Trang chủ Viện

Truyện Kiều — Nguyễn Du

Bà mẹ con Hoạn-thơ hành hà Túy-Kiều cho đến, rồi giao lại cho Hoạn-thơ đem về bên nhà nó

Chương 7 / 10

Bà mẹ con Hoạn-thơ hành hà Túy-Kiều cho đến, rồi giao lại cho Hoạn-thơ đem về bên nhà nó.

Mẹ con trò-chuyện lân-la,
phu nhơn mới gọi nàng ra dạy lời.
Tiểu-thơ dưới trướng thiếu người,
cho về bên ấy theo đòi đài trang.
Lãnh lời nàng mới theo sang,
biết đâu địa-ngục, thiên-đàng là đâu?
Sớm khuya khăn mặt, lược đầu,
phận con hầu giữ con hầu dám sai.
Phải đêm êm-ả[476] chiều trời,
trước tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày.
Lãnh lời nàng mới nhắc dây,[477]
nỉ-non thảnh-thót dễ say lòng người.
Tiểu-thơ xem cũng thương tài,
khuôn oai dường cũng bớt vài bốn phân.
Cửa người đày đọa chút thân,
sớm năn-nỉ bóng, đêm ngơ-ngẩn lòng.
Lâm-tri chúc nghĩa đèo-bòng,
nước, bèo đề chữ tương phùng kiếp sau.
Bốn phương mây trắng một màu,
trông vời cố quốc biết đâu là nhà.
Lần-lần tháng lụn ngày qua,
nỗi gần nào biết đàng xa thế nầy.
Lâm-tri từ thuở oan bay,[478]
phòng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân.
Mày xanh trăng mới in ngần,[479]
phần thừa hương cũ bội phần xót-xa.
Sen tàn mai lại chiếng hoa,[480]
sầu dài ngày vắn đông đà sang xuân.

Thúc-Sanh trở về thấy Túy-Kiều ở tại nhà vợ lớn là Hoạn-thơ, mà không dám nhìn; khi ấy mới biết lời thầy đoán hay.

