Quốc văn trích diễm — Dương Quảng Hàm
99 — TẾ TRẬN VONG TƯỚNG SĨ
Chương 10 / 16
99 — TẾ TRẬN VONG TƯỚNG SĨ
TIỂU DẪN. — Năm 1802 khi vua Gia-Long đã bình định xong Bắc-hà rồi, sai quan tiền-quân quận-công Nguyễn-văn-Thành ở lại làm Tổng-trấn Bắc-thành, còn ngài trở về kinh-đô Phú-xuân. Quan tiền-quân mới sửa một tuần rượu tế các tướng sĩ đã từng theo đức Gia-Long đi đánh dẹp mà chả may xấu số thiệt phận chết ở nơi chiến địa. Lúc tế ông đọc bài văn này, lấy cái cảm tình một ông võ-tướng mà giãi bày công-trạng anh-hùng của kẻ đã qua, thổ-lộ tấm lòng thương tiếc của người còn lại, lời văn thống-thiết, giọng văn hùng-hồn, thật là một áng văn-chương tuyệt bút trong nền quốc-âm ta.
Than ôi! Trời Đông-phố vận ra Sóc-cảnh 1, trải bao phen gian-hiểm mới có ngày nay; nước Lô-hà chảy xuống Lương-giang 2, nghĩ mấy kẻ điêu-linh 3 những từ thủa nọ. Cho hay sinh là ký mà tử là qui; mới biết mệnh[111] ấy yểu mà danh ấy thọ.
Xót thay! Tình dưới viên mao 4; phận trong giới-trụ 5. Ba nghìn họp con em đất Bái 6, cung tên ngang dọc chí nam-nhi; hai trăm vầy bờ cõi non Kỳ 7, cơm áo nặng dầy ơn cựu-chủ.
Giấn thân cho nước, son sắt một lòng; nối nghĩa cùng thầy, tuyết sương mấy độ.
Kẻ thời theo cơ-đích 8 chạy sang miền khách-địa, hăm-hở mài nanh giũa vuốt, chỉ non tây thề chẳng đội trời chung; kẻ thời đón việt mao 9 trở lại chốn sơ-cơ, dập-dìu vén cánh nương vây, trông cõi Bắc quyết thu về đất cũ.
Nằm gai nếm mật 10, chung nỗi ân-ưu; mở suối bắc cầu, riêng phần lao-khổ.
Trước từng trải Xiêm-la, Cao-miên về Gia-định mới dần ra Khánh, Thuận 11, đã mấy buổi sơn-phong hải-lễ 12, trời Cao, Quang 13 soi tỏ tấm kiên-trinh; rồi lại từ Đồ-bàn, Nam, Ngãi lấy Phú-xuân mà thẳng tới Thăng-long 14, biết bao phen vũ pháo vân thê 15, đất Lũng, Thục 16 lần vào nơi hiểm-cố.
Phận truy tùy, gẫm lại cũng cơ-duyên; trường tranh-đấu biết đâu là mệnh số.
Kẻ thời chen chân ngựa quyết giật cờ trong trận, xót lẽ gan vàng mà mệnh bạc, nắm lông hồng 17 theo đạn lạc tên bay; kẻ thời bắt mũi thuyền[112] toan cướp giáo giữa dòng, thương thay phép trọng để thân khinh, phong da ngựa 18 mặc bèo trôi sóng vỗ.
Hồn tráng sĩ biết đâu miền minh-mạc 19, mịt mù gió lốc, thổi dấu tha-hương 20; mặt chinh-phu khôn vẽ nét gian-nan, lập-lòe lửa chơi, soi chừng cổ-độ 21.
Ôi! cùng lòng trung-nghĩa, khác số đoản tu 22, nửa cuộc công-danh, chia phần kim cổ 23.
Đoái là tiếc xương đồng da sắt, thanh bảo-kiếm đã trăm rèn mới có, nợ áo cơm phải trả đến hình-hài; những là khen dạ đá gan vàng, bóng bạch-câu 24 xem nửa phút như không, ơn dầy đội cũng cam trong phế-phủ 25.
Phận dù không gác khói đài mây 26; danh đã dậy ngàn cây nội cỏ.
Thiết vì thủa theo cờ trước gió, thân chả quản màn sương đệm giá, những chờ xem cao thấp bức cân thường 27; tiếc cho khi lỡ bước giữa dòng, kiếp đã về cõi suối làng mây, nào kịp thấy ít nhiều ơn vũ-lộ 28.
