Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm
78 — KIỀU NẶNG TÌNH KIM-TRỌNG DẶN EM THAY LỜI
Chương 7 / 16
78 — KIỀU NẶNG TÌNH KIM-TRỌNG DẶN EM THAY LỜI
TIỂU DẪN. — Thúy-Kiều sau khi đã gắn bó với Kim-Trọng rồi, sẩy gặp gia-biến: cha nàng là Vương-ông bị vu oan phải bắt giam. Muốn cứu cha tất phải có tiền mà trong nhà khánh-kiệt, nàng mới quyết chí bán mình để chuộc tội cho cha. Đoạn này là chỗ nàng sắp từ biệt nhà để đi theo Mã-giám-Sinh là người đã mua mình, nhớ đến lời ước cũ với tình-nhân không thể đành lòng, mới dặn em thay mình mà lấy Kim-Trọng.
Một mình nàng ngọn đèn khuya,
Áo đầm giọt lệ, tóc xe mái sầu.
« Phận rầu, rầu vậy cũng rầu,
« Xót lòng đeo-đẳng, bấy lâu một lời!
« Công trình kể biết mấy mươi!
« Vì ta khăng-khít cho người dở-dang!
« Thề hoa chưa ráo chén vàng,
« Lỗi thề thôi đã phũ-phàng với hoa!
« Trời Liêu 1 non nước bao xa!
« Nghĩ đâu rẽ cửa, chia nhà từ tôi!
« Biết bao duyên nợ thề bồi!
« Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì?
« Tái sinh chưa dứt hương thề,
« Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai 2!
« Nợ tình chưa trả cho ai,
« Khối tình 3 mang xuống tuyền-đài chưa tan! »
Niềm riêng, riêng những bàn-hoàn,
Dầu chong 4 trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn.
Thúy-Vân chợt tỉnh giấc xuân,
Dưới đèn ghé đến ân-cần hỏi-han:
« Cơ trời dâu bể đa đoan,
« Một nhà để chị riêng oan một mình!
« Cớ gì ngồi nhẫn tàn canh,
« Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây? »
Rằng: « Lòng đương thổn-thức đầy,
« Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.
« Hở môi ra cũng thẹn thùng,
« Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!
« Cậy em, em có chịu lời,
« Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
« Giữa đường đứt gánh tương-tư,
« Giao loan chắp mối tơ thừa mặc em.
« Kể từ khi gặp chàng Kim,
« Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề 5.
« Sự đâu sóng gió bất kỳ!
« Hiếu tình có dễ (lẽ) hai bề vẹn hai!
« Ngày xuân em hãy còn dài,
« Xót tình máu mủ, thay lời nước non;
« Chị dù (dầu) thịt nát, xương mòn,
« Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây!
« Chiếc thoa (vành) với bức tờ mây 6.
« Duyên này thì giữ vật này của chung;
« Dù em nên vợ nên chồng,
« Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên.
« Mất người còn chút của tin,
« Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
« Mai sau, dù có bao giờ,
« Đốt lò hương ấy, xe tơ phím này;
« Trông ra ngọn cỏ lá cây,
« Thấy hiu-hiu gió, thì hay chị về.
« Hồn còn mang nặng lời thề,
« Nát thân bồ-liễu 7 đền nghì trúc-mai.
« Dạ-đài 8 cách mặt khuất lời,
« Vẩy xin chén nước cho người thác oan!
« Bây giờ trâm gẫy gương tan,
« Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
« Trăm nghìn gửi lạy tình-quân,
« Tơ duyên ngắn-ngủi[79] có ngần ấy thôi;
« Phận sao phận bạc như vôi?
« Đã đành nước chảy hoa trôi nhỡ-nhàng[80].
« Ối Kim-lang! hỡi Kim-lang!
« Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! »
CHÚ THÍCH. — 1. Là Liêu-dương, quê Kim-Trọng. — 2. Thân trâu ngựa: theo phép luân-hồi thời những người nào lúc sống mắc nợ ai mà chưa trả được thì đến kiếp sau phải hóa làm trâu ngựa để trả nợ cũ; trúc mai là cây trúc cây mai là hai thứ cây thường đi với nhau trong các bức họa của Tàu; đây nói người tình-nhân đã gắn bó với mình. — 3. Điển cũ: xưa có một người con gái phải lòng người lái buôn, ốm tương-tư chết. Lúc đem hỏa-táng, xương thịt cháy cả, duy trong bụng còn một cục không cháy; đến lúc người lái buôn đến khóc, nước mắt chảy xuống, cục ấy mới tan ra huyết. — 4. Tiếng đường trong nghĩa như giong: đèn thắp mãi đến lúc hết dầu, đáy đĩa phơi ra. — 5. quạt ước: cái quạt trao cho nhau để làm tin; chén thề: chén rượu cùng nhau uống để thề. — 6. Là tờ giấy viết thư có vẽ mây của người Tàu. — 7. Là cây bồ (cói), cây liễu, ví với thân người đàn bà yếu ớt. — 8. Là đền đêm, tức là âm-phủ.
