Trang chủ Viện

Truyện Kiều — Nguyễn Du

Ân oán vừa xong thì bà Giác-Duyên nói tiên tri với Túy-Kiều rằng: trong năm năm nữa sẽ gặp nhau tại sông Tiền-Đường

Chương 9 / 10

Ân oán vừa xong thì bà Giác-Duyên nói tiên tri với Túy-Kiều rằng: trong năm năm nữa sẽ gặp nhau tại sông Tiền-Đường.

Việc nàng báo phục vừa rồi,
Giác-duyên vội đã gởi lời từ qui.
Nàng rằng: thiên tải nhứt thì,[589]
cố nhơn đã dễ mấy khi bàn hoàn.
Rồi đây bèo hiệp mây tan,
biết đâu hạc nội,[590] mây ngàn là đâu.
Sư rằng: cũng chẳng mấy lâu,
trong năm năm lại gặp nhau đó mà.
Nhớ ngày hành ước[591] phương xa,
gặp sư Tam-hạp vốn là tiên tri.
Bảo cho hội-hạp chi kỳ,
năm nay là một, nữa thì năm năm.
Mới hay tiền định chẳng lầm,
đã tin đều trước, ắt nhằm đều sau.
Còn nhiều ân ái vuối nhau,
cơ-duyên nào đã hết đâu vội gì?
Nàng rằng: tiền định tiên-tri,
lời Sư đã dạy, ắt thì chẳng sai.
Họa bao giờ có gặp người,
vì tôi cậy hỏi một lời chung thân.[592]
Giác-duyên vâng dặn ân cần,
tạ từ thoát đã dời chân cõi ngoài.

Túy-Kiều đền ân báo oán rồi, ra lạy tạ ơn Từ-Hải.

Nàng từ ân oán rạch-ròi,
biển oan dường đã vơi-vơi cạnh lòng[593]
Tạ ơn lạy trước Từ-công:
chút thân bồ-liễu nào mông có rày?
Trộm nhờ sấm-sét ra tay,
tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi.
Chạm xương ghi dạ xiết chi,
dễ đem gan ốc đền nghì trời mây?[594]
Từ rằng: quốc sĩ xưa nay,
chọn người tri kỷ một ngày được chăng?
Anh-hùng tiếng đã gọi rằng:
giữa đàng dẫu thấy bất bằng mà tha?
Huống chi việc cũng việc nhà,
lựa là thâm tạ mới là tri ân?
Xót nàng còn chút song thân,
bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa.
Sao cho muôn dặm một nhà,
cho người thấy mặt là ta cam lòng.
Vội truyền sửa tiệc quân trung,
muôn binh ngàn tướng hội đồng tẩy oan.[595]
Thừa cơ trước chẻ đá tan,[596]
binh oai từ ấy sấm ran trong ngoài.
Triều-đình riêng một góc trời
sánh hai văn võ rạch đôi sơn hà.
Đòi cơn gió quạt mưa sa,
huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam.
Phong trần mài một lưỡi gươm,
những loài giá áo túi cơm[597] sá gì?
Nghênh-ngang một cỏi biên thùy,
thiếu gì cô quả[598] thiếu gì bá vương?
Trước cờ ai dám tranh cường?
năm năm hùng-cứ một phương hải Tần.

Vua sai Hồ-tông-Hiến ra đánh Từ-Hải, mà liệu thế đánh không lại, nên sai sứ đem dâng lễ vật cho Túy-Kiều và Từ-Hải khuyên ra hàng đầu thú tội. Từ-Hải dùng dằng không chịu. Túy-Kiều năn-nỉ nói thiệt hơn, Từ Hải bèn nghe lời bó giáo hàng-đầu.