Vâng thượng-đức hồi loan 29 tháng trước, đoàn ứng nghĩa dẫu Quảng, Thuận, Nghệ, Thanh 30 cũng vậy, giội ân-quang gieo khắp xuống đèo Ngang; mà những người từng thượng-trận ngày xưa, dắp tấu công từ ngọ, vị, thân, dậu 31 đến giờ, treo tính tự để nằm trong lá sổ.
Ngọn còi rúc nguyệt, nơi tẻ nơi vui; dịp trống dồn hoa, chốn tươi chốn ủ. Đã biết rằng anh-hùng thì chẳng quản, trăm trận một trường oanh-liệt, cái sinh không, cái tử cũng là không; nhưng tiếc cho tạo-hóa khéo vô-tình, ngàn năm một hội tao-phùng, phận thủy có, phận chung sao chẳng có 32.
Bản-chức nay, vâng việc biên-phòng; chạnh niềm viễn-thú. Dưới trướng nức mùi chung đỉnh, sực nhớ khi chén rượu rót đầu ghềnh; trong nhà rõ vẻ áo xiêm, chạnh nghĩ buổi tấm cừu vung trước gió. Bâng-khuâng kẻ khuất với người còn; tưởng-tượng thầy đâu thì tớ đó.
Nền phủ-định 33 tới đây còn xốc-nổi, vụ lòng một lễ, chén rượu thoi vàng; chữ tương-đồng ngẫm lại vốn đinh-ninh, khắp mặt ba quân, cờ đào nón đỏ. Có cảm-thông thì tới đó khuyên mời; dù linh-thính hãy nghe lời dặn-dỗ.
Buổi chinh-chiến hoặc là oan hay chẳng, cũng chớ nề kẻ trước người sau, hàng trên lớp dưới, khao thưởng rồi sẽ tấu biểu-dương cho; hội thăng-bình đừng có nghĩ rằng không, dù ai còn cha già, mẹ yếu, vợ góa[113], con côi, an-tập hết cũng ban tồn tuất đủ.
Hồn-phách đâu đều ngày tháng Thuấn, Nghiêu 34; hài cốt đó cũng nước non Thang, Vũ 35.
Cơ huyền-diệu 36 hoặc thăng trầm chưa rõ, thiêng thời về cố-quận để hương thơm lửa sáng, kiếp tái sinh lại nhận cửa tiền-quân 37; niềm tôn thân dù sinh tử chớ nề, linh thời hộ Hoàng-triều cho bể[114] lặng sông trong, duy vạn kỷ chửa dời ngôi bảo-tộ 38.
CHÚ THÍCH. — 1. Đông-phố là tên cũ thành Gia-định; Sóc-cảnh là cõi Bắc; ý nói tự Gia-định ra tới Bắc-hà (Hà-nội). — 2. Lô-hà nhất danh là sông Tuyên, chảy qua Tuyên-quang rồi đổ xuống sông Nhị-hà; Lương-giang tức là Phú-lương-giang, tên cũ của sông Nhị-hà. — 3. Điêu-linh là tàn rụng, chỉ những người chả may chết trận. — 4. Viên là viên-môn, cửa dinh (doanh) quan đại-tướng; mao là cờ tiết mao, hiệu lệnh trong quân. — 5. Là áo giáp mũ trụ của tướng sĩ. — 6. Vua Hán Cao-tổ ở bên Tàu khi khởi binh ở đất Bái, họp con em ba nghìn người; đây ví những người theo đức Gia-Long cũng khảng-khái như bọn quân-sĩ vua Hán Cao-tổ vậy. — 7. Tên núi ở tỉnh Thiểm-tây bên Tàu có tiếng là hiểm trở, chỉ hai trăm người địch nổi hai nghìn người; vua Văn-vương nhà Chu sáng nghiệp ở đấy; đây sánh những người theo vua Gia-Long cũng hăng hái như bọn quân sĩ vua Chu Văn-vương vậy. — 8. Cơ đích là hàm thiếc dây cương, ý nói theo vua giữ ngựa. Đây là nói hồi vua Gia-Long bị quân Tây-Sơn đánh thua, phải trốn sang Xiêm-la. — 9. Việt mao là cái phủ việt và cờ tiết mao. Đây là nói hồi vua Gia-Long tự Xiêm về thu phục được thành Gia-định. — 10. Điển cũ: vua Câu-Tiễn nước Việt khi mất nước thường nằm trên