79 — KIỀU Ở LẦU NGƯNG-BÍCH
TIỂU DẪN. — Kiều theo Mã-giám-Sinh đi Lâm-tri, không ngờ lại mắc vào tay Tú-Bà là người mụ dầu bắt nàng ở thanh-lâu tiếp khách; nàng bèn toan bề tự tận. Tú-Bà sợ, mới thuốc thang cho nàng khỏi, rồi để nàng ở riêng lầu Ngưng-bích, hứa sẽ tìm nơi xứng đáng mà gả cho. Đoạn này là tả nỗi buồn của nàng lúc đương ở lầu ấy mà nhớ đến cha mẹ cùng tình-nhân.
Trước lầu Ngưng-bích 1 khóa xuân 2,
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát-ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng 3,
Tin sương 4 luống những rày mong mai chờ.
Bên trời góc bể bơ-vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai!
Xót người tựa cửa hôm mai 4,
Quạt nồng ấp lạnh 5 những ai đó giờ?
Sân Lai 6 cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử 7 đã vừa người ôm!
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp-thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man-mác, biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dầu-dầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh-xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh (duềnh),
Ầm-ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
CHÚ THÍCH. — 1. Là tên lầu: nghĩa đen là sắc biếc đọng lại. — 2. Ý nói nàng Kiều. — 3. Là chén cùng với tình-nhân uống rượu mà thề chữ đồng (đồng sinh đồng tử). — 4. Là mẹ. Điển cũ: mẹ Vương-tôn-Giả đời Chiến-quốc bảo con: « Mày đi, tao tựa cửa đứng mong ». — 5. Là đạo con thờ cha mẹ. Chữ trong kinh Lễ: « Con thờ cha mẹ quạt khi nồng, ấp khi lạnh ». — 6. Là sân nhà cha mẹ. Điển cũ: Ông Lão-Lai đời nhà Chu đã 70 tuổi, một hôm mặc áo sặc-sỡ ra ngoài sân múa làm bộ như trẻ con để cha mẹ trông thấy được vui lòng. — 7. Gốc tử: Điển trong kinh Thi: « Duy tang dữ tử, tất cung kính chỉ » (Phải kính trọng từ cây dâu cây tử cha mẹ ta đã giồng). Gốc cây tử đã to rồi, ý câu ấy nói dễ cha đã già rồi.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Đoạn này thuộc về thể văn gì? — 2. Chia các đoạn mạch trong bài này.
3. Nàng Kiều ở trước lầu Ngưng-bích, xúc cảnh cảm hoài ra làm sao?
4. Phong-cảnh với người ta có liên-lạc thế nào? Khi buồn trông ngoại-cảnh ra thế nào? Giải-thích và bình-luận câu Kiều: « Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. »
II. Lời văn. — 1. Cắt nghĩa câu thứ nhì. — Mây sớm đèn khuya: nghĩa. — Chia tấm lòng: Ý nói gì? — Nghĩa câu thứ 10. — Nhặt (lặt) những tiếng điệp-tự trong bài này và nói giá-trị những tiếng ấy về sự hình dung các sự vật.
2. Tác-giả tả nỗi buồn của nàng Kiều thế nào? Chữ buồn trông láy đi láy lại bốn lần có hiệu-lực gì?
80 — HOẠN-THƯ GHEN
Vốn dòng họ Hoạn danh-gia,
Con quan Lại-bộ tên là Hoạn-Thư.
Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa,
Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày.
Ở ăn thì nết cũng hay,
Nói điều giàng-buộc thì tay cũng già!
Từ nghe vườn mới thêm hoa[81],
Miệng người đã lắm, tin nhà thì không.
Lửa tâm càng dập càng nồng,
Giận người đen-bạc ra lòng trăng-hoa:
« Ví bằng thú-thật cùng ta,
« Cũng dong kẻ dưới, mới là lượng trên!
« Dại chi chẳng giữ lấy nền,
« Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình?
« Lại còn bưng-bít giấu quanh,
« Làm chi những thói trẻ ranh nực cười!