Tìm đâu cho thấy cố nhân?
lấy câu mạng vận cổi dần nhớ thương.
Chạnh lòng nhớ cảnh gia hương,
nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu-thơ đón cửa giả-giề,[481]
hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
phòng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
Bước ra một bước một ngừng,
trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa.
Phải rằng, nắng quáng đèn loà,
rõ-ràng ngồi đấy chẳng là Thúc-sanh.
Bây-giờ tình mới rõ tình,
thôi thôi đã mắc vào vòng chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời,
người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ-ràng thật lứa đôi ta,
làm ra con ở, chủ nhà đôi nơi.
Bề ngoài lợt lợt nói cười,
mà trong nham-hiểm[482] giết người không dao.
Bây-giờ đất thấp trời cao,
ăn làm sao, nói làm sao bây-giờ?
Càng trông mặt càng ngẩn-ngơ,
ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ oai dám chẳng vưng lời,
cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sanh đà phách lạc hồn siêu,
thương ôi! chẳng phải nàng Kiều ở đây?
Nhân làm sao đến thế nầy?
thôi thôi ta đã mắc tay đã rồi!
Sợ quen dám hở ra lời,
khôn ngăn giọt ngọc sụt-sùi nhỏ sa,
Tiểu-thơ trông mặt hỏi tra,
mới về mà có việc gì động dong.[483]
Sanh rằng: hiếu phụ vừa xong,
suy lòng trắc tị[484] đau lòng chung thiên.[485]
Khen rằng: hiếu tử đã nên!
tẩy trần[486] mượn chén giải phiền đêm thu.
Vợ chồng chén tạc chén thù,[487]
bắt nàng đứng chực huề hồ[488] hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
bắt quì tạn mặt bắt mời tạn tay.
Sanh càng như dại như ngây,
giọt dài giọt vắn chén đầy chén vơi.
Lặng đi chợt nói chợt cười,
cáo say chàng đã tính bài giãn ra.
Tiểu-thơ vội thét con Hoa,[489]
khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn.
Sanh càng nát ruột tan hồn,
chén mời phải ngậm bòn-hòn trơn ngay.[490]
Tiểu-thơ cười tỉnh nói say,
chửa xong cuộc rượu đã bày trò chơi.
Rằng: Hoa-nô đủ mọi tài,
bản đờn thử dạo một bài chàng nghe.
Nàng đà tẩn-mẩn tê-mê,
vưng lời ra trước bình the vặn đàn. (đờn)
Bốn dây như khóc như than,
khiến người trên tiệc cũng tan-nát lòng.
Cũng trong một tiếng tơ đồng,
người ngoài cười rộ, người trong khóc thầm.
Giọt châu lã-chã khôn cầm,
cúi đầu chàng những bặt thầm giọt sương.
Tiểu-thơ lại thét lấy nàng,
cuộc vui khảy khúc đoạn tràng ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ chi,
cho chàng buồn-bã tội thì tại ngươi.
Sanh càng thảm-thiết bồi-hồi,
vội-vàng gượng nói gượng cười cho qua.
Khúc rồng[491] canh đã điểm ba,
Tiểu-thơ nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp-khởi mừng thầm,
buồn nầy đã bỏ đau ngầm xưa nay.
Sanh thì gan héo ruột gầy,
nỗi lòng càng nghĩ càng cay-đắng lòng.
Người vào chung gối lang-phòng,
nàng ra dựa bóng đèn chong canh dài:
Đến nay mới biết đầu đuôi,
máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen?
Chước đâu rẽ túy chia uyên,[492]
ai ra đàng nấy, ai nhìn được ai?
Bây-giờ một đất một trời
hết đều dùi thẳng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
gỡ ra cho được còn gì là duyên?
Lỡ-làng chút phận thuyền quyên,
bể sâu sóng cả có tuyền được vay!
Một mình âm-ỷ canh chầy,
đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
Sớm khuya hầu-hạ đài-dinh,
Tiểu-thơ chạm mặt đè tình hỏi tra.
Lựa lời nàng mới thưa qua,
phải khi mình lại xót-xa nổi mình.
Tiểu-thơ lại hỏi Thúc-sanh:
cậy chàng tra lấy thật tình cho nao.
Sanh đà rát ruột như bào,
nói ra chẳng tiện, trông vào chẳng đang.
Những e lại lụy đến nàng,
phô sòng[493] mới sẽ liệu đàng hỏi tra.
Cúi đầu quì trước sân hoa,
tự cung nàng mới lên qua một tờ;
Diện tiền trình với Tiểu-thơ,
thoát xem dường có ngẩn-ngơ chút tình.
Trên tay trao lại Thúc-sanh,
rằng: tài nên trọng, mà tình nên thương.
Ví sinh có số giàu sang,
giá nầy dẫu đúc nhà vàng[494] cũng nên.
Biển trần chìm nổi thuyền quyên,
hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời.
Sanh rằng: thật có như lời,
hồng nhan bạc mạng, một người nào vay?
Ngàn xưa âu cũng thế nầy;
từ bi âu liệu bớt tay mới vừa.
Tiểu-thơ rằng: ý trong tờ,
rấp đem mạng bạc xin nhờ cửa không.

Thúc-Sanh thấy đày đọa Túy-Kiều như vậy thì nói với Hoạn-thơ biểu nới tay, đừng có hành hà quá mà thất đức, thì Hoạn-thơ mới cho ra ở giữ chùa Quan-Âm các.

