, cân, nói những phép-tắc vững-vàng như đá, ngay thẳng như cân. — 10. Những người thân-thích, người có công lao với nhà vua, nổi danh vọng lớn. — 11. Cây chính, cây cột, nghĩa bóng nói về những người có tài trí cho nước nhà nương tựa được. — 12. Công nhà vua yên định chiêu-tập nhân-dân.

ĐỐI-LIÊN

I. Thích nghĩa và phép làm đối-liên. — Đối-liên, hay gọi nôm là câu đối, tức là những câu nho-nhỏ chia làm hai vế, vế nọ phải đối với vế kia, vừa đối ý vừa đối chữ, cả điệu bằng trắc cũng phải đối nhau nữa.

a) Đối ý là đem hai ý gì sóng với nhau mà đặt làm hai vế cho cân.

b) Đối chữ là lấy hai chữ đồng-loại mà đặt ngang với nhau như chữ danh-từ đối với chữ danh-từ, chữ động-từ đối với chữ động-từ, v. v. (xem đoạn giải-thích phép đối về lối thơ tr. 4).

c) Điệu bằng trắc trong đối-liên cũng theo như điệu thơ (xem: tr. 2 3): nếu làm câu đối năm chữ thì theo như thơ ngũ-ngôn, nếu làm câu đối bảy chữ thì theo như thơ thất-ngôn. Nói tóm lại hễ vế trên đã bắt đầu đặt bằng bằng thì vế dưới phải bắt đầu đặt trắc trắc.

II. Các lối đối-liên.

a) Theo về hình-thức ngắn (vắn) dài thì câu đối 4, 5 chữ gọi là câu tiểu đối; 7 chữ gọi là câu đối thơ; câu đối dài mỗi vế chia làm hai đoạn, một đoạn ngắn (vắn) một đoạn dài, gọi là câu đối phú; cũng có khi dài hơn nữa mà mỗi vế có hơn hai đoạn.

b) Theo về ý nghĩa thì có câu tức-cảnh là trông thấy cảnh gì vịnh ngay cảnh ấy, có câu triết-tự là lấy ý trong hình chữ hoặc nghĩa chữ mà đối nhau. Đó là hai lối riêng. Ngoài ra còn nhiều lối khác: câu đối hoặc dùng để bày tỏ cái chí-ý của mình (câu thuật hoài); hoặc để mừng các bậc tôn-trưởng, hay tặng bà con anh em trong những dịp vui mừng (câu đối mừng); hoặc để tỏ lòng thương tiếc người chết (câu đối viếng); hoặc để tán-tụng công-đức tổ-tiên và các vị thần (câu đối thờ). Nhiều khi người ta đặt những câu cầu kỳ cho khó đối, cũng có khi người ta dùng câu đối để châm-chích mỉa-mai nhau.

104 — TRÍCH LỤC MẤY CÂU ĐỐI CỔ

Ông cống ông nghè

Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới;
Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên.

Mừng đám cưới nhà giầu

Giầu có thiếu gì tiền, đưa một vài quan, coi chẳng tiện;
Sang không nghĩ cũng bạc, kiếm dăm ba chữ để làm duyên.

Làm quan trí-sĩ về nhà dạy học đề chỗ ngồi chơi

Quan chẳng quan thì dân, chiếu trung đình ngất-ngưởng ngồi trên; nào lình nào cả, nào bàn ba; xôi làm sao, thịt làm sao, đóng góp làm sao, thủ lợn[122] nhìn lâu trơ cả mắt.

Già chẳng già thì trẻ, đàn tiểu-tử nhấp-nhô đứng trước; này phú này thơ, này đoạn một; bằng là thế, trắc là thế, lề lối là thế, mắt gà đeo mãi mỏi bên tai.

Nguyễn-Khuyến

Bước phong-trần

Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông tây nam bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công-tử xác!

Trời đất nhẻ, gắng một phen này nữa, xếp cung kiếm cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng-phu kênh.