« Tính rằng cách mặt khuất lời,
« Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho!
« Lo gì việc ấy mà lo!
« Kiến trong miệng chén có bò đi đâu?
« Làm cho nhìn chẳng được nhau!
« Làm cho đầy-đọa cất đầu chẳng lên!
« Làm cho trông thấy nhỡn-tiền,
« Cho người thăm ván bán thuyền[82] biết tay! »
Nỗi lòng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.
Tuần sau bỗng thấy hai người,
Mách tin, ý cũng liệu bài tân công,
Tiểu-thư nổi giận đùng-đùng:
« Gớm tay thêu dệt, ra lòng trêu ngươi!
« Chồng tao nào phải như ai,
« Điều này hẳn miệng những người thị-phi! »
Vội-vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ[83] răng.
Trong ngoài kín mít như bưng,
Nào ai còn dám nói-năng một lời!
Buồng đào khuya sớm thảnh-thơi,
Ra vào một mực, nói cười như không.
GIẢNG-NGHĨA. — Kiều mắc lận Sở-Khanh phải ra ở thanh-lâu ba năm. Sau gặp chàng Thúc-sinh mua về làm thiếp. Nhưng Thúc có người vợ cả ở nhà nghe tin ấy sinh lòng ghen. Đoạn này tả nỗi ghen của Hoạn-Thư, thuộc về thể văn vẽ người (portrait). Hoạn-Thư là một vai đàn-bà ghen trong truyện Kiều. Nhưng ghen cũng ba bảy đường: có thứ ghen nóng-nẩy vội-vàng, có thứ ghen nham-hiểm độc-địa. Hoạn-Thư vào hạng thứ hai này.
I. Nói về dòng-dõi và tâm tính Hoạn-Thư (6 câu trên). — a) Nàng là con nhà danh-giá nền-nếp: con quan Lại-bộ, gặp duyên may (duyên Đằng là duyên may-mắn gặp nơi sung-sướng; theo câu thơ cổ: « Thời lai phong tống Đằng-vương các » gặp vận may gió đưa vào gác vua Đằng) lấy chàng Thúc đã lâu.
b) Ở ăn thì nết cũng hay,
Nói điều giàng buộc thì tay cũng già!
Cả cái tâm-tính Hoạn-Thư là thu lại trong hai câu ấy. Cứ đấy thì nàng không phải là người tầm-thường hèn-hạ mà là một người khôn-ngoan đến điều, đanh-thép có một: biết đường ăn nói, biết điều phải chăng, mà thao-lược cũng có, mưu-mô cũng nhiều.
II. Nói về tính-tình chí-ý nàng lúc bấy giờ (17 câu dưới). — Nhưng cái tâm-tính ấy nếu cứ ở cảnh thường thì cũng không lúc nào biểu-lộ ra được, tất phải gặp một cảnh biến mới phát-hiện ra, nghĩa là có gặp việc mới biết người vậy. Cảnh biến của Hoạn-Thư đây là gì? Là chồng có dan-díu với một người tình-nhân (vườn mới thêm hoa là ý ấy) mà giấu không cho mình biết.
a) Con người như thế, gặp việc như thế thì tính-tình tư-tưởng ra làm sao?
Lửa tâm càng dập càng nồng,
Nỗi căm-tức thật nồng-nàn lắm, cố nén cũng không được.
Nhưng Hoạn-Thư là một người vừa khôn vừa ngoan, nên dù máu ghen sôi-nổi đến đâu cũng không làm cho nàng mất trí phán-đoán quên điều nghĩa-lý lẽ phải chăng được, nàng vẫn biết rằng làm thân đàn-bà không nên chuốc lấy tiếng ghen vào mình mà giá chồng thú thật niềm riêng thì mình cũng dong-thứ cho kẻ dưới.
b) Bởi khôn ngoan nên thâm-hiểm, thâm-hiểm mới nghĩ ra cái mưu độc-địa giết người không dao. Mưu ấy là mưu gì?
Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho.
Làm cho nhìn chẳng được nhau,
Làm cho đầy-đọa cất đầu chẳng lên,
Làm cho trông thấy nhỡn-tiền,
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.
Mấy câu đó thật cực tả nỗi hờn giận của nàng và cái mưu hiểm-độc nàng sắp ra tay thi-hành để cho bõ cơn ghen ấy. Đọc mấy câu ấy ta cũng đoán trước được cách nàng hành-động sau này mà đem các công việc nàng trù tính xếp đặt về sau đối-chiếu với mấy câu đó thật hợp với nhau như hệt.