gai, nếm mật đắng để nghĩ kế khôi phục; ý nói chịu nỗi khổ sở. — 11. Là Khánh-hòa và Bình-thuận. — 12. Sơn phong là gió núi; khi đức Gia-Long đóng ở đảo Côn-lôn, quân Tây-Sơn chợt đến vây nguy cấp lắm, bỗng dưng trời nổi bão to, thuyền giặc đắm cả, vua mới thoát vây. Hải lễ là nước ngọt ở bể: khi vua Gia-Long đương phải chạy trốn ở ngoài bể, hết cả nước ngọt uống, vua mới khấn trời, chợt thấy ở dưới bể có dòng nước ngọt, múc nước uống mới khỏi khát. — 13. Đây ví vua Gia-Long cũng như vua Hán Cao-tổ và Hán Quang-vũ là hai ông vua sáng nghiệp trung hưng ở bên Tàu. — 14. Đồ-bàn là kinh-đô cũ của người Xiêm-thành, tức la thành Bình-định; Nam, Ngãi là Quảng-nam Quảng-ngãi; Phú-xuân là Huế; Thăng-long là Hà-nội. — 15. Là đạn nhiều như mưa, thang cao giáp mây. — 16. Đây ví các thành tỉnh ấy cũng hiểm cố như đất Lũng là Lũng-tây (ở tỉnh Thiểm-tây) và đất Thục là Tứ-xuyên ở bên Tàu. — 17. Điển cũ: Lời Tư-mã-Thiên nói: « Người ta ai cũng chết mà cái chết có người nặng như núi Thái, cũng có người nhẹ như nắm lông hồng ». — 18. Điển cũ: Lời Mã-Viện nói: « Đứng tài trai nên chết ở nơi chiến-trận lấy da ngựa bọc thây »; ý nói chết ở nơi chiến-trường. — 19. Là nơi tối tăm mênh mang. — 20. Là nơi đất khách quê người. — 21. Là chỗ bến đò ngày xưa. — 22. Đoản là ngắn, tu là dài, ý nói kẻ chết non người sống lâu. — 23. Kim là người đời nay, người còn sống, cổ là người đời xưa, người đã chết. — 24. Bóng bạch câu: Điển cũ: đời người thấm thoắt như bóng ngựa trắng chạy qua cửa sổ thoáng mắt đã mất; ý nói số mệnh (mạng) các quân sĩ ngắn-ngủi. — 25. Phế phủ là buồng phổi và phủ tạng trong người. — 26. Điển cũ: vua Đường Thái-tôn bên Tàu vẽ hình công-thần treo ở Yên-các (gác khói), vua Hán Minh-đế vẽ tranh công-thần treo ở Vân-đài (đài mây); ý nói tuy không được vinh dự như các bực công-thần danh-tướng. — 27. Có công được thêu tên vào cờ cân cờ thường. — 28. Là ơn vua ví như mưa móc thấm nhuần. — 29. Nói xe vua trở về; đây nói vua Gia-Long khi đã lấy Bắc-hà rồi trở về Phú-xuân. — 30. Là bốn tỉnh Quảng (Quảng-bình, Quảng-trị, Quảng-nam, Quảng-ngãi), Thuận-hóa, Nghệ-an và Thanh-hóa. — 31. Từ năm 1798 đến năm 1801. — 32. Thủy là lúc đầu, chung là lúc cuối. Ý nói lúc hoạn nạn thì còn sống mà đến lúc thái bình thì đã thác (phản) rồi. — 33. Theo chữ can qua phủ định: việc đánh dẹp vừa yên. — 34. Vua Nghiêu vua Thuấn bên Tàu, hai đời vua thái bình sánh với đời vua Gia-Long. — 35. Là vua Thang vua Vũ hai đời vua thịnh trị bên Tàu sánh với đời vua Gia-Long. — 36. Máy trời đất xoay vần bí-mật và thần diệu. — 37. Ý nói: nếu sống lại kiếp sau thì nên đến cửa dinh tiền-quân mà nhận. — 38. Ý nói: nếu có khôn thiêng thì nên phù hộ nhà vua được thái bình để ngôi vua (ngôi bảo tộ) truyền mãi đến muôn đời về sau.
CÂU HỎI. — I. Ý tưởng. — 1. Mục-đích bài này thế nào? Tóm đại-ý các đoạn trong bài này.
