Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm
121 — ĐÊM TRĂNG CHƠI HỒ TÂY
Chương 14 / 16
121 — ĐÊM TRĂNG CHƠI HỒ TÂY
Trời tháng tám nhân buổi đêm trăng, giắt một vài anh em bơi một chiếc thuyền[144] nhỏ dong chơi trong hồ.
Hồ về thu, nước trong vắt, bốn mặt mênh mông. Trăng tỏa ánh sáng, dọi vào các gợn sóng lăn-tăn, tựa hồ hàng muôn hàng ngàn con rắn vàng bò trên mặt nước. Thuyền ra khỏi bờ độ ba con sào, thì có hây-hẩy gió động sóng vỗ rập-rình.
Một lát, thuyền đẩy về phía tây-bắc, vào gần một đám sen, bấy giờ sen tuy đã hồ tàn, nhưng vẫn còn lơ thơ mấy đóa hoa nở muộn, mà lá vẫn còn tươi tốt. Mùi hương đưa theo chiều gió ngào-ngạt trong thuyền, khiến cho lòng người càng thêm bát-ngát. Trong khi thừa hứng mà lại thêm có mùi hương thì cảnh khoái lạc biết là dường nào?
Đêm gần khuya, trăng đã xế ngang đầu, anh em cũng đã cạn hứng, muốn về nghỉ. Tôi tiếc cái thú đêm trăng đó, bảo buông lái cho thuyền tự ý đi vung một lúc rồi hãy về.
Thuyền theo gió, từ từ mà đi, ra tới giữa khoảng mênh-mông, tôi đứng trên đầu thuyền, ngó quanh tả hữu. Đêm thanh cảnh vắng, bốn bề lặng ngắt như tờ. Chỉ còn nghe mấy tiếng cá « tắc tắc » ở dưới đám rong, mấy tiếng chim nước kêu « oác oác » ở trong bụi niễng, cùng là văng-vẳng tiếng chó xủa, tiếng gà gáy ở mấy nơi chòm xóm quanh hồ mà thôi. Trông về đông-nam: kìa đền Quan-Thánh 1, đó chùa Trấn-Quốc 2; trông về tây-bắc: đây đình Võng-thị, nọ văn-chỉ Tây-hồ; cây cối vài đám um-tùm, lâu-đài mấy tòa ẩn hiện; mặt nước phẳng lì tứ phía, da trời xanh ngắt một mầu; xem phong cảnh đó, có khác gì bức tranh sơn-thủy của Tạo-hóa treo ở trước mắt ta không? Tôi ngắm đi ngắm lại, lấy làm thích chí, song cũng vì cảnh tĩnh-mịch mà lại sinh ra ý ngại-ngùng, lòng ngao-ngán, và nỗi buồn tanh.
Hỡi ơi! Cái hồ này tương truyền ngày xưa là một trái núi đá nhỏ, về sau nước soáy thành hồ 3, chuyện đó đã bao lâu, hư hay là thực? Nào thuyền rồng vua Lê, nào hành-cung chúa Trịnh, cảnh thế nào, mà nay chỉ thấy một dòng nước biếc, mấy đám cỏ xanh? — Lại nhớ đến đời thượng cổ: có phải chỗ sương mù nghi ngút kia, là chỗ Trưng-vương đóng quân để chống nhau với Mã-Viện 4 đó chăng? — Lại nghĩ đến câu tục truyền: có phải chỗ nước sâu thăm-thẳm kia, là chỗ trâu vàng 5 ẩn-tích đó không? — Dù có dù không, dù còn dù hết, chẳng lấy gì làm quan-tâm cho lắm, song nghĩ đến các cảnh tượng đó thì không sao mà nguôi được tấm lòng thổn thức về cuộc tang-thương 6!
Đang khi bồi-hồi ngơ-ngẩn thì trời ào ào như sắp đổ cơn mưa, vội vàng đẩy thuyền về nghỉ. Về đến nhà, cởi áo đi ngủ, suốt đêm mơ-mơ màng-màng, như vẫn còn linh-đinh trên mặt hồ!