III. Nói về cách nàng cử-chỉ. (14 câu cuối). — Đã nghĩ ra cái mưu nham-hiểm độc-địa ấy mà muốn thi hành cho đến được, tất cách cử-chỉ cũng phải khôn khéo khác người. Giá một người đàn bà có tính nóng-nẩy thấy người đến mách chuyện chồng mình tất hớn-hở chào mời, vui lòng chịu chuyện, rồi máu ghen sôi sục, bao nỗi hờn giận căm tức đem ra mà thổ-lộ cùng người cho hả lòng hả dạ. Nàng thì không thế:
Nỗi lòng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.
Mưu càng thâm càng phải giữ kín. Có kín-đáo việc mới thành, nếu thổ lộ ra việc tất hỏng. Bởi thế có người đả-động đến chuyện chồng thì mắng át đi, không những mắng át đi, lại ra oai trị tội để làm gương cho kẻ khác, thành thử:
Trong ngoài kín mít như bưng,
Nào ai còn dám nói năng một lời!
Buồng đào khuya sớm thảnh-thơi,
Ra vào một mực nói cười như không.
Trong lòng như lửa cháy, trong trí như máy móc mà người ngoài chẳng ai biết tới, chính mình vẫn ung-dung như không. Thật nham-hiểm thay! thâm độc thay!
Đoạn văn tả người này thật là rất khéo. Văn tiểu-thuyết là cốt kể sự hành-động của một người hoặc nhiều người mà muốn hiểu cách hành-động của các vai trong truyện, phải thuộc tâm lý của các vai ấy, nên nhà tiểu-thuyết phải tả các vai chủ-động hay tả người phụ-động. Tả người để cho hiểu việc: mục-đích và phạm-vi lối văn tả người trong tiểu-thuyết là thế. Cụ Nguyễn-Du tả nàng Hoạn-Thư trong đoạn này thật là rạch-ròi chí-lý, khiến cho ta đọc nốt quyển truyện đến những chỗ kể việc của nàng, nào khi sai Khuyển, Ưng bắt Kiều, nào lúc bắt Kiều ra mời rượu gẩy đàn (đờn) trước mặt Thúc-sinh, lại khi bắt gặp chồng với tình-nhân ở « gác viết kinh », cả đến lúc đối đáp với nàng Kiều để gỡ tội, một cách hành-động nào, một sự thi-thố nào của nàng mà đem cái tâm-lý cụ đã khám phá trong đoạn này soi vào thì đều thấy sáng rạng minh-bạch cả. Tả người đến thế thật là tuyệt-diệu.
81 — KIỀU BỊ KHUYỂN, ƯNG BẮT
TIỂU DẪN. — Hoạn-Thư là người thâm độc, máu ghen sôi nổi mà không hề hé môi, nhân dịp chồng là Thúc-sinh về thăm nhà, âm mưu sai người nhà là Ưng, Khuyển đi bắt Thúy-Kiều về để hành hạ. Đoạn này kể lúc nàng Kiều phải bắt; thuộc về thể văn tự-sự.
Đêm thu gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời 1;
Nén hương đến trước Phật-đài,
Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân-vân.
Dưới hoa dậy lũ ác-nhân,
Ầm-ầm khốc-quỉ kinh-thần 2 mọc ra!
Đầy sân gươm tuốt sáng lòa,
Thất kinh nàng chửa biết là làm sao?
Thuốc mê đâu đã tưới vào,
Mơ-màng như giấc chiêm-bao biết gì!
Vực ngay lên ngựa tức thì,
Phòng đào viện sách bốn bề lửa giong;
Sẵn thây vô chủ bên sông,
Đem vào để đó lộn sòng 3 ai hay?
Tôi đòi phách lạc hồn bay,
Xông-pha bụi cỏ gốc cây ẩn mình.
Thúc-ông nhà ở gần quanh,
Chợt trông ngọn lửa thất kinh rụng rời.
Tớ thầy tốc thẳng đến nơi,
Tơi bời tưới lửa tìm người lao-xao
Gió cao ngọn lửa càng cao,
Tôi đòi tìm đủ, nàng nào thấy đâu!
Hớt-hơ hớt-hoảng nhìn nhau,
Giếng sâu bụi rậm, trước sau tìm quàng!
Chạy vào chốn cũ phòng hương,
Trong gio[84] thấy một đống xương cháy tàn.
Ngay tình ai biết mưu gian,
Hẳn nàng thôi lại có bàn rằng ai!