2. Tác-giả trông thấy cảnh-tượng gì mà nhớ đến những kẻ đã thác?
3. Chí khí công-trạng các tướng sĩ thế nào? Đem những việc nói trong bài này đối chiếu với lịch-sử.
4. Số phận các người ấy thế nào? Tại sao mà đáng tiếc những bực ấy.
5. Tác-giả yên ủi khuyên nhủ các trận vong tướng sĩ thế nào?
II. Lời văn. — Tác-giả lấy những cảnh-tượng gì để tả sự thống-nhất và cuộc bình định lúc bấy giờ? — Nghĩa những chữ: sinh ký, tử qui, mệnh yểu, danh thọ. — Cung tên ngang dọc, cơm áo nặng dầy: những chữ ấy nói về ý gì? — Son sắt, tuyết sương: nghĩa bóng những chữ ấy trong bài này. — Mài nanh, giũa vuốt: nghĩa đen và nghĩa bóng. — Thù không đội trời chung là thù thế nào? — Vén cánh, nương vây: nghĩa đen và nghĩa bóng. — Cõi bắc là đâu? — Phận truy tùy là phận những người nào? — Thích rõ nghĩa những chữ cơ, duyên, mệnh, số. — Gan vàng, mệnh bạc: ý nói gì? — Nghĩa chữ bạc ở đây. — Phép trọng, thân khinh là thế nào? — Xương đồng da sắt: nghĩa bóng những chữ đồng và sắt ở đây. — Bảo kiếm: nghĩa đen là gì? Đây nói về ai? — Màn sương đệm gió, cõi suối làng mây: những chữ ấy nói ý gì? — Ngọn còi rúc nguyệt, nơi tẻ nơi vui, dịp trống dồn hoa, chốn tươi chốn ủ: sao thế? — Nghĩa những chữ trường oanh-liệt, hội tao-phùng. — Mùi chung đỉnh, vẻ áo xiêm: nói ý gì? — Kẻ khuất người còn là nói những ai? — Ai là thầy, ai là tớ? — Cảm thông, linh thính là thế nào? — Nghĩa chữ oan ở đây. — Biểu dương, tồn tuất là thế nào? — Theo lý-thuyết của ta thế nào là linh thiêng? — Nói qua về lý-thuyết sinh hóa của ta.
2. Nhặt (lặt) trong bài văn này những đoạn nào là thống-thiết, là hùng-hồn? — Tác-giả dùng những cách gì để làm cho người nghe phải cảm-động, kích-thích (thành-thực, ký-ức)? Tại sao ta đọc bài văn này thấy cảm-động kích-thích? Có phải vì lòng thành-thực và mối cảm-tình của tác-giả chính là một người chủ-động trong các việc kể trong bài này không?
3. Cứ xem bài văn này thì một bài văn-tế hay khác các bài văn lề-lối tán-tụng vì những điều gì?
BÀI TUỒNG
Lối tuồng xưa của ta là lối vận-văn. Thường là trích lấy một việc trong lịch-sử hay trong truyện xưa, đặt thành hồi, thành cảnh, diễn thành lời nói của người xưa để thuật lại sự-trạng tính-tình của các vai trong tấn tuồng. Trong lối tuồng cũ của ta không theo phép “tam nhất-chí” (règle des trois unités) như lối tuồng tây, thường nhiều bản kể công việc sẩy ra trong mấy năm trời ở nhiều nơi nhiều chỗ.
Gần đây mới có người soạn vở tuồng theo lối văn xuôi. Sau đây xin kể qua thể-cách lối tuồng cũ của ta.
Trong lối tuồng ta có nhiều giọng nói. Thường một vai mới ra đọc một vài câu gọi là câu xướng hay câu bạch, thường đặt theo lối thơ. Nói chuyện kể việc gọi là câu nói, đặt mỗi câu 4, 5 chữ hoặc 6, 7 chữ đối nhau, cứ chữ cuối câu thứ nhì tiếp vần xuống chữ cuối câu thứ ba mà câu cuối thường hạ tiếng trắc. Nói dứt lời thường hát một vài câu gọi là câu vãn: câu vãn thường láy lại mấy tiếng cuối câu trên, rồi hạ xuống một hai câu lục-bát. Đọc thơ gọi là ngâm. Gặp lúc buồn và sầu thảm đọc mấy câu gọi là câu than dùng lối thơ hay là lối lục-bát. Gặp lúc khoan-khoái thảnh-thơi đọc mấy câu gọi là câu khách thường dùng lối phú đặt bằng chữ nho. Hát cho bổ ý câu nói hay thi hành câu nói gọi là loạn, hoặc dùng lối thơ, hoặc dùng lối phú.
100 — THÀNH BÌNH-ĐỊNH CÙNG NHAU BA TỬ TIẾT
TIỂU DẪN. — Coi việc ông Võ-Tính và ông Ngô-tòng-Chu tử tiết ở đoạn tiểu-dẫn về bài văn-tế hai ông, tr. 130.