(Đông-Dương tạp-chí)
CHÚ THÍCH — 1. Xem bài tiểu-dẫn ở tr. 12 — 2. Chùa Trấn-quốc ở cạnh Tây-hồ, phong cảnh cũng đẹp, xưa vua Lê chúa Trịnh thường ngự ra chơi. — 3 Tục truyền hồ Tây xưa là một trái núi đá có con yêu cáo trắng ở, sau vua Thủy-tế dưng nước lên bắt cáo thì núi ấy xụt xuống thành đầm. — 4. Truyền rằng bà Trưng đánh nhau với Mã-Viện ở hồ Lãng-bạc (tên cũ của hồ Tây). — 5. Tục truyền khi ông Khổng-Lồ đúc một quả chuông lớn tại núi Phao-sơn về tỉnh Bắc-ninh đánh thử ba tiếng, có con trâu vàng tự bên Tàu tưởng là tiếng mẹ gọi (kêu) chạy sang vùng-vẫy hóa vực sâu. — 6. Xem câu chú-thích (3) ở tr. 67.
PHẠM-QUỲNH 范 瓊
122 — QUAN NIỆM VỀ THƠ CỦA NGƯỜI TA NGƯỜI TÀU
Trong các lối thơ ta có lối Đường-luật (8 câu 7 chữ) là thịnh-hành hơn cả, vậy ta nên xét qua cái « tâm-lý » của lối thơ ấy. Nói « tâm-lý » tất có người lấy làm lạ mà hỏi: sao lối thơ văn cũng có « tâm-lý » được? Xin đáp rằng: thực như thế. Bao nhiêu người làm thơ cùng theo một lối, lấy lối ấy làm hay làm tiện, đủ hình dung diễn-xuất được sự cảm-giác, cái tình-tự của mình, thì lối thơ ấy với cái tính-tình người làm thơ tất có một sự quan-hệ gì không phải là không; nghiên-cứu sự quan-hệ ấy, tức là xét cái « tâm-lý » của lối thơ, vì nhân đấy mà biết được tính-tình chung của các người làm thơ cùng dùng một lối ấy. Như lối Đường-luật 8 câu 7 chữ chia ra làm bốn phần: hai câu 1-2 là câu đề (phá-đề và thừa-đề) hai câu 3-4 là câu thực, hai câu 5-6 là câu luận, hai câu 7-8 là câu kết. Trong cái phạm-vi 56 chữ ấy mà bộ-phận rất là chỉnh-đốn, then máy rất là cẩn-mật, phải làm thế nào mà vẽ được một bức tranh hoàn-toàn, hình-dung được cái ngoại-cảnh của tạo-vật cùng cái nội-cảnh trong lòng người, cái nọ ứng hợp với cái kia, không được ngang trái nhau, đó là cái vấn-đề rất khó của các nhà làm thơ ở nước Tàu nước ta.
Muốn xét cái vấn-đề ấy giải-quyết ra làm sao thì phải biết cái quan-niệm riêng của người Tàu người ta về thi-học cùng họa-học. Ta coi thơ tức là vẽ mà vẽ tức là thơ, thơ là vẽ bằng lời, bằng thanh âm, vẽ là thơ bằng hình, bằng bút mực. Nên bức tranh thủy-mạc tức là bài thơ tả cảnh hiển-hiện ra cho mắt ta trông; mà bài thơ tả-cảnh tức là bức tranh sơn-thủy cất tiếng lên cho tai ta nghe.
Như muốn vẽ bức tranh thì con mắt phải nhìn trong cảnh-vật mà thu lấy cái hình-ảnh, rồi mới tìm cách truyền-thần ra giấy lụa. Muốn làm bài thơ cũng vậy, trong trí phải tưởng-tượng ra một cái cảnh, hoặc là cảnh thiên-nhiên, hoặc là cảnh trong tâm-giới, rồi dùng những âm-hưởng thích-đáng mà gọi, mà kêu nó lên, khiến cho người nghe cũng phát-khởi ra một sự tưởng-tượng như thế. Hai đằng cũng là vẽ cả, một đằng là vẽ cách trực tiếp, một đằng là vẽ cách gián-tiếp, nhưng đều là muốn gây một cái tư-tưởng cảm-tình từ trong lòng người.
Bởi thế nên phàm thơ Tàu, thơ ta, nhất là lối thơ Đường-luật, thực là những bức tranh cảnh con con; đã là bức tranh để vẽ cảnh đẹp thiên-niên, hay là cái cảnh thú trong lòng, thì phải theo khuôn-khổ một bức tranh, phải phỏng nét bút người thợ vẽ, nghĩa là phải làm thế nào mà truyền thần được cái cảnh trong mấy câu nhất định không được hơn không được kém, không được tùy cái sóng ngổn ngang ở trong lòng mà khi cao khi thấp, khi ngắn khi dài.