Thúc-ông sùi-sụt ngắn[85] dài,
Nghĩ con vắng-vẻ, thương người nết-na!
Di-hài, nhặt[86] khắp về nhà,
Nào là khâm-liệm, nào là tang-trai.
CHÚ-THÍCH. — 1. Nguyên trong kinh Thi có câu: « Tuệ bỉ tiểu tinh, tam ngũ tại đông 嘒 彼 小 星。三 五 在 東 » nghĩa là lập-lòe năm ba cái sao nhỏ ở đằng đông, là lời thơ của một người vợ lẽ xúc cảnh sinh tình; đây mượn câu ấy để tả cảnh trăng sao đêm hôm ấy. — 2. Nghĩa đen là như quỉ khóc như thần nạt; ý nói làm rầm-rĩ khiếp sợ. — 3. Là đánh cháo để lừa người khác.
82 — THÚC-SINH GẶP KIỀU Ở NHÀ HOẠN-THƯ
TIỂU DẪN. — Hoạn-Thư đã bắt được Kiều rồi, đổi tên là Hoa-Nô ép làm thị-tì. Khi Thúc-sinh về thăm nhà, gọi nàng ra hầu hạ bắt mời rượu, bắt gẩy đàn (đờn). Đoạn này là nói lúc hai người, Thúc-sinh và Thúy-Kiều mới trông thấy nhau. Đọc đoạn văn này đủ rõ cái thủ-đoạn nham-hiểm của Hoạn-Thư.
Trạnh niềm, nhớ cảnh gia-hương,
Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu-thư đón cửa dã-dề 1.
Hàn-huyên 2 vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương (lan) cao cuốn bức là,
Buồng trong, truyền gọi nàng ra lạy mừng.
Bước ra một bước một dừng,
Trông xa, nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
« Phải rằng nắng quáng đèn lòa,
« Rõ-ràng ngồi đấy chẳng là Thúc-sinh?
« Bây giờ tình mới tỏ tình,
« Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai!
« Chước đâu có chước lạ đời!
« Người đâu mà lại có người tinh ma!
« Rõ-ràng thật lứa đôi ta,
« Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi!
« Bề ngoài thơn-thớt nói cười,
« Mà trong nham-hiểm, giết người không dao!
« Bây giờ đất thấp trời cao!
« Ăn làm sao nói làm sao bây giờ! »
Càng trông mặt càng ngẩn-ngơ,
Ruột tầm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
« Thương ôi! chẳng phải nàng Kiều ở đây!
« Nhân làm sao đến thế này!
« Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi! »
CHÚ THÍCH. — 1. Là có ý âu-yếm ân-cần — 2. Nghĩa đen là lạnh, ấm; chỉ những câu thăm hỏi về sự mạnh yếu lúc hai người mới gặp nhau.
83 — HOẠN-THƯ ĐỐI ĐÁP GỠ TỘI
TIỂU DẪN. — Thúy-Kiều gặp Hoạn-Thư phải nhiều nỗi cực-khổ, sau trốn đi, lại mắc vào tay Bạc-Bà phải ở thanh-lâu lần thứ hai. Sau gặp một người tướng giặc là Từ-Hải lấy làm vợ; nàng nhân dịp ấy lục chuyện cũ ra nói với Từ để xin báo ân báo oán. Trong đoạn này là đến lượt Hoạn-Thư ra chịu tội, thế mà nàng tài chống chế gỡ được tội mà thoát nạn, đủ biết cái tài ăn nói của nàng cũng không kém gì cái ngón mưu thuật của nàng vậy.
Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,
Chính-danh thủ-phạm tên là Hoạn-Thư;
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
« Tiểu-thư cũng có bây giờ đến đây!
« Đàn bà dễ có mấy tay,
« Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!
« Dễ dàng là thói hồng-nhan,
« Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều! »
Hoạn-Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.
Rằng: « Tôi chút dạ đàn bà,
« Ghen tuông thì cũng người ta thường tình
« Nghĩ cho khi gác viết kinh,
« Với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo.
« Lòng riêng, riêng vẫn kính yêu,
« Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai?
« Trót lòng gây việc chông gai,
« Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng! »
Khen cho: « Thật cũng nên rằng:
« Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời.
« Tha ra thời cũng may đời,
« Làm ra thời cũng ra người nhỏ-nhen.