Thôi thì thôi cũng chìu lòng,
cũng cho cho nghỉ trong vòng bước ra.
Sẵn Quan-âm các vườn ta,
có cây trăm thước có hoa bốn mùa.[495]
Có thảo thọ, có sơn hồ,
cho nàng ra đó giữ chùa viết kinh.
Tưng-tưng trời mới bình minh,
hương hoa ngũ cúng sắm-sanh lễ thường.
Đưa nàng đến trước phật đường,
tam qui[496] ngũ giái,[497] cho nàng xuất gia.
Áo xanh đổi lấy ca sa,[498]
pháp danh lại đổi tên ra Trạc-tuyền.
Sớm khuya sắm đủ dầu đèn,
Xuân, Thu cắt sẵn hai tên hương trà.[499]
Nàng từ lánh gót vườn hoa,
dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.
Nhơn duyên đâu lại còn mong,
khỏi đều thẹn phấn tủi hồng thì thôi.
Phật tiền thảm lấp sầu vùi,
ngày phò thủ tự,[500] đêm nồi tâm hương.
Cho hay giọt nước nhành dương,[501]
lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.
Nâu sồng từ trở màu thuyền,[502]
sân thu trăng đã vài phen đứng đầu.
Quan phòng thẹn mặt lưới mau,[503]
nói cười trước mặt, rơi châu vắng người.
Các kinh, viện sách đôi nơi,
trong gang thước lại bỉ mười quan sơn.[504]
Những là ngậm thở ngùi than,
Tiểu-thơ phải buổi vấn an về nhà.

Hoạn-thơ giã đò về thăm mẹ, mà trá núp rình coi; mới thấy Thúc-Sanh vô chùa nói chuyện với Túy-Kiều. Vợ hỏi đi đâu vậy, thì nói đi coi người viết kinh, chữ tốt lắm; hai vợ chồng đem nhau về, để con đầy tớ ở lại đó.

Thừa cơ Sanh mới lén ra,
xăm-xăm đến mé vườn hoa với nàng.
Sụt-sùi kể nỗi đoạn tràng,
giọt châu tầm-tả[505] ướt tràng áo xanh.
Rằng: cam chịu bạc với tình,
chủ đông[506] để tội một mình cho hoa.
Thấp cơ thua trí đàn-bà,
trông vào đau ruột, nói ra ngại lời.
Vì ta cho lụy đến người,
cát lầm ngọc trắng thiệt-thòi xuân xanh.
Luận chi lên thác xuống gành,
cũng toan sống thác với tình cho xong.
Tông đường[507] chút chửa cam lòng,
cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai.[508]
Thẹn mình đá nát vàng phai,
trăm thân dễ chuộc một lời được sao?
Nàng rằng: chiếc bá sóng đào[509]
phù trầm cũng mặc lúc nào rủi may.
Chút thân quằn-quại[510] vùng-vầy,
sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao?
Cũng liều một giọt mưa dào,
mà cho thiên hạ trông vào cho hay.
Trót vì cầm đã bén dây,
chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta.
Liệu bài mở cửa cho ra,
ấy là tình nặng ấy là ơn sâu.
Sanh rằng: riêng tưởng bấy lâu,
lòng người nham-hiểm[511] biết đâu mà lường.
Nữa khi dông-tố phụ phàng,
thiệt riêng đây cũng lại càng cực đây.
Liệu mà cao chạy xa bay,
ái ân ta có ngằn nầy mà-thôi.
Bây-giờ kẻ ngược người xuôi,
biết bao giờ lại nối lời nước non.
Dẫu rằng: sông cạn đá mòn,
con tằm đến chết cũng còn kéo tơ.
Cùng nhau kể-lể sau xưa,
nói rồi lại nói lời chưa hết lời.
Mặt trông tay chẳng nỡ rời,
hoa tì[512] đã động tiếng người nẻo xa.
Ngẩn ngơ nói tủi bước ra,
Tiểu-thơ đâu đã thềm hoa bước vào.
Cười cười nói nói ngọt ngào,
hỏi chàng mới ở chốn nào lại chơi?
Dối quanh Sanh mới liệu lời,
tìm hoa quá bước xem người viết kinh.
Khen rằng: bút pháp đã tinh,
so vào với thiếp lan-đình[513] nào thua
Tiếc thay lưu-lạc giang hồ,
ngàn vàng thật cũng nên mua lấy tài.
Thuyền trà rót nước hồng mai,[514]
thong-dong nối gót thơ trai[515] cùng về.