Ấy cái tâm-lý lối thơ luật như thế. Người ta thường nói thơ là cái liếng kêu tự nhiên của con tâm. Người Tàu định luật nghiêm cho nghề làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ấy, cho nó hay hơn, trúng vần trúng điệu hơn, nhưng cũng nhân đó mà làm mất cái giọng thiên-nhiên đi vậy.
Thử đọc bài thơ qua đèo Ngang của bà huyện Thanh-quan:
Qua đỉnh đèo Ngang bóng đã tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom-khom dưới núi tiều và chú,
Lác-đác bên sông chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc-quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia-gia
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Còn bức tranh nào vẽ khéo bằng! Thực là một mảnh sơn-thủy ở các lọ sứ tàu, đem phả vào khúc đàn vậy..... Lời chuốt như ngọc, giọng êm như du. Nào trời, nào nước, nào non, nào cây cối, nào đá hoa, nào chim kêu vượn hót, chẳng thiếu tí gì, lại thêm chút tình cảnh cảm-động của kẻ đường dài người lữ-thứ một mình đối với trời cao khoảng rộng. Mà bấy nhiêu thứ chỉ trong khoảng 8 câu 56 chữ. Một bài thơ như thế là tuyết-bút.
Rằng hay thì thực là hay,
nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân-công nhiều mà vẻ tự-nhiên ít, quả là một bức tranh cảnh vậy.
Cùng một đầu bài ấy, cùng một cái cảm-tuởng ấy mà vào tay một nhà thi-nhân Tây thì tất vẽ không được khéo bằng, bức tranh tất kém bề phong-nhã, kém vẻ thanh-tao, nhưng nét bút đậm-đà biết chừng nào, lời thấm-thiết mà giọng hùng-hồn, như đưa như cuốn cả tấm lòng người lên mấy từng mây!
(Trích trong tập Nam-Phong tạp-chí số 5)
123 — TỰ BẾN ĐÒ SUỐI VÀO CHÙA NGOÀI
TIỂU DẪN. — Xem bài tiểu-dẫn về chùa Hương ở trang 55. — Đi vào chùa Hương dù từ Hà-nội xuôi xuống, dù từ Phủ-lý (tỉnh lỵ Hà-nam) ngược lên, dù đi xe lửa, dù đi xe hơi, đều phải đến một chỗ gọi là Bến đò Suối, rồi xuống đò theo đường núi đi thẳng vào chùa, thoạt tiên đến Chùa ngoài, rồi đến Chùa trong mới thật là động Hương-Tích.
Đi đò suối ước chừng mất một giờ, phong-cảnh thật là ngoạn-mục. Hai bên núi đá, một giòng sông con chẩy giữa, núi thâm-thấp, nước quanh-co, coi thật như một bức tranh sơn-thủy của Tàu... Núi cao quá thường làm cho người ta dợn, sông rộng quá thường làm cho người ta ghê, mà non kia nước này thực là vừa bằng cái sức người tưởng-tượng, nên coi ra rất là mỹ-miều khả-ái. Mỗi dẫy mỗi trái đều có tên riêng, tùy hình mà đặt, đây là con vâm đương ăn cỏ, trông cũng phảng-phất hình như con voi chúc vòi xuống ruộng lúa, bên đầu lại có chỗ cong lại như hình cái tai, mới nhìn không ai nhận, mà đã có người gọi tên lên rồi thời càng nhìn càng thấy hệt như con voi, mới biết cái danh-hiệu thật là có ảnh-hưởng đến sự tưởng-tượng nhiều lắm vậy; lại kìa núi mâm xôi con gà, trông cũng mưỡng-tượng như con gà đặt trên mâm xôi thật! Ôi! cái trí biến-báo của người ta thật vô cùng vậy.
Đến nửa đường thời có « Đền Trình » ở dưới chân núi, về bên tay phải lối đi vào; đấy là thờ các vị sơn-quân canh rừng núi, giữ cửa chùa, ai vào chùa phải tới đấy trình diện trước; nên gọi là « Đền Trình »...
Gần trưa tới Chùa ngoài, tức chữ gọi là Thiên-Trù nghĩa là cái « bếp trời », là chỗ sửa soạn đồ lễ vật để vào dâng trong động, tuy tên nhỏ mọn như thế mà nghiễm-nhiên là một tòa đình-vũ nguy-nga, ở giữa một cái cao-nguyên, bốn bề toàn núi, trông rất là có thể-thế. Cách kiến-chúc tuy không có gì là khéo là đẹp, mà to lớn lực-lưỡng, thực là xứng đáng với cái cảnh chung quanh, coi đủ biết là chùa giầu, tiền thâu-thập nhiều, sổ chi tiêu rộng...