« Đã lòng tri quá thời nên! »
Truyền quân-lệnh xuống tiền tha ngay.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Đoạn này về thể văn gì? — 2. Kiều lấy lẽ gì khép án Hoạn-Thư? — 3. Hoạn-Thư viện lẽ gì gỡ tội mình? Lời cãi của nàng có hợp lý và thuận tình không? Nàng viện những chuyện cũ nào để chứng rõ lòng mình? Nàng làm thế nào mà dẹp nỗi căm tức của nàng Kiều? — Nàng Kiều vì lẽ gì mà tha Hoạn-Thư? — 4. Một câu « Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời » có đủ vẽ được tâm tính Hoạn-Thư không? So câu ấy với câu « Nói điều giàng buộc thì tay cũng già » ở đoạn Hoạn-Thư ghen, trang 89.
II. Lời văn. — 1. Cắt nghĩa những chữ: gươm tuốt nắp, thủ-phạm. — Tiểu-thư là nói ai? — Câu thứ 4 ngụ ý nói gì? — Oan trái nghĩa là gì? — Hai câu 7, 8 người ta có hay dẫn đến không? Trong truyện Kiều có nhiều câu như thế không? — Hồn lạc phách xiêu nghĩa là gì? — Gác viết kinh, khi khỏi cửa: nói qua những chuyện này. — Ai chiều cho ai: Hai chữ ai này chữ trên nói ai chữ dưới nói ai? — Gây việc chông gai: ý nói gì? — Cắt nghĩa chữ lượng bể. — Làm ra: ý nói gì? — Nghĩa chữ tri quá.
2. Văn đoạn này có hợp với các vai chủ-động không? Giọng mỗi người nói ra thế nào?
84 — TIN TỨC THÚY-KIỀU TỪ KHI VÀO TAY TÚ-BÀ ĐẾN KHI GẶP TỪ-HẢI
TIỂU DẪN. — Kim-Trọng từ khi biệt Kiều về hộ tang chú xong đến tìm Kiều thì không thấy nữa, mới theo lới nàng dặn lấy Thúy-Vân làm vợ. Sau Kim-Trọng và em Kiều là Vương-Quan hai người cùng thi đậu làm quan, mới dò la thăm hỏi tin tức nàng Kiều. Trong đoạn này là lời một người lại lược kể chuyện Thúy-Kiều từ lúc vào tay Tú-Bà đến lúc gặp Từ-Hải cho Kim-Trọng nghe. Hầu hết cả một cuộc đời nàng Kiều đem tóm tắt lại có ngần ấy câu, mà vẫn được rõ ràng minh bạch, thật là một đoạn văn tự-sự rất khéo.
Thăng đường chàng mới hỏi tra,
Họ Đô có kẻ lại già thưa lên:
« Sự nàng đã ngoại mười niên,
« Tôi đà biết mặt biết tên rành-rành.
« Tú-bà cùng Mã-giám-Sinh,
« Đi mua người ở Bắc-kinh đưa về;
« Thúy-Kiều tài sắc ai bì!
« Có nghề đàn[87] lại đủ nghề văn thơ.
« Kiên trinh chẳng phải gan vừa,
« Liều mình thế ấy 1, phải lừa thế kia 2.
« Phong-trần 3 chịu đã ê-chề,
« Dây duyên sau lại gả về Thúc-lang;
« Phải tay vợ cả phũ-phàng,
« Bắt về Vô-tích 4 toan đường bẻ hoa[88];
« Bực mình nàng phải trốn ra,
« Chẳng may lại gặp một nhà Bạc 5 kia.
« Thoắt buôn về, thoắt bán đi,
« Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi!
« Bỗng đâu lại gặp một người,
« Hơn đời trí dũng, nghiêng trời uy linh.
« Trong tay muôn vạn tinh-binh,
« Kéo về đóng chật một thành Lâm-chuy.
« Tóc-tơ 6 các tích mọi khi,
« Oán thì trả oán, ân thì trả ân.
« Đã nên có nghĩa có nhân,
« Trước sau trọn-vẹn, xa gần ngợi khen.
« Chưa tường được họ được tên,
« Sự này hỏi Thúc-sinh viên mới tường ».
Nghe lời Đô nói rõ-ràng,
Tức thì viết thiếp mời chàng Thúc-sinh.
Nỗi nàng hỏi hết phân-minh,
Chồng con đâu tá, tính-danh là gì?
Thúc rằng: « Gặp khúc lưu-ly,
« Trong quân, tôi hỏi thiếu gì tóc-tơ!
« Đại-vương tên Hải họ Từ,
« Đánh quen trăm trận, sức dư muôn người!
« Gặp nàng khi ở châu Thai,
« Lạ gì quốc-sắc thiên-tài phải duyên!