Kiều hỏi biết nó với Hoạn-thơ đã rình nghe ngoài vách nên sợ tính bề trốn đi. Mà sợ bơ-vơ đói biết lấy chi mà ăn, nên ăn-cắp cái chuông vàng với cái khánh bạc khuya nhảy vách ra đi.

Nàng càng e-lệ[516] ủ-ê,
dỉ tai hỏi lại huê-tì trước sau.
Hoa rằng: bà đến đã lâu
chôn chơn đứng nép độ đâu nửa giờ.
Rành-rành chơn tóc kẽ tơ,
mấy lời nghe hết đã dư tỏ-tường.
Bao nhiêu đoạn khổ tình thương,
nỗi ông vật-vã, nỗi nường thở-than.
Dặn tôi đứng lại một bên,
chán tai rồi mới bước lên trên lầu.
Nghe thôi kinh-hãi xiết đâu,
đờn bà dường ấy thế âu một người.
Ấy mới gan, ấy mới tài,
nghĩ càng thêm nỗi rởn gai rụng-rời.[517]
Người đâu sâu-sắc[518] nước đời,
mà chàng Thúc cũng ra người bó tay.
Thật tang bắt được dường nầy,
máu ghen ai cũng chau mày cắn răng.
Thế mà êm chẳng đãi-đằng,
chào mời vui vẻ nói năng dịu-dàng.
Giận ru ra dạ thế thường,
cười ru mới thật không lường hiểm sâu.
Thân ta, ta phải lo âu,
miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn nầy.
Ví chăng chắp cánh cao bay,
rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa.
Phận bèo bao quản nước sa,
lênh-đênh đâu nữa cũng là lênh-đênh.
Chỉn e quê khách một mình,
tay không chửa dể tìm vành ấm no.
Nghĩ đi nghĩ lại quanh co,
phật tiền sẳn có mọi đồ kim ngân.
Bên mình giắt để hộ thân,
lòng nghe canh đã một phần trống ba.
Cất mình qua ngọn tường hoa[519]
lần đàng theo bóng trăng tà về tây.
Mịt-mù dặm cát chồi cây,
tiếng gà đêm cỏ dấu giày cầu sương.[520]
Canh khuya thân gái dặm trường,
phần e đàng-sá, phần thương dãi-dầu.
Trời đông vừa rạng ngàn dâu,
bơ-vơ nào đã biết đâu là nhà.

Sáng ra đi tới chùa bà Giác-Duyên, vô đó nói ở Bắc-kinh sư-trưởng sai đem chuông khánh cúng, thì Giác-Duyên tưởng thiệt cầm ở lại chờ sư-trưởng qua.

Chùa đâu trông thấy nẻo xa,
rành-rành Chiêu-ẩn-am ba chữ bày.
Xăm-xăm gỏ cữa bước vào,
trụ-trì[521] nghe tiếng rước mời vào trong.
Thấy màu ăn-mặc nâu-sồng,
Giác-duyên sư trưởng lành lòng liền thương.
Gạn-gùng nhành ngọn cho tường,[522]
lạ-lùng nàng hãy tìm đường nói quanh.
Tiểu thuyền quê ở Bắc-kinh,
qui sư qui phật tu hành bấy lâu.
Bổn sư rồi cũng đến sau,
dạy đưa pháp bửu[523] sang hầu sư huynh.
Rày vâng diện hiến[524] rành rành,
chuông vàng khánh bạc bên mình dở ra.
Xem qua Sư mới dạy qua,
phải nơi Hàng-thủy[525] là ta hậu tình?
Hiền đồ[526] đàng-sá một mình,
ở đây chờ-đợi sư huynh ít ngày.
Gởi thân dựa chốn am mây,
muối dưa đắp-đổi tháng ngày thong-dong.
Kệ-kinh câu cũ thuộc lòng,
hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.
Sớm khuya ra mái phên mây,
ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nặng sương.[527]
Thấy nàng thông-huệ khác thường,
sư càng nể mặt, nàng càng vững chơn.
Cửa thuyền vừa tiết cuối xuân,
bóng hoa đầy đất, vẻ ngân[528] ngang trời.