Các đám đông ở nước mình thật là không có kỷ-luật, không có trật-tự gì cả, rất tạp-nhạp, rất hỗn-độn, dầu ở nơi lễ bái kính-trọng cũng kẻ đi người lại, kẻ đứng người ngồi, nói nói cười cười, kêu kêu gọi gọi, ồn-ào lộn-sộn, Khó mà nghiệm cho được cái tâm-lý những người ngẫu-hợp tại đó. Lại thêm khói hương ngùn-ngụt, mùi người xông ngạt, tiếng chuông, tiếng trống, tiếng mõ đinh tai, đủ khiến cho nhà khảo-cứu như vào chốn mê-li, chẳng biết chỗ nào mà dò. Song nhận cho kỹ, dẫu trong đám ồn-ào đó mà cũng có nhiều người cái mặt rầu-rầu, con mắt dim-dim, như ngoan như độn, như dại như ngây, tưởng giá sét đánh bên mình cũng không tỉnh. Những người ấy chính là người thành tâm tín-ngưỡng đó, chớ không phải là những kẻ lau-chau láu-táu, miệng khấn tay vái, nào xụt nào xùi, bao nhiêu sự tâm-niệm thành-kính là ra chân tay mồm miệng cả.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Bài này thuộc về thể văn gì?
2. Phong-cảnh hai bên đường suối vào Chùa ngoài thế nào? — Tên các quả núi bởi đâu mà đặt ra?
3. « Đền Trình » là gì? Sao lại gọi là « bếp trời »?
4. Các đám đông người ở nước ta có tính cách gì đặc biệt? Các người trẩy chùa Hương có những mục-đích gì? Đối với lòng tín-ngưỡng tôn-giáo, các người ấy thế nào?
II. Lời văn. — 1. Cắt nghĩa chữ ngoạn-mục. — Thế nào là tranh sơn-thủy? Chữ thủy-mạc, thủy-họa nghĩa gì? — Nghĩa chữ mỹ-miều khả-ái. Sự đẹp có nhiều cách nhiều vẻ không? Hãy tìm những tiếng để nói các vẻ đẹp? — Cắt nghĩa những tiếng mưỡng-tượng, biến-báo, sơn-quân, đình-vũ, nguy-nga, kiến-chúc, mê-li.
124 — ĐỘNG HƯƠNG-TÍCH
Coi cái động Hương-Tích đó cũng chẳng lấy gì làm đẹp, tưởng không xứng-đáng cái huy-hiệu « Nam-thiên đệ-nhất động » của chúa Trịnh khắc ở cửa hang đời xưa. Theo tục truyền thời động này bắt đầu thờ từ đời nhà Trịnh, không biết vào niên-hiệu nào: hiện nay ở chùa trong chùa ngoài cũng không còn có bi-ký tự-tích gì làm chứng-cớ. Duy ở ngoài Thiên-trù 1 còn một cái tháp cổ xây bằng những « gạch hòm sớ 2 » nung thành trai, dài ước 50, 60 phân tây, dầy tới 15, 20 phân, có đúc những miếng huỳnh, miếng chám, những chữ phạn-tự 3 (chữ Phật), coi rất là cổ-kính, nhưng cũng không có tự-tích niên-hiệu gì, chẳng biết vào thời-đại nào. Động không đẹp là vì ở thụt xuống một cái lũng sâu, trông không sáng-sủa, không có bề-thế, nhưng cũng có cái vẻ sầm-uất uy-nghiêm. Trong động có những thạch-nhũ 4 rủ xuống, người ta gọi là cái « mắc áo », có những hang, những hốc, người ta cho là đường lên trời đường xuống âm-phủ, có những đống đá nhấp-nhô, người ta gọi là « núi các cô các cậu », những người hiếm-hoi đến cầu-tự ở đấy, v. v. toàn là những cái tục-truyền phụ-họa, chẳng có gì kỳ lạ cả. Nhưng phàm cảnh sơn-nham không có đẹp ở trái núi hay ở viên đá, mà phần nhiều đẹp ở cái khí-sắc mỗi lúc, tùy trời u-ám, hay trời sáng-sủa, buổi chiêu-dương hay lúc tịch-dương 5, mặt trời ánh-sáng, sắc núi đậm phai, mà mỗi lúc khác nhau. Vậy bấy giờ đã trở về chiều, mặt trời đã xế, đứng tận trong cùng động nhìn ra ngoài cửa; thực là một bức tranh tuyệt-bút. Khói hương đưa ra cửa động, mờ ám như đám sương mù, mặt trời phản-chiếu, nửa đỏ nửa vàng, bóng cây phất-phới, như thấp như cao, đứng trong nhìn ra như trông qua một cái gương mờ; bấy giờ tưởng bước chân ra cửa động là tiện-thị để mình vào nơi mộng-cảnh nào, theo sương mù mà bay bổng lên mấy từng mây, có lẽ chính là cõi tây-thiên tĩnh-thổ vậy. Nhưng chửa bước chân ra khỏi cửa thời cái mộng-cảnh đã tan rồi, mà chỉ ngửi thấy những mùi sú uế ở chung quanh chùa bốc lên, thật là cảnh chân với cảnh mộng cách xa nhau nhiều lắm!