« Vẫy-vùng trong bấy nhiêu niên,
« Làm nên động-địa kinh-thiên đùng-đùng.
« Đại-quân đồn đóng cõi đông,
« Về sau chẳng biết vân-mòng 7 làm sao. »
CHÚ THÍCH. — 1. Nói việc Kiều toan tự-tận ở nhà Tú-Bà. — 2. Nói việc Kiều bị Sở-Khanh lừa. — 3. Nghĩa đen là gió bụi; nói nỗi gian-truân. — 4. Quê Hoạn-Thư. — 5. Là Bạc-Bà Bạc-Hạnh lừa Kiều, bắt Kiều phải ở thanh-lâu lần thứ hai. — 6. Chân tơ kẽ tóc: ý nói căn-vặn từng ly từng tý. — 7. Tin-tức.
85 — LÚC TÁI-HỢP
TIỂU-DẪN. — Khi Kim-Trọng đã tìm thấy Kiều, cả nhà mới ép Kiều phải lấy Kim-Trọng; nàng lấy lời-lẽ chống-chế để từ-chối. Đoạn này là nói lúc hai người tái-hợp trò-chuyện cùng nhau. Coi đoạn này thì biết tâm-sự nàng Kiều lúc bấy giờ.
Nhà vừa mở tiệc đoàn-viên,
Hoa soi ngọn đuốc, hồng chen bức là.
Cùng nhau giao-bái một nhà,
Lễ đà đủ lễ, đôi đà xứng đôi.
Động-phòng 1 dìu-dặt chén mồi 2.
Bâng-khuâng duyên mới, ngậm-ngùi tình xưa!
Những từ sen ngó, đào tơ 3,
Mười lăm năm, mới bây giờ là đây!
Tình-duyên ấy, hợp-tan này,
Bi hoan mấy nỗi, đêm chầy trăng cao.
Canh khuya bức gấm rủ thao,
Dưới đèn tỏ rạng má đào thêm xuân.
Tình-nhân lại gặp tình-nhân,
Hoa[89] xưa ong cũ mấy phân chung-tình!
Nàng rằng: « Phận thiếp đã đành,
« Có làm chi nữa, cái mình bỏ đi.
« Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi,
« Chiều lòng nghĩ có xướng tùy 4 mảy-may.
« Riêng lòng đã thẹn lắm thay,
« Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi!
« Những như âu-yếm vành ngoài,
« Còn toan mở mặt với người cho qua.
« Lại như những thói người ta,
« Vớt hương dưới đất, bẻ hoa cuối mùa.
« Khéo là dở nhuốc bày trò,
« Còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi!
« Người yêu ta xấu với người,
« Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau.
« Cửa nhà dù tính về sau.
« Thì đà em đó, lọ cầu chị đây.
« Chữ trinh còn một chút này,
« Chẳng cầm cho vững lại giầy cho tan.
« Còn nhiều ân-ái chan-chan,
« Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi? »
Chàng rằng: « Gắn bó một lời,
« Bỗng không cá nước, chim trời 5 nhỡ[90] nhau!
« Xót người lưu-lạc bấy lâu,
« Tưởng thề thốt nặng, cũng đau đớn nhiều!
« Thương nhau sinh tử đã liều,
« Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình.
« Chừng xuân tơ liễu còn xanh,
« Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái-ân.
« Gương trong chẳng chút bụi trần,
« Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm!
« Bấy lâu đáy bể[91] mò kim 6,
« Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa 7.
« Ai ngờ lại họp một nhà,
« Lọ là chăn gối, mới ra sắt cầm 8! »
Nghe lời sửa áo cài trâm,
Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng:
« Thân tàn gạn đục, khơi trong 9,
« Là nhờ quân-tử khác lòng người ta,
« Mấy lời tâm-phúc ruột già,
« Tương-tri dường ấy, mới là tương-tri!
« Chở che đùm bọc thiếu gì,
« Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay! »
Thoắt thôi tay lại cầm tay,
Càng yêu vì nết, càng say vì tình.
Thêm nến giá, nối hương bình,
Cùng nhau lại chúc chén quỳnh giao hoan 10.