Đặng ít lâu có người ở am Hoạn thơ qua chơi thấy chuông vàng và khánh bạc, mới nói bên đó có mất đồ ấy, tối bà Giác-Duyên hỏi, thì Túy-Kiều tỏ thiệt. Bà Giác-Duyên biểu lo mà trốn đi, thì lại gởi cho Bạc-bà lãnh về gả cho cháu tên là Bạc-Hạnh. Bạc-Hạnh đem về Châu-thai bán lại cho tàu-kê. Mà Túy-Kiều cũng không chịu làm đĩ.

Gió quang mây tạnh thảnh-thơi,
có người đàn việt[529] lên chơi cữa già.
Dở đồ chuông khánh xem qua,
khen rằng khéo hệt của nhà Hoạn-vương.
Giác-duyên thật ý lo-lường,
đêm thanh mới hỏi lại nường trước sau.
Nghĩ rằng khôn nỗi giấu màu,
sự mình nàng mới gót đầu bày ngay.
Bây-giờ sự đã dường nầy,
phận hèn dầu rủi dầu may tại người.
Giác-duyên nghe nói rụng-rời,
nửa thương nửa sợ bồi-hồi chẳng xong.
Dỉ tai nàng mới giãi lòng,
ở đây cữa phật là không hẹp gì.
E chăng những sự bất-kỳ,
để nàng cho đến thế thì cũng thương.
Lánh xa trước liệu tìm đường,
ngồi chờ nước đến nên dường còn quê.[530]
Có nhà mụ Bạc bên kia,
am mây quen lối đi về dầu hương.
Nhắn sang dặn hết mọi đường,
dọn nhà hãy tạm cho nường trú chơn.
Những mầng được chốn an thân,
vội-vàng nào kịp tính gần tính xa.
Nào ngờ cũng tổ bợm già,
Bạc-bà học vuối Tú-bà đồng môn.
Thấy nàng lợt phấn đượm son,
mầng thầm được chốn bán-buôn có lời.
Hư không đặt bỏ nên lời,
nàng đà giớn-giác rụng-rời lắm phen.
Mụ càng xua-đuổi cho liền,
lấy lời hung-hiểm ép duyên châu trần.
Rằng nàng muôn dặm một thân,
lại mang lấy tiếng dữ gần lành xa.
Khéo oan gia của phá gia,
còn ai dám chứa vào nhà nữa đây.
Kíp toan kiếm chốn xe dây,
không nhưng chưa dễ mà bay đàng trời.
Nơi gần thì chẳng tiện nơi,
nơi xa thì chẳng có người nào xa.
Nầy chàng Bạc-hạnh cháu nhà,
cũng trong thân-thích ruột-rà chẳng ai.
Cữa-nhà buôn-bán Châu-thai,
thật-thà có một, đơn-sai chẳng hề.
Thế nào nàng cũng phải nghe,
thành thân rồi sẽ liệu về Châu-Thai.
Bây-giờ ai lại biết ai,
dầu lòng biển rộng, sông dài thinh-thinh.
Nàng dầu chẳng quyết thuận tình,
trái lời nếu trước, lụy mình đến sau.
Nàng càng mặt ủ mày châu,
càng nghe mụ nói, càng đau như dần.
Nghĩ mình túng đất sẩy chơn,
thế cùng nàng mới xa gần thở-than.
Thiếp như con én lạc đoàn,
phải cung rày đã sợ làn mây cung.
Cùng đàng dầu tính chữ tùng,
biết người biết mặt biết lòng làm sao?
Nữa khi muôn một thế nào,
bán hùm buôn quỉ chắc vào lưng đâu?[531]
Dầu ai lòng có sở cầu,
tâm minh[532] xin quyết vuối nhau một lời.
Chứng minh có đất có trời,
bây-giờ vượt biển ra khơi quản gì.
Được lời mụ mới ra đi,
mách tin họ Bạc tức thì sắm sinh.
Một nhà dọn-dẹp linh-đình,[533]
quét sân đặt trác[534] rửa bình thắp nhang.
Bạc-sanh quì xuống vội-vàng,
quá lời nguyện hết Thành-hoàng, Thổ-công.
Trước sân lòng đã giãi lòng,
trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên.
Thành thân mới rước xuống thuyền,
thuận buồm một lá xuôi miền Châu-thai
Thuyền vừa dựa bến thảnh-thơi,
Bạc-sanh lên trước tìm nơi gọi người.
Cũng nhà hàng viện[535] xưa nay,
cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người.
Xem người định giá vừa rồi,
mối hàng một đã ra mười thì buông.
Mướn người thuê kiệu rước nàng,
bạc đem mặt bạc[536] kiếm đàng cho xa.
Kiệu hoa đặt trước thềm hoa,
bên trong thấy một mụ ra vội-vàng.
Đưa nàng vào lạy gia đường,
cũng thần mày trắng cũng phường lầu xanh.
Thoát trông nàng đã biết tình,
chim lồng không nhẽ[537] cất mình bay cao
Chém cha cái số hoa đào,
gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!
Nghĩ đời mà ngán cho đời,
tài tình chi lắm cho trời đất ghen!
Tiếc thay nước đã đánh phèn,
mà cho bùn lại nhuốm lên mấy lần!
Hồng-quân[538] vuối khách hồng-quần,[539]
đã xây đến thế còn hờn chửa tha?
Lỡ từ lạc bước bước ra,
cái thân liều những từ nhà liều đi.
Đầu xanh đã tội tình chi?
má hồng đến quá nửa thì chửa thôi!
Biết thân chạy chẳng khỏi trời,
cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