Có quan tổng-đốc trọng thần,
là Hồ-tông-Hiến kinh luân gồm tài.
Giẩy xe vâng chỉ đặc sai,
tiện nghi bát tiểu[599] việc ngoài đổng nhung.[600]
Biết Từ là đấng anh-hùng,
biết nàng cũng dự quân trung luận bàn.
Đóng quân làm chước chiêu an,
ngọc vàng gấm vóc sai quân thuyết hàng.
Lại riêng một lễ với nàng,
hai tên thể nữ ngọc vàng ngàn cân.
Tin vào gởi trước trung quân,
Từ-công riêng nghĩ mười phân hồ đồ:[601]
Một tay gầy-dựng cơ-đồ,
bấy lâu biển Sở sông Ngô tung-oành.
Bó thân về với triều-đình,
hàng thần lơ-láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm buộc-trói lấy nhau,
vào lòn ra cúi công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên-thùy,
sức nầy đã dễ làm gì được nhau.
Đục trời khuấy nước mặc dầu,
dọc ngang nào biết trên đầu có ai?
Nàng thì thật dạ tin người,
lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu.
Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
đã nhiều lưu-lạc, lại nhiều gian-chuân.[602]
Rằng: nay chịu tiếng vương thần,
thinh-thinh đàng cái, thanh vân hẹp gì?
Công tư vẹn cả hai bề,
dần-dà rồi sẽ liệu về cố-hương.
Cũng ngôi mạng-phụ đường-đường,[603]
nở-nang mày-mặt rỡ-ràng mẹ cha.
Trên vì nước dưới vì nhà,
một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Chẳng hơn chiếc bá giữa dòng,
E-dè sóng gió, hãi hùng cỏ hoa.
Nhân khi bàn-bạc gần xa,
thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào.
Rằng: trong thánh đế dồi-dào,[604]
rưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu.
Bình-thành[605] công-đức bấy lâu,
ai-ai cũng đội trên đầu xiết bao?
Gẫm từ dấy việc binh-đao,
đống xương vô định đã cao hơn đầu.[606]
Làm chi để tiếng về sau,
ngàn năm ai có khen đâu Hoàng-sào?[607]
Sao bằng lộc trọng quyền cao,
công-danh ai dắc lôi nào cho qua?
Nghe lời nàng nói mặn-mà,
thế công Từ mới trở ra thế hàng.
Chỉnh nghi tiếp sứ vội-vàng,
hẹn kỳ thúc giáp,[608] quyết đàng giải binh.
Tin lời thành hạ yếu minh,[609]
ngọn cờ ngơ ngác,[610] trống canh sải-trường.
Việc binh bỏ chẳng giữ-giàng,
vương sư[611] dòm đã tỏ-tường thật hư.

Hồ-tông-Hiến, dùng kế tiền sứ hậu binh, nên Từ-Hải tức mình bị bắn chết mà không ngã, nhờ có Túy-Kiều ra khóc-lóc thì mới ngã.

Hồ-công quyết kế thừa cơ,
lễ tiền binh hậu,[612] khắc kì giáp công.
Kéo cờ chiêu-phủ tiên-phong,
lễ-nghi giàn trước, vác-đồng phục sau.
Từ-công hơ-hững biết đâu,
đại quan lễ phục, ra đầu cữa viên.[613]
Hồ-công ám hiệu[614] trận tiền,
ba bề phát súng bốn bên kéo cờ.
Đang khi bất-ý chẳng ngờ,
hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn.[615]
Tử sinh liều giữa trận tiền,
dạn-dày cho biết gan liền tướng quân.
Khí thiêng khi đã về thần,[616]
nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng.[617]
Trơ như đá vững như đồng,
ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời,
Quan quân truy sát đuổi dài,
ù ù sát khí ngất trời ai đang.
Trong hào ngoài lũy tan-hoang,
loạn quân vừa dắc tay nàng đến nơi.
Trong vòng tên đá bời-bời,
thấy Từ còn đứng giữa trời trơ-trơ
Khóc rằng: trí dõng có thừa,
bỡi nghe lời thiếp đến cơ-hội nầy!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
thà liều sống chết một ngày với nhau.
Dòng thu như chảy mạch sầu,
dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên.
Lạ thay oan khí tương triền,[618]
nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra!
Quan quân kẻ lại người qua,
xót nàng sẽ lại vực ra dần-dần.

Quân bắt Túy-Kiều đem vô, Hồ-tông-Hiến hỏi Túy-Kiều muốn xin đi-gì với Triều-đình vì có công đã giúp lời cho Từ-Hải ra đầu. Túy-Kiều bẩm không có công gì, một xin xác Từ-Hải đem về chôn.