Nguyễn-công-Trứ

Về trí-sĩ

Cũng may sao! công đăng-hỏa có là bao, theo đòi nhờ phận lại nhờ duyên, quan trong năm bảy thứ, quan ngoài tám chín phen, nào cờ nào quạt, nào mũ nào đai, nào hèo hoa gươm bạc, võng tía dù xanh, mặt tài-tình trong hội công-danh, khắp trời nam biển bắc cũng phong-lưu, mùi thế trải qua coi đã đủ.

Thôi quyết hẳn, cuộc phong-trần chi nữa tá, ngất-ngưởng chẳng tiên mà chẳng tục, hầu gái một đôi cô, hầu trai năm bảy cậu, này cờ này kiệu, này rượu này thơ, này đàn ngọt hát hay, chè chuyên chén mẫu, tay thao-lược ngoài vòng cương-tỏa, lấy gió mát trăng thanh làm tri-thức, tuổi trời ít nữa ấy là hơn.

Nguyễn-công-Trứ

Ông Đặng-trần-thường và ông Ngô-thời-Nhiệm

(Khi ông Nhiệm đương làm quan với Tây-Sơn, bạc đãi ông Thường, sau ông Thường vào theo đức Gia-Long; làm tới Thượng-thư, theo ngài ra đánh Bắc-hà, ông Nhiệm ra thú, ông bèn ra câu đối này):

Ai công-hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai?

(Ông Nhiệm đối lại):

Thế Chiến-quốc, thế Xuân-thu, gặp thời thế thế thời phải thế.

Nàng Xuân-Hương với ông Chiêu-Hổ

(Nàng Xuân-Hương mở hàng kén khách, gặp ông Chiêu-Hổ ra câu này dùng chữ trong thập can).

Mặc áo giáp, dải cài chữ đinh, mậu kỷ canh khoe mình rằng quí.

(Ông Chiêu-Hổ đối lại dùng chữ trong bát quái):

Làm đĩ[123] càn, tai đeo hạt khảm, tốn ly đoài khéo nói rằng khôn.

VĂN XUÔI CỔ

(Nguyên-văn chữ Hán dịch ra lời nôm)

105 — BÀI HỊCH CÁC TƯỚNG-SĨ[124]

TIỂU DẪN. — Đời vua Trần Nhân-Tôn (1279-1293) có giặc Mông-cổ sang đánh ta. Ông Trần-quốc-Tuấn thống-lĩnh cả các đạo quân của ta đánh nhau một trận đầu với quân Nguyên phải thua, lui về Vạn-kiếp. Bấy giờ ngài chiêu quân tập mã, thế lại nổi to. Nhân ngài tra-cứu các sách binh-thư soạn ra bộ « Binh-thư yếu-lược » cốt để cho quân-sĩ ta xem. Lúc phát sách ấy cho các tướng-sĩ ngài bèn làm bài hịch này mà khuyên-răn các người ấy. Nhờ bộ binh-thư ấy mà quân tốt luyện-tập được giỏi, nhờ bài hịch này mà tướng-sĩ phấn-khởi trong lòng, về việc bình Nguyên, bài hịch này cũng có ảnh-hưởng to, thật là một đoạn văn đáng ghi trong lịch-sử nước nhà và lưu-truyền đến nghìn muôn đời về sau.

Ta thường nghe chuyện: Kỷ-Tín 紀 信 1 liều thân chịu chết thay cho vua Cao-đế; Do-Vu 由 于 2 lấy mình đỡ ngọn dáo cho vua Chiêu-vương; Dự-Nhượng 豫 讓 3 nuốt than để báo thù cho chủ; Thân-Khoái 申 蒯 4 chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính-Đức 敬 德 là một chức quan còn nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-Tôn 5 được thoát vòng vây; Kiểu-Khanh 杲 卿 6 là một bề-tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc-Sơn 祿 山 6 là quân nghịch tặc. Các bậc trung-thần nghĩa-sĩ ngày xưa, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả-sử mấy ông ấy cũng cứ bo-bo theo lối thường tình, chết già ở só nhà, thì sao cho lưu danh sử sách đến nghìn muôn đời như thế được?