CHÚ THÍCH. — 1. Là buồng hai vợ chồng mới. — 2. Là chén làm bằng đôi-mồi. — 3. Chỉ lúc người con gái đương thì. — 4. Là nghĩa vợ chồng, theo chữ phu xướng phụ tùy. — 5. Là xa cách nhau như con cá ở dưới nước với con chim ở trên trời không bao giờ gặp nhau. — 6. Ý nói đi tìm gian-truân khó nhọc. — 7. Ý nói: muốn cùng nhau kết nghĩa trăm năm chứ không cần mối vui thú chốc lát. — 8. Chăn gối là tình vợ chồng ăn ở với nhau: sắt cầm là cảnh vợ chồng hòa thuận với nhau. Câu này ý nói: không cần ăn chung ở chạ mới nên nghĩa vợ chồng. — 9. Nghĩa là bỏ cái xấu đi tỏ cái hay ra. — 10. Là chén để trao mối vui cùng nhau.
HOA-TIÊN TRUYỆN
Truyện này truyền là của ông Nguyễn-huy-Tự 阮 輝 似 soạn ra, ông Nguyễn-Thiện 阮 僐 nhuận-sắc lại, vào khoảng cuối đời Lê đầu bản-triều. Cũng là một áng văn nôm hay ở nước ta. Trong bài tựa của ông Cao-bá-Quát có câu rằng: « Trong truyện Hoa-Tiên có nhiều ý tứ hay, trước giai (trai) gái gặp gỡ, vợ chồng yêu đương, rồi đến đạo cha con, nghĩa vua tôi, sự bè (bầu) bạn, tình anh em, lớn thì triều-chính, binh-mưu, bao trung, khuyến tiết, nhỏ thì nhân-tình thế-thái, mây gió cỏ cây. Văn thực là thẳng, lời rất là thanh-tao, vẻ rất là lịch-sự ». Đại-lược truyện như sau này:
I. Lương-Sinh, (con quan Lương Tể-tướng ở Tô-châu) nhân sang trọ học ở nhà mợ là họ Diêu ở Tràng-châu, gặp nàng Dương-dao-Tiên (con quan Dương Tướng-quân), sinh ra tương-tư nhau. Sau hai bên thề nguyền gắn bó với nhau (lời thề viết trên hai tờ giấy hoa-tiên: nhân thế đặt tên truyện), tưởng rằng duyên-phận không còn trắc-trở gì nữa.
II. Ngờ đâu Lương Tể-tướng với Lưu Tể-tướng vốn là người đồng-quận và bạn đồng-liêu, lúc cùng về hưu-trí, hẹn gả con cho nhau, thế à Lương-Sinh đã đính-hôn với Lưu-ngọc-Khanh (con gái Lưu Tể-tướng) rồi. Khi Lương-Sinh về đến nhà thăm cha, nghe thấy tin ấy, như sét đánh bên tai, nhưng cũng phải đành theo mệnh (mạng) cha mẹ. Nàng Dương-dao-Tiên nghe được tin ấy, tưởng rằng Lương-Sinh bội ước, lấy làm buồn rầu lắm.
Chợt khi ấy Dương Tướng-quân lại phải đi đánh giặc, chả may bị giặc vây, còn nàng Dương-dao-Tiên phải tạm nương náu ở chốn kinh-đô.
III. Về phần Lương-Sinh cũng phải dập sầu làm vui, cùng với Diêu-Sinh (con mợ) đi thi đỗ (đậu), được bổ làm quan. Lương-Sinh bổ nhậm ngay ở kinh-đô, tìm được Dương-dao-Tiên, giãi bày tâm-sự cùng nàng. Lương-Sinh mới xin vua ra giải vây cho Dương Tướng-quân; ngờ đâu cũng lại thua, bị giặc vây. Tin đồn sai rằng Lương-Sinh bị tử trận: nghe tin ấy nàng Lưu-ngọc-Khanh cải phục cư tang; vì mẹ bắt ép nàng lấy chồng khác, nàng phải trẫm mình; may gặp thuyền (ghe) của quan Long Đề-đốc trẩy kinh vớt được.
IV. Sau Diêu-Sinh ra đánh tan quân giặc, giải vây cho Dương-tướng và Lương-Sinh; vua bèn ban thưởng cho cả mấy người. Lương-Sinh vẫn tưởng nàng Lưu đã thác, mới dâng biểu tâu việc nàng tử tiết, vua mới sắc phong cho nàng. Vua lại tự đứng làm mối gả Dương-dao-Tiên cho Lương-Sinh. Đương khi Lương còn dùng-dằng thì Long Đề-đốc cùng Lưu-ngọc-Khanh cũng vừa đến kinh-đô, Long dâng sớ tâu việc nàng Lưu, vua khen ngợi, rồi cả hai người Ngọc-Khanh và Dao-Tiên cùng lấy Lương-Sinh: thế là một nhà đoàn-viên vui-vẻ.