Chú thích của bản in

  1. Êm ả. — Êm ái, im mát. ↩
  2. Nhắc dây. — Lên dây lấy bực đờn. ↩
  3. Oan bay. — Chim oan ương, chỉ vợ chồng không rời nhau, nên Túy-kiều lấy đó mà nói mình với Thúc-sanh là như cặp chim oan ương mà chúng bat đi, nên phân rẽ ra vợ chồng cách nhau. ↩
  4. — Chang mày khi trước hay trau-tria cạo-gọt mà bây-giờ không có gọt nữa, nên nó mọc lân ra như trăng non đầu tháng. ↩
  5. Sen tàn. — Hết hạ. — Chiếng hoa. — Qua thu, mai, trái mơ (ô môi) tro bông. ↩
  6. Gỉa-giề. — Chào hỏi vui mầng. ↩
  7. Nham-hiểm. — Độc địa. ↩
  8. Động dong. — Thương khó, buồn bực. ↩
  9. Trắc tị. — Lên núi Tị mà trông mây trắng. (Mẹ). ↩
  10. Chung thiên. — Cả đời, trọn đời ↩
  11. Tẩy trần. — Rửa bụi. (Tiệc mầng kẻ mới về). ↩
  12. Tạc thù — Mời luân phiên nhau. ↩
  13. Huề hồ. — Cầm ve (mà rót). ↩
  14. — La nạt con Hoa-nô (là Túy-kiều). Tên Hoa-nô là tên bà mẹ con Hoạn-thơ mới đặt sau. ↩
  15. Bòn-hòn. — Trái bòn-hòn. — Đắng lắm. ↩
  16. Khúc rồng. (Đồng long). — Đồng hồ nước làm hình con rồng phun nước từ bận mà chỉ giờ. ↩
  17. Túy. — Con chim sả. — Uyên. — Oan. — Oan-ương. ↩
  18. Phô sòng. — Trình tay. ↩
  19. — Tích Hán-vỏ-đế yêu sắc Đậu-a-kiều, nên khi đưa vô làm hoàng hậu, thì làm nhà vàng cho hoàng hậu ở, y như lời ông vua đã nói với cô, khi bả hỏi: Nhĩ ái A-kiều phủ? Thì vua rằng: Nhĩ đắc A-kiều đương dĩ kim ốc trữ chi.... ↩
  20. — Ở đó có cây, có hoa, có cỏ, có hồ, có non bộ, kiểng vật đủ. ↩
  21. Tam qui. — Là: qui y Phật, qui y pháp, qui y Tăng. ↩
  22. Ngũ giái. — Sát sanh, ẩm tửu, tà dâm, gian đạo, khi trá. ↩
  23. — Khi trước làm đầy tớ thì mặc áo xanh, bây giờ mặc áo ca sa là áo sãi vãi hay may nhiều miếng nhập lại. ↩
  24. — Cấp cho hai đứa phục dich, con Xuân-hoa, con Thu-nguyệt. ↩
  25. Thủ tự. — Chép kinh. — Nồi tâm hương. — Nhang đèn. ↩
  26. Nhành dương. — Dương chi sái thủy. — Nước cam lồ, nước phép của bà Quan-âm. ↩