(Ông Võ-Tính đương ngồi bàn việc cùng hai ông Ngô-tòng-Chu và Nguyễn-tấn-Huyên, có tướng-tá đến trình rằng lương thực đều hết cả, ông bèn nói:)
Võ-Tính viết. — (Nếu như vậy) nay nhất đán sự cơ tương bách, e tam quân tính mạng nan toàn; mình ta an giấc suối vàng, cho quân sĩ thoát vòng mũi bạc.
Hựu viết. — (Ới quan Phó-soái, tôi nói thiệt cùng người, như tôi bây giờ) lầu tám góc đành chôn lửa đỏ, cửa chín lần 1 ngỏ giải lòng đan; (tôi nghĩ rằng quân giặc nó giết thì nó chỉ giết một mình tôi mà thôi, bởi vậy cho nên) người, văn-quan, lo lấy tự toàn, tôi, võ-tướng, đà cam chịu thác.
Ngô-tòng-Chu viết. — (Dạ, thưa quan Nguyên-soái dạy làm vậy, nhưng rứa mà tôi nghĩ rằng văn võ cũng là tôi Triều-đình cả mà tới nay) người đã không úy tử, tôi cũng quyết quyên sinh; do lai văn võ lưỡng đồ, đồng thị tôn thân nhất niệm 2.
Võ-Tính viết. — Hảo trượng-phu chi chí khí (a)
Ngô-tòng-Chu viết. — Tôi xin lui.
Ngô-tòng-Chu vào.
Võ-Tính viết. — (Tổng-binh Nguyễn-tấn-Huyên, như ta cùng ngươi lâm cơ hoạn nạn, không có lẽ rằng hai ta cùng chết cả, một người mất thì phải một người còn, cũng bởi vì) nước còn đương nhiều nạn, tôi âu dễ mấy người; ta đã đành hết đạo làm tôi, ngươi cũng phải dành mình giúp chúa.
Nguyễn-tấn-Huyên viết. — (Dạ, dám thưa quan Nguyên-soái, như người dạy làm vậy, nhưng rứa mà còn thì ta còn với nhau, mất thì ta mất với nhau; nếu mà kẻ còn người mất như thế sao đành mà) tôi hết lòng với chúa, tớ giả nghĩa cùng thầy, (như tôi bây giờ) tử sinh quyết ở phen này, giúp-giập thiếu gì người khác.
Võ-Tính viết. — Hảo nam-tử chi hung khâm (a).
Hựu viết. — Hai người ta quyết kế, lầu Bát-giác sửa sang; củi khô thuốc súng sẵn sàng, ba ngày sẽ lên đàn hỏa (a).
Đều vào. — Ngô-tòng-Chu ra.
Ngô-tòng-Chu viết. — (như ta nay) thân quản gì lầm cát, lòng đối với giang-san; dẫu không tài dược mã khóa an 3, chẳng kém kẻ thao chùy bỉnh tiết 4; chí này đành đã quyết, (quân), độc-dược khả tương lai.
Quân mang thuốc độc lại.
Ngâm viết. — (Xưa nay ai cũng nói văn-thần úy tử, nay ta là văn-thần, nào ta có sợ chết đâu mà). Này thực gan già chẳng phải non, (Như ta chết làm vậy cũng là muốn trước là trả nghĩa cho vua, sau là đền ơn cho nước, bởi vậy cho nên) Cứng như vàng đá đỏ như son.
(Thuốc này là thuốc độc hè) Thuốc này xin chớ cho là độc.
(Bởi ta có chết đi nữa cũng là được thơm danh về sau, thế thì uống vào chẳng là ngon ru) Danh tiết mùi thơm chắc của ngon.
Ngô-tòng-Chu uống thuốc độc rồi tạ thế. — Quân ra.
Báo viết. — (Dạ dạ) quan Hiệp-trấn đã mất rồi.
Võ-Tính nghe báo vội-vàng chạy ra.
Võ-Tính viết. — (Nào ở đâu nào . . . . . quan Hiệp-trấn đã mất thiệt rồi nọ, như mầng ri) Khóc vì tình bầu-bạn, mừng vì nghĩa vua tôi, khen cho xem thác như chơi, tiếc chẳng đợi ta ít nữa.
Than rằng: (hiền huynh ôi!) Ai là không thác, đạo phải cho tròn; thương thay hiền-hữu, lòng đỏ như son; vì nòi, vì giống, vì nước, vì non; dẫu nghìn năm nữa, bia miệng không mòn.