Nay các ngươi vốn dòng vũ-tướng, không hiểu văn nghĩa nghe những chuyện cổ-tích ấy nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm gì nữa; ta hãy đem chuyện đời Tống, Nguyên mới rồi mà nói: Vương-công-Kiên 王 公 堅 7 là người thế nào? Tì-tướng của Vương-công-Kiên là Nguyễn-văn-Lập 阮 文 立 8 lại là người thế nào? Mà giữ một thành Điếu-ngư 9 nhỏ mọn, chống với quân Mông-Kha 10 kể hàng trăm vạn, khiến cho dân sự đời Tống đến nay còn đội ơn sâu. Đường-ngột-Ngại 唐 兀 礙 11 là người thế nào? Tùy-tướng của Đường-ngột-Ngại là Xích-tuy-Tư 赤 綏 思 lại là người thế nào? Mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi, đánh được quân Nam-chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quan trưởng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt.

Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu-nhương, gặp phải buổi gian-nan này, trông thấy những ngụy-sứ đi lại rầm-rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều-đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể-phụ; lại cạy thế Hốt-tất-Liệt 忽 必 烈 12 mà đòi ngọc lụa, ỷ thế Vân-nam vương 13 để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng; khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau!

Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ; ruột đau như cắt, nước mắt đầm-đìa; chỉ căm tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh-quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn; quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp; đi thủy thì ta cho thuyền[125], đi bộ thì ta cho ngựa; lúc hoạn-nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn-hạ thì cùng nhau vui cười; những cách cư-sử so với Vương-công-Kiên, Đường-ngột-Ngại ngày xưa cũng chẳng kém gì.

Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn: thân làm tướng phải hầu quân giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy-sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc trọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển; hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến-luyến về vợ con; hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo giáp; mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu; dẫu rằng ruộng lắm tiền nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết; tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia-quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi, mà gia-thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục; đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui vẻ, phỏng có được hay không?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn thận như nơi củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh; dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên; khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng-Mông và Hậu-Nghệ 14 thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công-danh. Chẳng những là thái-ấp của ta được vững bền, mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng lộc; chẳng những là gia-quyến của ta được yên ổn, mà các ngươi cũng đều được vui vợ con; chẳng những là tiên-nhân ta được vẻ-vang, mà các ngươi cũng được phụng thờ tổ-phụ, trăm năm vinh-hiển; chẳng những là một mình ta được sung sướng, mà các ngươi cũng được lưu truyền sử sách, nghìn đời thơm tho; đến bấy giờ các ngươi dẫu không vui vẻ, cũng tự khắc được vui vẻ.

Nay ta soạn hết các binh pháp của các nhà danh-gia hợp lại làm một quyển, gọi là « Binh thư yếu lược ». Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo, thì mới phải đạo thần-tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo, thì tức là kẻ nghịch thù.

Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời ở chung, thế mà các ngươi cứ điềm-nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc; khiến cho sau trận Bình-lỗ 15 mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta.

Trần-quốc-Tuấn

(Bản dịch nguyên-văn chữ nho của ông Trần-trọng-Kim trong quyển Việt-nam sử-lược I, trang 113-116).