(Giở lên 2 bài, trích ở bài Trẩy chùa Hương trong Nam-phong, số 23).
CHÚ THÍCH. — 1. Coi bài trước hay câu chú-thích số 8, tr. 54. — 2. Gạch hình hòm đựng sớ cao hơn lối gạch thường nhiều. — 3. Là thứ cổ-tự bên Ấn-độ (Sanscrit); các kinh phật viết bằng thứ chữ ấy. — 4. Nghĩa đen là vú đá, là những khối đá hình tựa cái vú tự trên dủ xuống hay tự dưới nhô lên (stalactite et stalagmite). — 5. Chiêu-dương là bóng mặt trời buổi sớm; tịch-dương là bóng mặt trời buổi chiều.
125 — CUNG CHIÊM CÁC TÔN-LĂNG
Ở Kinh mà không đi cung-chiêm các tôn-lăng thì cũng là uổng mất cái công từ Hà-nội về đây. Vả mục-đích tôi về Kinh là muốn xem những cảnh-tượng cũ của nước nhà, còn cảnh-tượng gì trang-nghiêm hùng-tráng bằng những nơi lăng-tẩm của mấy vị đế-vương ta đời trước? Không những mấy nơi đó là những nơi thắng-tích đệ nhất của nước ta, mà lại có thể liệt vào bực những nơi thắng-tích của cả thế-giới nữa. Hoàn-cầu dễ không đâu có chốn nhà mồ của bực vua chúa nào mà khéo hòa-hợp cái cảnh thiên-nhiên với cái cảnh nhân-tạo, gây nên một cái khí-vị riêng như não-nùng, như thương nhớ, như lạnh-lẽo, như hắt-hiu, mà lại như đầy những thơ những mộng, khiến người khách vãn-cảnh luống những ngẩn-ngơ trong lòng. Mà cái cảm-giác ấy không phải là người mình mới có, dẫu người ngoại-quốc đi du-lịch đến đấy cũng phải cảm như thế. Có người Pháp rất mến cái cảnh những nơi lăng-tẩm của ta đã từng nói: muốn đi xem lăng phải đi vào những ngày gió thu hiu-hắt, trời đông u-ám, thì mới cảm được hết cái thú thâm-trầm. Kể các lăng-tẩm thì nhiều lắm, nhưng trứ-danh nhất có bốn nơi: Thiên-thụ-lăng (lăng đức Gia-Long), Hiếu-lăng (lăng đức Minh-Mệnh[145]), Xương-lăng (lăng đức Thiệu-Trị), Khiêm-lăng (lăng đức Tự-Đức), bốn nơi ấy là to hơn và đẹp hơn cả. Nơi Thiên-thụ xa nhất, rồi lần-lượt đến nơi Hiếu, nơi Xương, nơi Khiêm.