Đem vào đến trước trung quân,
Hồ-Công thấy mặt ân-cần hỏi-han.
Rằng: nàng chút phận hồng nhan,
gặp cơn binh-cách[619] nhiều nàn cũng thương.
Đã hay thành toán miễu đường,[620]
giúp công cũng có lời nường mới nên.
Bây-giờ sự đã vẹn-tuyền,
mặc lòng nghĩ lấy muốn xin bề nào?
Nàng càng đổ ngọc tuôn dào,
ngập-ngừng mới gởi thấp cao sự lòng.
Rằng: Từ là đứng anh-hùng,
dọc ngang trời rộng, vẫy vùng biển khơi.
Tin tôi nên quá nghe lời,
đưa thân bá chiến làm tôi triều-đình.
Ngỡ là phu quí thê vinh,[621]
ai ngờ một phút tan-tành thịt xương.
Năm năm trời biển ngang-tàng,
đem mình đi bỏ chiến-tràng như không!
Hại chồng kể lấy làm công,
kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu!
Xét mình công ít tội nhiều,
sống thừa tôi đã nên liều mình tôi!
Xin cho tiện thổ[622] một doi,
gọi là đắp-điếm lấy người tử sinh.
Hồ-Công nghe nói thương tình,
truyền cho kiểu táng di hình[623] bên sông.

Hồ-tông-Hiến mở tiếc đải quan quân tướng sĩ, và đòi Túy-Kiều vào đờn chơi một đêm. Sáng ra giựt mình sợ e tội với Triều-đình, nên đem Túy-Kiều gả cho Thổ-quan đất ấy.

Trong quân mở tiệc hạ công,
xôn-xao tơ trúc, hội đồng quân quan.
Bắt nàng thị yến dưới màn,
dở say lại ép vặn đàn nhặt tâu.
Một cung gió thảm mưa sầu,
bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay.
Ve kêu vượn hót nào tày,
lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu.
Hỏi rằng: nầy khúc ở-đâu?
nghe ra muôn thảm ngàn sầu lắm thay?
Thưa rằng: bạc-phận khúc nầy,
phổ vào[624] đờn ấy những ngày còn thơ.
Cung đờn lựa những ngày xưa,
mà gương bạc-mạng bây-giờ là đây.
Nghe càng ngấm, ngấm càng say,
lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình!
Dạy rằng: hương hỏa ba sinh,
dây loan xin nối kim lành cho ai.[625]
Thưa rằng: chút phận lạc loài,
trong mình nghĩ đã có người thác oan.
Còn chi nữa cánh hoa tàn,
tơ lòng đã dứt dây đờn Tiểu-lân.[626]
Rộng cho còn mảnh hồng-quần,
hơi tàn được thấy góc phần là may:
Hạ công chén đã quá say,
Hồ-công đến lúc rạng ngày nhớ ra.
Nghĩ mình phương-diện quốc-gia,
quan trên nhắm xuống, người-ta trông vào.
Phải tuồng trăng gió hay sao?
sự nầy biết tính thế nào được đây?
Tảo-nha[627] vừa buổi rạng ngày,
quyết tình Công mới đoán ngay một bài:
Lệnh quan ai dám cải lời,
ép tình mới gán cho người thổ-quan.
Ông-tơ thật nhẽ đa-đoan,[628]
xe tơ khen khéo vơ quàng vơ xiên.
Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền,
lá màn xủ thấp, ngọn đèn khêu cao.
Nàng càng ủ liễu phai đào,
trăm phần nào có phần nào phần tươi?
Đành thân cát dập sóng vùi,
cướp công cha mẹ, thiệt đời thông-minh.
Chơn trời mặt biển lênh-đênh,
nắm xương biết gởi tử-sinh chốn nào?
Duyên đâu ai dắc tơ đào,
nợ đâu ai đã dắc vào tận tay?
Thân sao thân đến thế nầy!
còn ngày nào cũng dơ ngày ấy thôi.
Đã không biết sống là vui,
hoài thân nào biết thiệt-thòi là thương!
Một mình cay-đắng trăm đường,
thôi thì nát ngọc tan vàng là thôi.