  27. Nâu sồng. — Màu nu xuống sắc sồng. — Màu thuyền. — Màu về chùa chuyền. ↩
  28. — Đã qua hai tháng, cửa đóng chắt, lưới dày: cấm cung ở tại chùa. ↩
  29. — Tuy ở nơi Quan-âm các, là gần, mà cách xa nhau không tới lui với nhau được, như đường xa quan sơn vậy. ↩
  30. Tầm-ta. — Dầm dề. ↩
  31. Chủ đông. — Phận đờn ông ↩
  32. Tông đường. — Cha. ↩
  33. — Ra như đã để nhau rồi, để nhau thì bẻ đồng tiền ra hai, chẻ chiếc đũa ra làm hai. ↩
  34. Chiếc bá sóng đào. — Cái thuyền tình là phận con gái bị sóng gió. ↩
  35. Quằn-quại. — Oằn-oại. ↩
  36. Nham-hiểm. — Triềng núi hẳm. — Sâu-hiểm. ↩
  37. Hoa-tì hay là huê-tì. — Đầy tớ gái. ↩
  38. Lan-dinh. — Lan đinh bút thiếp. — Chỗ chơi các người hay chữ tử-tế hội lại với nhau. ↩
  39. Thuyền trà. — Chén trà cho dĩa dài làm cong cong, con Túy-kiều pha trà hồng mai mà đãi ↩
  40. Thơ trai. — Thơ phòng. ↩
  41. E-lệ. — sợ-sệt. ↩
  42. Rởn gai. — Dởn ốc, mọc gai. ↩
  43. Sâu-sắc. — Độc-hiểm. ↩
  44. — Trèo vách tường mà ra. ↩
  45. — Chơn đạp tuyết đi thầm ban đêm... ↩
  46. Trụ-trì. — Ông từ. ↩
  47. — Bà Giác-duyên hỏi gặn đầu đuôi gốc ngọn cho tường. ↩
  48. Pháp bửu. — Kinh ngân, chuông vàng, khánh bạc. ↩
  49. Diện hiến. — Lời thầy tôi dạy... ↩
  50. Hàng-thủy. — Tên chùa Hàng-thủy. ↩
  51. Hiền đồ. — Vãi em.... ↩
  52. — Đêm thắp đèn thắp nhang, dộng chuông. ↩
  53. Vẻ ngân. — Sông ngân-hà, ↩
  54. Đàn việt. — Kẻ hay cúng chùa. ↩
  55. — Để nước đến trôn mới nhảy sao cho kịp? ↩
  56. — Mua trâu vẻ bóng, chắc-chắn vào đâu? ↩
  57. Tâm minh. — Thề. ↩
  58. Linh-đình. — Rộn-ràng. ↩
  59. Trác. — Ghế nghỉ (đẳng). ↩
  60. Hàng viện. — Lầu xanh, nhà trữ đĩ. ↩
  61. — Lấy bạc rồi, cái bọn bạc tình kiếm đường xẹo đi mất. ↩
  62. Nhẽ. — Lẽ. ↩
  63. Hồng quân. — Khuôn lớn. — Trời. ↩
  64. Hồng quần. — Con gái. (Bỡi hay mặc quần đỏ.) ↩