Hựu viết. — Cám thương nghĩa cũ, mai táng đã an; cách hai ngày ta sẽ đăng đàn (quân), truyền chư tướng đồng lai hội diện.
Đem xác ông Ngô-tòng-Chu vào rồi các hàng chư tướng đều ra.
Hựu viết. — (Chư tướng) tờ này hiển thị, khắp các quan binh; (ta xin cám ơn các ông nghe) từ khi ta trấn thủ cô thành, nhờ tướng sĩ hết lòng trung phẫn; nay binh bì thực tận, mà lực kiệt thế cùng; (ta nghe lời cổ-ngữ có nói rằng:) « Thành tồn dữ tồn, thành vong dữ vong » 5, (nhưng rứa mà ta dẫu có chết đi nữa, không có để giặc nó thấy mặt ta đâu, bởi vậy cho nên) thành này thệ dữ câu vong, giặc nọ bất dung kiến diện; (tướng-quân Nguyễn-văn-Thịnh nghe ta dặn), gửi Tây-tướng phong thư nhất phiến, ta mất rồi ngươi khá giao lai; (thôi thôi) xin từ giã mọi người, (Nguyễn-tấn-Huyên) sẽ lên lầu đồng tọa.
Võ-Tính giao thư cho Nguyễn-văn-Thịnh rồi cùng Nguyễn-tấn-Huyên ngồi trên lầu. — Khi ngồi trên lầu thì Võ-Tính miệng hút thuốc lá.
Chư Tướng đồng viết. — Trông thấy lầu cao tám góc, nhìn qua củi chất tứ bề; xương đồng da sắt khôn bì, dạ ngọc gan vàng mấy kẻ.
Đồng vãn viết. — Dạ ngọc gan vàng mấy kẻ, tấm lòng này, hầu dễ đan thanh; cô thân đối với cô-thành, dẫu nghìn năm nữa thơm danh vẫn còn.
Võ-Tính viết. — Thiên niên y thành quách, vạn cổ thử giang san; thương thay trăm họ lầm than, hầu dễ một mình êm mát.
Vãn viết. — Hầu dễ một mình êm mát, quyết phen này ngọc nát vàng tan; mình này đối với giang san, may ra miếu xã lại hoàn như xưa.
Chư Tướng đồng viết. — Sư sinh chân thiên cổ, oanh-liệt tú nhất trường 6; (như anh em tôi bây giờ) xét mình luống những hổ hang, nhớ bạn càng thêm thương tiếc.
Đồng vãn viết. — Nhớ bạn càng thêm thương tiếc, nghĩ sinh ly tử biệt mà đau; hai hàng giọt lụy tuông châu, trông ra nước thảm non sầu biết bao.
Nguyễn-tấn-Huyên viết. — Trên hết ngay với chúa, dưới trọn nghĩa cùng thầy; thủy chung mong trả ơn dầy, ly biệt càng thương nghĩa cũ.
Vãn viết. — Ly biệt càng thương nghĩa cũ, tấm lòng này biết thuở nào khuây; âm dương hai ngả chia tay, tồn vong âu cũng thảo ngay một niềm.
Võ-Tính viết. — (Nguyễn-văn-Biện) truyền phóng hỏa.
Nguyễn-văn-Biện lấy lửa, xong rụt-rè không dám đốt rồi bỏ mà chạy.
Hựu viết. — (Thôi thôi xin các ông lui ra đừng khóc làm chi nữa mà) một lời xin từ giã, các tướng phải lui xa; tàn thuốc ném ra, tức thời phóng hỏa.
Đoạn nói rồi, ông Võ-Tính ném tàn thuốc lá ở điếu thuốc đang hút xuống, tức thì thuốc súng bén lửa lên.
Chư Tướng đồng viết. — Chân thống thiết, chân thống thiết; tối ai liên, tối ai liên; linh khí dĩ qui thiên, ai thanh hề chấn địa 7.
Than rằng: Hai đống gio[115] tàn, bốn bề lửa đỏ; còn biết lấy ai nương dựa, để mà giúp nghiệp gian nan.
Hoàng-cao-Khải[116] (Tượng kỳ khí xa, hồi thứ nhì, cảnh thứ năm).