Thổ-quan rước Túy-Kiều đi đến sông Tiền-đường, liền nhớ lại lời tiên-tri bà Giác-sư và lời lúc thần mộng Đạm-Tiên đã nói, bèn đâm đầu nhảy xuống sông.

Mảnh gương đã ngậm non đoài,[629]
một mình luống những đứng ngồi chửa xong.
Triều[630] đâu nổi tiếng đùng đùng,
hỏi ra mới biết rằng sông Tiền-đường.
Nhớ lời thần mộng rõ-ràng,
nầy thôi hết kiếp đoạn-tràng là đây:
Đạm Tiên nàng hởi có hay!
hẹn ta thì đợi dưới nầy rước ta.
Dưới đèn sẵn bức tiên-hoa,[631]
một thiên tuyệt bút[632] gọi là để sau.
Cửa bòng vội mở rèm châu,
trời cao biển rộng một màu bao-la.[633]
Rằng: Từ-công hậu đãi ta,
chút vì việc nước mà ra phụ lòng.
Giết chồng mà lại lấy chồng,
mặt nào còn lại đứng trong cõi đời?
Thôi thì một thác cho rồi,
tấm lòng phú mặt trên trời dưới sông.
Trông vơi con nước mênh-mông,
đem mình gieo xuống giữa dòng tràng-giang.
Thổ-quan theo vớt vội-vàng,
thì đà đắm ngọc chìm hương mất rồi.
Thương thay cũng một thân người!
khéo thay mang lấy sắc tài làm chi?
Những là oan-khổ lưu-ly,[634]
chờ cho hết kiếp còn gì là thân?
Mười lăm năm bấy nhiêu lần,
làm gương cho khách hồng-quần thử soi.
Đời người đến thế thì thôi,
trong cơ dương cực âm hồi không hay.[635]
Mấy người vì ngãi xưa nay,
trời làm chi đến lâu ngày càng thương?
Giác-duyên từ tiết giã nàng,
treo bầu quảy níp rộng đàng vân du.[636]
Gặp bà Tam-hạp đạo cô,
thung-dung hỏi hết nhỏ to sự nàng.
Người sao hiếu nghĩa đủ đàng?
kiếp sao mắc những đoạn tràng thế thôi?
Sư rằng: họa phước đạo trời,
cội nguồn cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng tại ta,
tu là cội phước, tình là dây oan.[637]
Túy-kiều sắc-sảo khôn-ngoan,
vô duyên là phận hồng-nhan đã đành.
Lại mang lấy một chữ tình,
khư-khư mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong-dong,
ở không yên-ổn, ngồi không vững-vàng.
Ma dắc lối, quỉ đem đàng,
lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi.
Hết nạn ấy đến nạn kia,
thanh-lâu hai lượt thanh-y hai lần.[638]
Trong vòng giáo dựng gươm trần,
kề răng hùm sói, gởi thân tôi-đòi.
Giữa dòng nước chảy sóng dồi,
trước hàm rồng cá, gieo mình thủy tinh.
Oan kia theo mãi vuối tình,
một mình mình biết, một mình mình hay.
Làm cho sống đọa thác đày,
đoạn trường cho hết kiếp nầy mới thôi.
Giác-duyên nghe nói rụng-rời,
một đời nàng hỡi thương ôi còn gì!
Sư rằng: song chẳng hề chi,
nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều.
Xét trong tội-nghiệp Túy-kiều!
mắc đều tình-ái khỏi đều tà-dâm.[639]
Lấy tình thâm, trả ngãi thâm,
bán mình đã động hiếu tâm đến trời.
Hại một người cứu muôn người,
biết đàng khinh trọng, biết lời phải chăng.
Thửa công đức ấy ai bằng?
túc khiên đã rữa rưng-rưng sạch rồi.
Khi nên trời cũng chìu người,
nhẹ-nhàng nợ trước, đền-bồi ơn sau.
Giác-duyên dầu nhớ nghĩa nhau,
Tiền-đường thả một vi lau[640] rước người.

Bà Giác-duyên nghe lời tiên-tri bà Giác-sư đã nói trước nên đã tới che lều ở đó sớm tối mướn chài, chài lên chài xuống hoài, khi ấy mới chài được Túy-Kiều vớt lên đem về am nuôi.