CHÚ THÍCH. — 1. Đây tác-giả kể tên các người trung-thần nghĩa-sĩ đời xưa ở bên Tàu. Kỷ-Tín là một người bầy tôi vua Hán Cao-tổ, lúc vua bị Hạng-Vũ vây ở Vinh-dương nguy cấp lắm, Tín giả làm vua Cao-tổ ra hàng, bị giết, nhân thế vua được thoát nạn. — 2. Bầy tôi vua Sở Chiêu-vương về đời Xuân-thu. — 3 và 4. Người đời Chiến-quốc bên Tàu. — 5. Một ông vua nhà Đường. — 6. Người đời Đường. — 7 và 8. Người đời Tống. — 9. Tên một quả (trái) núi ở tỉnh Tứ-xuyên bên Tàu, quân Tống và quân Mông-cổ đánh nhau một trận to ở đấy. — 10. Mông-Kha (Mungke) là tướng Mông-cổ và là anh Hốt-tất-Liệt đánh nhà Tống lấy nước Tàu. — 11. Tướng Mông-cổ đánh lấy Nam-chiếu (tức là Vân-nam). — 12. Hốt-tất-Liệt (Koubilai) là tướng Mông-cổ, sau lên làm vua nước Tàu, tức là Nguyên Thế-tổ. — 13. Vân-nam-vương tức là con Hốt-tất-Liệt. — 14. Hai tay bắn cung giỏi có tiếng về đời Hạ. — 15. Tên thành ở tỉnh Thái-nguyên, ông Lý-thường-Kiệt phá quân Tống ở đấy.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — Hịch là gì? Mục đích bài này thế nào? Tác-giả dùng những cách gì để khuyến-khích tướng-sĩ? Đọc bài này thấy xúc-động những cảm tình gì?

2. Chia các đoạn mạch trong bài này: — 1. Dẫn tích xưa để khuyến khích tướng sĩ: a) gương tốt của các người đời xưa; b) gương tốt của các người gần đây (Tống, Nguyên). — 2. Nói nỗi nhục khổ bấy giờ. — 3. Cách ngài hậu đãi tướng sĩ. — 4. Trách bọn tướng sĩ không biết lo và nói nỗi nguy-nan thế nào. — 5. Khuyên nên cẩn thận luyện tập để đánh tan quân giặc hưởng phần vinh dự. — 6. Giục tướng sĩ nên luyện tập theo quyển « Binh-thư yếu-lược ».

II. Lời văn. — 1. Nói qua về các điển-tích trong bài này: Kỷ-Tín, Do-Vu, Dự-Nhượng, Thân-Khoái v. v. — Nghĩa những chữ lam chướng, nhiễu-nhương. — Ngụy-sứ là nói ai? — Lưỡi cú diều, thân dê chó: ý nói gì? — Của kho có hạn, lòng tham không cùng: nói rõ hai câu ấy tương-phản với nhau (antithèse). — Tác-giả tả nỗi căm tức của mình thế nào? — Trong đoạn thứ 4 tác-giả đem các cái ham mê của tướng sĩ mà đối với các cái tai họa sau này: nói rõ những cái ấy ra. — Nghĩa những chữ: thái-ấp, gia-thanh. — Trong đoạn thứ 5 có một đoạn trái hẳn lại với quãng cuối đoạn trên (4): nói rõ sự tương-phản ấy.

2. Trong bài này có nhiều câu đối nhau (nói rõ ra) và nhiều chữ lắp đi lắp lại (nói rõ những chữ trùng điệp ấy làm cho hơi văn mạnh ra.

3. Lời văn bài này có giọng gì? Đọc lên trong thần-trí cảm-giác thế nào?

106 — BÌNH ÔNG ĐẠI-CÁO

TIỂU DẪN. — Bài này là sau khi vua Lê Thái-tổ đã đánh đuổi người Minh lên ngôi vua, truyền cho ông Nguyễn-Trãi soạn ra để bá-cáo công mười năm bình-định cho thiên-hạ biết.

Việc nhân nghĩa cốt nhất ở yên dân, quân điếu phạt 1 không gì bằng trừ bạo.

Nước Đại-Việt ta, thật là một nước văn-hiến; kể từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, mấy đời gây dựng ra nước; so với Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi đằng làm đế một phương.

Mới rồi chỉ vì họ Hồ cơ cầu, đến nỗi lòng người ta oán. Nhà Minh nhân dịp hở, thừa thế hại dân; lũ ác rắp mưu gian, đem lòng bán nước. Kiếm cách lừa dối thiên-hạ, kể nghìn muôn lối gớm ghê; gẫm từ gây việc binh-đao, đã hai mươi năm tai vạ. Nhân nghĩa vứt đi hết, thế-giới thế thì thôi! Thuế má vét cho nhiều, núi sông chẳng còn gì cả! Thần-nhân đều lấy làm giận, trời đất cũng không thể dung!