CHÚ THÍCH. — 1. Là cửa nhà vua thường xây chín bực, chữ nho là cửu trùng khuyết. — 2. Câu này nghĩa là: xưa nay quan văn quan võ hai đường, đều là một lòng tôn vua. — 3. Dược mã khóa an 躍 馬 跨 鞍 là nhẩy ngựa lên yên. Cách quan võ. — 4. Thao chùy là cầm dùi, theo tích ông Trương-Lương, vì nhà Hán báo thù nhà Tần, mượn một người lực-sĩ cầm dùi đánh vua Tần Thủy-hoàng. Bỉnh tiết là cầm cờ tiết, theo tích ông Tô-Vũ nhà Hán sang sứ nước Hung-nô, phải vua nước ấy giam mà giữ cờ tiết nhà Hán đến 15 năm mới về. — 5. Thành còn cùng còn, thành mất cùng mất. — 6. Nghĩa là: thật nghìn đời mới có hai thầy trò ấy (chỉ ông Tính và ông Huyên), cùng nhau đều chết một cách oanh-liệt. — 7. Nghĩa là khí thiêng đã lên trời (ý nói chết rồi), tiếng khóc chừ động đất.
KINH-NGHĨA
Trong các lối văn không vần của ta có nhiều lối cũng phải theo khuôn-khổ phép-tắc riêng, chứ không được tự-do như lối văn xuôi. Các lối ấy như kinh-nghĩa, văn-sách, tứ-lục, đối-liên, v. v. thường dùng trong việc thi cử của ta hồi xưa.
I. Kinh-nghĩa là gì? — Kinh-nghĩa là thích nghĩa kinh truyện, vì thường trích một vài câu trong kinh truyện ra đầu bài, mình phải thay lời người xưa mà thích giải cho rõ ràng. Bởi vậy cũng gọi là tinh nghĩa.
II. Phép làm kinh-nghĩa. — Lối kinh-nghĩa thông dụng nhất là lối bát-cổ (nghĩa là có tám vế). Các đoạn mạch trong lối bát-cổ như sau này:
Bát-cổ: tám vế đối nhau
{
1.
Phá-đề
{
Lời mình nói để giải qua nghĩa đầu bài.
2.
Thừa-đề
Tự đoạn sau trở đi phải thay lời người xưa mà nói.
3.
Khởi-giảng (préambule) nói khai mào để giảng ý đầu bài.
4.
Khai-giảng (entrée en matière) có hai vế đối nhau mở ý đầu bài ra. Cuối đoạn này có một câu hoàn đề (position du sujet) láy lại câu đầu bài.
5.
Trung-cổ (définition) có hai vế đối nhau, thích thực rõ nghĩa đầu bài.
6.
Hậu-cổ (discussion) có 2 vế đối nhau, nghị-luận rộng ý đầu bài.
7.
Kết-cổ (conclusion) có 2 vế đối nhau, tóm tắt ý đầu bài.
Cuối đoạn này có một câu thúc-đề thắt lại đầu bài là hết.
101 — MẸ KHUYÊN CON LÚC VỀ NHÀ CHỒNG
ĐẦU BÀI: Mày về nhà chồng, phải kính phải răn, chớ trái lời chồng. (Chữ kinh Lễ: vãng chi nhữ gia, tất kính tất giới, vô vi phu tử. 往 之 女 家。必 敬 必 戒。無 違 夫 子。).
BÀI LÀM: (Câu phá) Khuyên con giữ đạo làm dâu, bà già nghĩ đã đến lắm vậy.
(Câu thừa) Phù 1 con dại cái mang 2, lẽ xưa nay vốn thế. Khuyên con phải kính trọng chồng, há chẳng phải đạo lắm ru!
(Khởi giảng) — Mẹ đưa con ra cửa, ý nghĩ rằng: trong phối định ba giường 3 đạo cả, thực là muôn hóa chi theo ra; mà hôn-nhân hai họ giao vui, há để một lời chi trách đến.
(Câu lĩnh mạch) — Mẹ đưa con ra, mẹ càng nghĩ lắm, con ạ!
(Khai giảng vế trên) — Con, con mẹ, mà dâu, dâu người vậy! Hoặc lời ăn lời nói chi ra tuồng, tức lành đồn xa, dữ đồn xa, ai bảo rằng con chi còn nhỏ.
(Khai giảng vế dưới) — Dâu, dâu người, mà con, con mẹ vậy! Hoặc trong cửa trong nhà chi có chuyện, tức yêu nên tốt, ghét nên xấu, rồi ra trách mẹ chi không răn.
(Câu hoàn-đề) — Về nhà chồng phải kính phải răn, chớ trái lời chồng, con nhé!