Trước sau cho vẹn một lời,
duyên ta mà cũng phước trời chi không.
Giác-duyên nghe nói mầng lòng,
lân-la tìm thú bên sông Tiền-đường.
Đánh tranh nhóm nóc thảo đường,[641]
một gian nước biếc, mây vàng chia đôi.[642]
Mướn năm ngư-phủ hai người,
đóng thuyền chực bến, kết chài giăng sông.
Một lòng chẳng quản mấy công,
khéo trong gặp-gỡ, cũng trong chuyển-vần.[643]
Kiều từ gieo xuống dòng ngân,
nước xuôi bỗng đã trôi dần tạn nơi.
Ngư-ông cất lưới vớt người,
gẫm lời Tam-hiệp rõ mười chẳng ngoa.
Trên mai ướt lột áo là,[644]
tuy dầm hơi nước, chửa lòa bóng gương.
Giác-duyên nhận thật mặt nàng,
nàng còn thíp-thíp, giấc vàng chửa phai.
Mơ-màng phách quế hồn mai,
Đạm-tiên thoát đã thấy người ngày xưa.
Rằng: tôi đã có lòng chờ,
mất công đã mấy năm thừa ở đây.
Chị sao phận mỏng đức dày,
kiếp nầy cũng vậy, lòng nầy dễ ai?
Tấm thành đã thấu đến trời,
bán mình là hiếu, cứu người là nhân.
Một mình vì nước vì dân,
dương-công[645] nhắc một đồng cân đã già.
Đoạn trường sổ rút tên ra,
đoạn trường phải đến để mà giã nhau.
Còn nhiều hưởng thọ về sau,
duyên xưa tròn-trặn phước sau dồi-dào.
Nàng còn ngơ-ngẩn biết sao,
Trạc-tuyền nghe tiếng gọi vào bên tai.
Giựt mình thoát tỉnh giấc mai,
bâng-khuâng nào đã biết ai mà nhìn.
Trong thuyền nào thấy Đạm-tiên?
bên mình chỉ thấy Giác-duyên ngồi kề.
Thấy nhau mầng-rỡ trăm bề,
dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư;[646]
Một nhà chung-chạ sớm trưa,
gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng.
Bốn bề bát-ngát mênh-mông,
triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau.[647]
Nạn xưa trút sạch làu-làu,
duyên xưa chửa dể biết đâu chốn nầy?
Nổi nàng tai-hại đã đầy,
nỗi chàng Kim-trọng bấy chầy mới thương!