Nói lăng, những người không biết, mỗi người tưởng-tượng ra một cách: người thì cho là cái nhà bằng đá lớn, trong đựng quan-quách ông vua; người thì cho là cái vườn rộng, giữa xây nấm, quanh giồng[146] cây; người thì cho là cái nền to như nơi văn-chỉ, phỗng đá voi ngựa đứng chầu. Nhưng dù tưởng-tượng đến đâu cũng không kịp tới cái chân tướng nhớn nhao[147]. Lăng đây là cả một tòa thành, cả một vùng núi, chớ không phải là một khoảng năm ba sào, một khu vài ba mẫu. Lăng đây là gồm cả mầu trời, sắc nước, núi cao, rừng rậm, gió thổi ngọn cây, suối reo hang đá, chớ không phải một cái nấm con con của tay người xây dựng. Lăng đây là bức cảnh thiên-nhiên tuyệt đẹp, ghép thêm một bức cảnh nhân-tạo tuyệt khéo. Lăng đây là cái nhân-công tô-điểm cho sơn-thủy, khiến cho có một cái hồn não-nùng u-uất, như phảng-phất trong cung-điện âm-thầm, như rì-rào trên ngọn thông hiu-hắt. Không biết lấy lời gì mà tả được cái cảm lạ, êm-đềm vô-cùng, ảo-não vô-cùng, nó chìm đắm người khách du-quan trong cái cảnh tịch-mịch u-sầm ấy. Trong thế-giới chắc còn lắm nơi lăng-tẩm đẹp hơn nhiều, như ở Ấn-độ có cái mả bà chúa toàn bằng ngọc-thạch, ở Âu-châu cũng có lắm nơi mộ-địa rất là u-sầm. Nhưng không đâu cái công dựng đặt của người ta với cái vẻ thiên-nhiên của trời đất khéo điều-hòa nhau bằng ở đây, cung-điện đình tạ cùng một mầu một sắc như núi non, như cây cỏ, tưởng cây cỏ ấy, núi non ấy phải có đình-tạ ấy, cung-điện ấy mới là xứng, mà cung-điện ấy, đình-tạ ấy phải có núi non ấy cây cỏ ấy mới là hợp vậy.
126 — LĂNG ĐỨC GIA-LONG
Đến điện trước rồi mới đến lăng, điện ở bên hữu lăng, gọi là Minh-thành-điện. Điện trông rất là nguy-nga, trước mặt có sân rộng giồng[148] mấy cây đại to; lại có một thứ cây không biết tên là gì mà hình rất cổ-kính thực là hợp với cái cảnh trang-nghiêm ở chỗ ấy. Trèo bệ đá lên cửa điện, bước vào một cái sân rộng nữa, trong bày mấy cái thống bằng sứ cực lớn. Thường trong các miếu-điện ngoài sân hay bày những thống như thế. Chắc là đồ tàu, nhưng không phải đồ thường, hoặc giả Triều-đình ta khi xưa đặt kiểu riêng tự nơi « thổ-sản » chăng. Vì ngày nay không thấy đâu có những chiếc thống lớn như thế. Hai bên là tả-vu hữu-vu, giữa là chính-điện. Vào chính-điện phải nói với các « mệ » coi trong ấy. Các « mệ » là những bực cung-nữ của tiên-đế khi xưa, hoặc là những bực công tôn-nữ giở về già xin vào lăng để trông nom việc hương lửa hôm mai. Ở lăng Thiên-thụ này chắc không còn những bực cung-nữ nữa. Trong điện có cái khám đặt bài vị đức tiên-đế, ngoài bày cái sập giải chiếu để những đồ ngự dụng như khi sinh thời: cái khăn mặt, cái thau, bộ đồ trà, cái tráp giầu[149] v. v. Hai bên lại bày những đồ pha-lê cùng đồ sứ tây, chắc là những đồ của các ông sứ-thần Pháp đem sang cống vua ta khi xưa. Đại-khái cách bài-trí trong tẩm-điện các lăng đều như thế cả, chỉ khác nhau có ít hay nhiều mà thôi. Điện lăng Thiên-thụ này là ít đồ bày hơn cả: nhiều nhất là điện Khiêm-lăng.