(Trung-cổ vế trên) — Lúc ở nhà nhờ mẹ nhờ cha, về nhà chồng nhờ chồng nhờ con nhé! Khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời, chớ bắt chước người đời xỏ chân lỗ mũi 4 chi lăng nhăng. Nhủ này con, nhủ này con: đi đến nơi về đến chốn, việc nhà việc cửa cho siêng-năng, hỏi thì nói, gọi[117] thì thưa, thờ mẹ thờ cha cho phải lễ. Kính lấy đấy! Răn lấy đấy! Liệu học ăn, học nói, học gói, học mở; khi anh nó hoặc ra xô xát chi lời, cũng tươi, cũng đẹp, cũng vui cười, chớ như ai nhà ma, mà hoặc con cà con kê 5 chi kể lể.
(Trung-cổ vế dưới) — Lúc ở nhà là mẹ là con, về nhà chồng là dâu là con nhé! Khôn cho người giái 6, dạu cho người thương, chớ bắt chước người thế mặc áo qua đầu chi khủng-khỉnh. Nghe chưa con? Nghe chưa con? Ăn có nơi, nằm có chốn, lời ăn nết ở cho ra tuồng; gọi thì dạ, bảo thì vâng, thờ mẹ thờ cha cho phải đạo. Kính vậy thay! Răn vậy thay! Chớ cậy khôn, cậy khéo, cậy duyên, cậy tài; khi anh nó hoặc nổi bầng-bầng chi sắc, thì lạy thì van thì lễ phép, đừng học chi những tuồng đĩ-thõa, mà hoặc dây mơ rễ má 7 chi lôi thôi.
(Hậu-cổ vế trên). — Đời có kẻ xem chồng như đứa ăn đứa ở, thậm đến điều mày tớ chi khinh. Chẳng biết rằng: ngu si cũng thể chồng ta, dẫu rằng khôn khéo cũng ra chồng người. Chẳng suy chẳng nghĩ, lại ra điều cả vú lấp miệng em 8, sao chẳng biết xấu chàng hổ ai 9 chi lý! Mẹ khuyên con giữ đạo cương-thường, khôn hèn cũng chịu, hay dở cũng đành, chớ hoặc sinh vênh-vểnh chi môi; khi anh nó giận quá sinh xằng, mẹ con ắt phải mắc bèo trôi 10 chi tiếng.
(Hậu-cổ vế dưới). — Đời có kẻ giận chồng mà đánh con đánh cái, thậm đến điều mày tao chi quá. Chẳng biết rằng: khôn ngoan cũng thể đàn-bà, tuy rằng vụng dại cũng là đàn-ông. Bạ ăn bạ nói, lại ra điều múa rìu qua mắt thợ, 11 sao chẳng biết già đòn non lẽ chi cơ? Mẹ khuyên con giữ nết thảo hiền, vọt roi cũng chịu, yêu thương cũng nhờ, chớ hoặc lộ xầm-xầm chi mặt; khi anh nó nói dai càng thêm chuyện, cha con ắt phải mang vớ cọc 12 chi cười.
(Kết-cổ). — Con ơi, nhập gia tùy tục, 13, mẹ nhủ cho đạo vợ chi thường; xuất giá tòng phu, 14 con phải giữ nhà chồng chi phép.
(Thúc-đề). — Thôi mẹ về!
Lê-quí-Đôn[118] (?)
CHÚ THÍCH. — 1. Tiếng đưa đẩy như chữ « ôi » của ta. — 2. Câu tục-ngữ (trong bài này các câu in chữ nghiêng là tục-ngữ hoặc phong-dao cả): con dại mẹ (cái là mẹ) mang tiếng. — 3. Phối định là nghĩa vợ chồng lấy nhau. Ba giường là dịch chữ tam cương, (xem câu chú-thích (2) về bài thơ Vịnh bà Phan-thị-Thuấn ở trang 33,) ý câu này nói: đạo vợ chồng là gốc trong tam-cương. — 4. Tục-ngữ, ý nói: tính khinh nhờn (lờn), thói lăng loàn. — 5. Kể lể lôi thôi. — 6. Chữ giái này nghĩa là trọng nể. — 7. Nói bậy nói nhảm. — 8. Tục-ngữ: nói ý lăng-loàn hiếp nạt. — 9. Tục-ngữ: ý nói làm xấu chồng thì mình cũng hổ (mắc cở) lây, có vinh dự gì. — 10. Tục-ngữ: mẹ vợ như bèo trôi sông, ý nói khinh miệt. — 11. Tục-ngữ: nói ý hợm-hĩnh, kiêu-kỳ. — 12. Tục-ngữ: Bố vợ thì vớ cọc chèo; ý nói đãi bố vợ không ra gì cả. — 13. Nghĩa là vào nhà nào phải theo thói nhà ấy. — 14. Nghĩa là đi lấy chồng phải theo chồng.