Chú thích của bản in

  1. — Một ngàn năm mới gặp một lần, mà lật-đật vội-vã gì, ở lại chơi đã. ↩
  2. Hạc nội. — Như hạc ngoài đồng, như mây trên núi biết đâu mà tìm. ↩
  3. Hành ước. — Đi phổ khuyến. (Về thầy chùa thầy sãi. ↩
  4. — Cây bà hỏi cho rỏ trọn cái đời tôi làm sao? ↩
  5. — Đã phỉ lòng đền ơn trả oán. ↩
  6. — Gan ốc bao nhiêu mà đền nghì trời mây cho được. ↩
  7. — Ân oán báo đền rồi mở tiệc đãi các tướng, với quân binh. ↩
  8. Trước chẻ đá tan. — (Phá trước thạch lạn). — Đến đâu thắng đó, đánh đâu được đó. ↩
  9. Loài giá áo túi cơm. — (Nang bao phạn nang). Người hèn hạ không tài không trí gì. ↩
  10. Cô quả. — (Xưng cô đạo quả). Là tiếng quan lớn với vua nói về mình. Muốn làm thế gì, muốn dụng chức gì cũng được. ↩
  11. — Tiện nghi hành sự, sau bát, tiễn bộ. — Quyền ông Hồ-tông-Hiến. ↩
  12. Đỗng nhung. — Đem binh đi ↩
  13. Hồ-đồ. — Còn nghi ngại. ↩
  14. Gian-chuân. — Quẻ khốn.— Khốn khó, cực khổ. ↩
  15. — Mình đã về với Triều-đình thì cũng danh-giá tử-tế, vinh vang. ↩
  16. — Nhơn đức vua còn dồi-dào, đang thạnh lắm. ↩
  17. Bình-thành. — Kể từ Minh-thái-tổ khai sáng. ↩
  18. — Làm cớ cho người ta chết, không biết tông tích nó ở đâu. ↩
  19. Hoàng-sào. — Người làm loạn mất nhà Đường gây ra đời Ngũ-quỉ. ↩
  20. Thúc giáp. — Bó giáo mà đầu. ↩
  21. Thành hạ yếu minh. — Lời thề với nhau dưới thành. ↩
  22. Ngơ-ngác. — Ngã ngang ngã ngữa. — Sải-trường. — Trống canh đánh sơ-sài. ↩
  23. Quân sư. — Dáng binh vua. ↩
  24. — Tiền sứ, hậu binh. ↩
  25. — Mặc áo, đội mũ ra rước. ↩
  26. Ám hiệu. — Hô-công ra hiệu lệnh thầm cho quân đánh. ↩
  27. — Mạnh hổ nan địch quần hồ. ↩
  28. — Chết đi rồi. ↩
  29. Nhơn nhơn....— Chết đứng sựng đi đó, ai thấy cũng kinh. ↩
  30. Oan khí tương triền. — Khí oan nó buộc lấy nhau. ↩
  31. Binh-cách. — Lúc loạn-ly, giặc-giả. ↩
  32. Thành toán miễu đường. — Cái chước đã nên vì phước đức vua .... ↩
  33. Phu quí thê vinh. — Chồng sang thì vợ cũng sang. ↩
  34. — Xin cho đất mà chôn, phu-phỉ tình ngãi với nhau. ↩
  35. Kiểu táng di hình. — Đem chôn sơ sài đi cho rồi. ↩
  36. Phổ vào. — Sắp vô. ↩
  37. — Hồ-công say xoàng xoàng, nói với Túy-kiều rằng: Bây-giờ chồng chết rồi, để cho tao làm chồng thế cho. ↩
  38. Tiểu-lân. — Tiểu-liên, tên người đờn nam hay. ↩
  39. Tảo-nha. — Buổi hầu mai. ↩
  40. Đà-đoan. — Cắc-cớ. ↩
  41. — Mặt trời chen lặn. ↩
  42. Triều. — Thủy triều. — Nước lớn. ↩
  43. Bức tiên hoa. — Giấy để sẵn mà viết. ↩
  44. — Làm thơ bốn câu để lại. ↩
  45. Bao-la. — Bủa vây. — Mênh-mông. ↩
  46. Lưu ly. — Trói lìa. ↩
  47. Dương cực âm hồi. — Hết dương rồi thì âm trở về. ↩
  48. Vân du. — Chơi mây. — Đi tu. ↩
  49. — Tình ái là như dây oan nó ràng buộc lấy mình. ↩
  50. — Bị làm đĩ hai lần, một lần tại Tú-bà, một lần tại nhà Bạc-hạnh — Bị làm đầy tớ hai lần. (Làm con đòi thì phải mặc áo xanh, nên kêu là thanh-y): Một lần tại nhà bà Phu-nhơn là mẹ Hoạn-thơ, một lần nữa tại nhà con Hoạn-thơ. ↩
  51. — Mang đều tình ái thì có, mà cái bụng tà-dâm thì không. ↩
  52. Vi lau. — Xuồng nhỏ nhỏ. ↩
  53. Thảo-đường. — Nhà tranh. ↩
  54. — Một ngọn sông Tiền-đường nước xanh lẻo-lẻo, mà bóng mây thì vàng nửa che sông nửa che chùa....... ↩
  55. Chuyển-vần. — Mây trời. ↩
  56. Trên mai. — Trên mui. ↩
  57. Dương-công. — Thợ trời. — Trời. ↩
  58. Thảo lư. — Lều tranh. ↩
  59. — Đắp đổi tháng ngày, như nước lớn ròng. — Ngày nầy qua ngày kia, ở nơi chùa thanh-vắng quạnh-quẽ, lại gần sông, gần bến nước. ↩