Xem xong trong điện mới ra xem ngoài lăng. Sánh với các lăng kia thì lăng Thiên-thụ là giản-dị hơn cả, nhưng có cái vẻ hùng tráng, thực là biểu được cái trí to-tát một ông vua sáng-nghiệp. Bốn bề là núi cả, trong sách nói cả thẩy 36 ngọn đều quây quần về đấy. Giữa mấy từng sân đá rộng thênh-thang, thềm cao rộng chạy; trên một tòa thành tròn ba bề xây như hình cái ngai, trong hai nấm đá hình chữ nhật, tức là mộ đức Thế-tổ Cao-hoàng-đế cùng đức Thừa-thiên Cao-hoàng-hậu, hai ông bà nằm song-song ở giữa khoảng trời rộng núi cao, như muốn chứng cùng với trời đất rằng công ta đã đánh đông giẹp bắc mà gây dựng nên cái nền nhất thống của nước Đại-Việt này, từ nay vững như bàn-thạch, bền như Thái-sơn vậy. Không có đình, không có tạ, không có lâu, không có đài, chỉ trơ trơ một tấm sân đá mênh mông ngoài xa hai cột đồng-trụ cao ngất trời! Hùng thay! Thực rõ cái chí một bực khai-quốc đại-anh-hùng, không ưa những sự hư-văn vô-ích. Phàm lăng là xây tự sinh-thời vua, chớ không phải khi vua thăng-hà rồi mới xây, cho nên mỗi cái lăng là biểu tinh-thần tính-cách riêng của mỗi ông vua, tự tay đặt kiểu lấy cái nhà ở sau cùng của mình. Như thế thời lăng Thiên-thụ này thực là tấm gương phản-chiếu cái khí-tượng anh-hùng của đức Gia-Long ta vậy.
Có người cho lăng đức Minh-Mệnh[150] là đẹp, có người cho lăng đức Tự-Đức là khéo. Tôi lấy lăng đức Gia-Long là hùng hơn cả. Nhưng một triều được mấy vua sáng-nghiệp? Công khai sáng chỉ có một đời, mà nền bình-trị thực muôn thủa. Cho nên các lăng sau này có văn vẻ hơn nhiều mà thực là kém bề hùng tráng vậy.
(Giở lên 2 bài, trích ở bài Mười ngày ở Huế trong Nam-phong, số 10)
127 — CUỘC « NAM-TIẾN » CỦA DÂN TỘC TA
Thử xét cả cuộc lịch-sử dân Annam ta là một cuộc « nam-tiến » vô hồi vô hạn. Giống Giao-chỉ nguyên phát tích tự đất trung-châu xứ Bắc-kỳ, rồi mỗi ngày một bành-trướng mãi ra, mà bành-trướng về phía Bắc không sao được, gặp những rừng núi ngăn trở, lại có giống mạnh hơn không thể tranh nổi, thế tất phải tràn về phía Nam, càng ngày càng lan rộng mãi ra, gặp những dân thổ trước 1 thì tiêu diệt cho tàn, hoặc dung-hóa 2 cho hết: Chiêm-thành, Chân-lạp xưa kia hiển hách biết bao mà nay còn gì? Người đã bị ta diệt, còn sót lại tấm thành cổ góc miếu xưa, để làm cái chứng cho đời sau rằng xưa kia đã có một giống người sinh trưởng trước ta ở chốn đó. Ôi! khốc-liệt 3 thay là cái lẽ sinh-tồn cạnh-tranh 4 của trời đất.
Giống Chiêm-thành không phải là giống hèn: tức là một giống thượng-võ 5 mà cái văn-minh cũng chẳng kém gì mình, cứ xem những đền-đài lăng tháp còn lại thì đủ biết. Chỉ vì mình kiên-nhẫn và mình nhiều người hơn nó, lại bị cái lẽ sinh-tồn nó bắt-buộc phải liều sống liều chết mà tràn vào phía Nam cho được, không thời chật hết chỗ không biết sống vào đâu, nên mình đánh nó mãi nó phải thua, nhưng trước sau biết bao nhiêu thắng phụ, kể đến ngót một nghìn năm mới tiêu-diệt được hết, ước đến thế-kỷ thứ 16 thì đã gồm được suốt giải đất Trung-kỳ, bước tới nơi đồng-bằng Lục-tỉnh. Lục-tỉnh bấy giờ còn là Thủy-chân-lạp, giống Chân-lạp tức là giống Cao-miên ngày nay. Người Chân-lạp còn ở giải giác mọi nơi, thành từng làng sóm nho-nhỏ ở giữa đồng rộng mênh-mông: những tên đất tên tỉnh ở miền tây-nam xứ Nam-kỳ ngày nay phần nhiều là gốc tự tiếng Chân-lạp cả, như Sadec, Sóc-trang, Cần-thơ, Bạc-liêu, vân vân, không phải là tên chữ mà cũng không phải là tiếng nôm của mình.