Ta đây, phát tích từ núi Lam-sơn, ẩn thân ở chỗ hoang-giã. Đau lòng nát ruột, chốc đà mười mấy năm trời; nuốt đắng nằm gai 2, nào phải một ngày nay đó. Đương khi cờ nghĩa mới nổi, chính lúc thế giặc vẫn hăng. Lương chứa Linh-sơn, 3 mấy tuần đã cạn; quân tan Khôi-huyện 4, một đứa chẳng còn. Tụ tập mấy lũ lưu dân, vác cần-câu mà đánh giặc; gắn bó một lòng phụ tử, rót rượu ngọt để khao quân.

Thành ra: vì đại nghĩa mà thắng được hung tàn, lấy chí nhân mà thay cho cường bạo; kẻ kia bó tay mà ngồi chịu chết, quân ta không đánh mà giặc phải tan. Bọn tướng giặc đã bị bắt rồi, van lạy xin thương làm phúc; bụng hiếu-sinh ta cũng mở rộng, thần vũ chẳng giết làm gì. Kìa tham-tướng Phương-Chính, kìa nội-quan Mã-Kỳ 5, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, lúc qua sông mà hãy còn mất vía; nọ tổng-binh Vương-Thông, nọ tham-chính Mã-Anh 6, cấp cho mấy nghìn con ngựa, khi về nước mà vẫn còn giật mình. Họ đã sợ chết tham sống mà xin cùng ta giảng hòa; ta lấy toàn quân là hơn mà muốn cùng dân yên nghỉ.

Cho hay:

Ba quân đã đến ngày đại-định, kỷ-niệm công vô-địch về sau;
Bốn bể gây nên cuộc thái-bình, bá-cáo lời duy-tân từ đó!

Nguyễn-Trãi[126]

(Theo bản lược-dịch của ông Trần-trọng-Kim trong sách Việt-nam sử-lược).

CHÚ THÍCH. — 1. Điếu phạt 弔 伐: thương dân đánh giặc. — 2. Dịch chữ thường đởm ngọa tân 甞 膽 臥 薪. Điển cũ: vua Câu-Tiễn nước Việt, trong khi mưu báo thù nước Ngô, thường nuốt mật đắng, nằm trên đống củi gai để không quên sự lo nghĩ. — 3. Tức là núi Chí-linh, nay thuộc phủ Chấn-định tỉnh Nghệ-an; vua Lê thường đóng quân ở đấy. — 4. Tên đồn, thuộc tỉnh Nghệ-an, là chỗ vua Lê bị quân Minh đánh một trận thua to. — 5. 6. Tên các tướng tá nhà Minh sai sang đánh nước ta.

CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — Cáo là gì? Bài này chủ ý nói những điều gì? — Chia bài này ra làm 4 đoạn và tóm đại-ý mỗi đoạn. — Tội ác của nhà Minh những gì? — Công khó nhọc của vua Lê thế nào? — Bụng khoan dung đại độ của ngài biểu lộ ra thế nào?

II. Lời văn. — 1. Nước Nam ta về đời nào tên là Đại-Việt? Kể các tên của nước ta tự xưa đến giờ. — Nghĩa chữ văn-hiến. — Nói qua về họ Hồ. — Trời đất cũng không thể dung: ý nói gì? — Núi Lam-sơn ở đâu? — Đau lòng nát ruột, nuốt đắng nằm gai: ý nói gì? — Nghĩa chữ cờ nghĩa, chữ toàn quân.

2. Văn-pháp bài này thế nào? Giọng văn có vẻ gì? Lấy một câu mà cắt nghĩa phép « đối » trong văn ta.

Chú thích của bản in

  1. Tiếng Trung-kỳ: tê=kia; ni=nay. ↩
  2. Mạng. ↩
  3. Biểu. ↩
  4. Đầu heo. ↩
  5. Điếm. ↩
  6. Nguyên-văn chữ nho đã đăng trong Nam-phong tạp-chí, số 151, tr. 606-608. ↩
  7. Ghe ↩
  8. Xem tiểu-truyện tác-giả ở tr. 60. ↩