Người mình tới nơi mỗi ngày một xua đùa dân Cao-miên lên chốn cao-nguyên; còn những bình-nguyên đất tốt mình chiếm cứ lấy. Đến đầu bản-triều thì cả đất Thủy-chân-lạp (tức là Nam-kỳ) đã về tay giống mình rồi. Bấy giờ lại đi ngược lên mà tràn sang cả Lục-chân-lạp, là đất Cao-miên ngày nay. Giống Cao-miên yếu hèn, vả cũng ít người, mình tới đâu nó chạy đó, nên sự cạnh-tranh không kịch-liệt lắm. Nhưng cũng lắm phen người Cao-miên sang cầu cứu ở Xiêm, viện quân Xiêm sang giúp: nên ta phải đánh nhau với Xiêm mấy trận, Xiêm bị thua. Vua Miên chạy trốn, triều-đình ta bèn đặt bảo-hộ ở đất Cao-miên, dựng thành trấn Nam-vang, về triều Thiệu-Trị Tự-Đức, nước ta thường có quan Khâm-sai Tổng-đốc ở Nam-vang (Phnom-Penh). Thử coi cái sức bành-trướng của dân mình có ghê không, khác nào như cái vết dầu trên tờ giấy trắng vậy. Trước còn nhỏ mà sau cứ thấm dần mãi ra, không gì ngăn lại được.
Coi đó thì biết sự « nam-tiến » là cái phép lớn trong lịch-sử giống Việt-Nam ta. Trong hơn hai nghìn năm ta chỉ tiến về phía Nam mà ta mới sống được. Cái cuộc « nam-tiến » đó đến Nguyễn-triều ta đã gọi là tiệm xong. Nhưng nhà Nguyễn cũng còn là mới khai-thác được một nửa xứ Nam-kỳ mà thôi. Còn một nửa nữa từ sông Hậu-giang trở xuống phải đợi đến nhà nước Đại-Pháp sang mới bắt đầu mở mang nốt. Nên xét trong địa-dư xứ Nam-kỳ rõ biệt hẳn ra hai phần: cái phần tự sông « Tiền-giang » (Fleuve Antérieur) trở lên, là phần đất cũ, của bản-triều đã mở mang từ trước, nhân dân tụ họp đã lâu, ruộng đất thành thuộc gần khắp, cách cày cấy trồng trọt nhiều nơi làm mỗi năm hai mùa đã gần giống như ngoài Bắc, người dân cũng đã chịu cảm-hóa của Triều-đình sâu, xưa kia đã từng sản được nhiều người tài giỏi có công với xã-tắc; cái phần tự sông Tiền-giang trở xuống, là phần đất mới, mới khai-thác tự sau khi nhà nước Đại-Pháp sang chiếm-lĩnh, trước sau chưa có một chút lịch-sử gì, có lắm nơi tỉnh-thành chỉ mới thành-lập được mười lăm năm nay; nhưng phần này đất phì-nhiêu có một, hễ phá hoang đến đâu là thành ruộng tới đó, cày cấy tốt quá, thóc gạo không biết bao nhiêu mà kể. Hiện nay những tỉnh giầu nhất, lớn nhất ở Nam-kỳ là thuộc về phần đó, còn phần trên tuy có văn-vật hơn mà đã cho là đất kiệt đất cũ rồi.
CHÚ THÍCH. — 1. Là người dân vốn ở một xứ nào mà bị người giống khác ruồng đuổi đi. — 2. Khai-hóa để dung hợp với mình. — 3. Ghê-gớm dữ-dội. — 4. Ganh đua nhau để mà sống (la lutte pour la vie). — 5. Chuộng nghề võ, thích sự đánh-chác.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Nam-tiến nghĩa là gì? Tại sao dân-tộc ta phải tràn mãi vào phía Nan?
2. Tác-giả lấy những việc gì để chứng việc nam-tiến của dân ta? Kể qua việc ta lấy Chiêm-thành và Chân-lạp.
3. Việc khai thác xứ Nam-kỳ chia ra làm mấy hồi?
II. Lời văn. — 1. Giao-chỉ: nghĩa đen là gì? Chỉ giống người nào? — Nghĩa những chữ bành-trướng, hiển-hách. — Tấm-thành cổ, góc miếu xưa: kể mấy cái tỉ-dụ. — Chữ Lục-tỉnh chỉ xứ nào? Tại sao? — Lục, Thủy Chân-lạp: tai sao gọi thế? — Nghĩa những chữ cao-nguyên, bình-nguyên. — Xã-tắc: nghĩa đen, nghĩa bóng. — Văn vật là thế nào?
2. Nhặt (lặt) trong bài này những đoạn văn nào có giọng kích-thích mãnh-liệt.