Trang chủ Viện

Truyện Kiều — Nguyễn Du

Kim-Trọng chịu tang Thúc-phụ rồi, trở qua thì thấy nhà cữa Túy-Kiều đâu mất. Hỏi thăm, gặp Vương-Quan đam vào nhà ra mắt ông bà Viên-ngoại

Chương 10 / 10

Kim-Trọng chịu tang Thúc-phụ rồi, trở qua thì thấy nhà cữa Túy-Kiều đâu mất. Hỏi thăm, gặp Vương-Quan đam vào nhà ra mắt ông bà Viên-ngoại.

Từ ngày muôn dặm trì tang,[648]
nửa năm ở đất Liêu-dương lại nhà.
Vội sang vườn túy dò-la,
nhìn phong-cảnh cũ, nay đà khác xưa.
Đầy vườn cỏ mọc lau thưa,
song trăng quạnh-quẽ, vách mưa rã rời.
Trước sau nào thấy bóng người,
hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Quế hoa én lạnh rường không,
cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai-gốc mọc đầy,
đi về nầy những lối nầy năm xưa.
Đông-quanh lặng-ngắt như tờ,
nỗi niềm tâm-sự bây-giờ hỏi ai.
Láng-riềng có kẻ sang chơi,
Lân-la sẽ hỏi một hai sự tình:
Hỏi ông, ông mắc tụng đình,
hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.
Hỏi nhà, nhà đã dời xa,
hỏi chàng Vương vuối cùng là Túy-vân.
Đều là sa-sút[649] khó-khăn,
may thuê, viết mướn, kiếm ăn lần-hồi.
Đều đâu sét đánh lưng trời!
thoát nghe chàng thoát rụng-rời xiết bao?
Hỏi thăm di trú nơi nào?
đánh đường chàng mới tìm vào tạn nơi.
Nhà tranh vách đất tả-tơi,
rêu lan rèm nát, trước gài phên thưa.[650]
Một sân đất cỏ dầm mưa,
càng ngao ngán nỗi, càng ngơ-ngẩn đường!
Đánh liều lên tiếng ngoài đường,
chàng Vương nghe tiếng vội-vàng chạy ra.
Dắc tay vội bước vào nhà,
mái sau Viên-ngoại ông bà ra ngay.
Khóc than kể hết niềm tây:
chàng ôi biết nỗi nước nầy cho chưa?
Kiều-nhi phận mỏng như tờ,
một lời đã lỗi tóc-tơ vuối chàng.
Gặp cơn gia biến lạ dường,
bán mình nó đã tìm đường cứu cha.
Dùng dằng khi bước chân ra,
cực trăm ngàn nỗi, dặn ba bốn lần.
Trót lời nặng vuối lang-quân,
mượn con em nó, Túy-Vân thay lời.
Gọi là trả chút ngãi người,
sầu nầy dặc dặc, muôn đời chửa quên.
Kiếp nầy duyên đã phụ duyên,
dạ đài[651] còn biết sẽ đền lai sinh.
Mấy lời ký chú đinh ninh,
ghi lòng để dạ, cất mình ra đi.
Phận sao bạc bấy Kiều-nhi!
chàng Kim về đó con thì đi đâu?
Ông bà càng nói càng đau,
chàng càng nghe nói, càng rầu như dưa.[652]
Vật mình chải gió tuôn mưa,
dầm dề giọt ngọc dật-dờ hồn mai.
Đau đòi đoạn, ngất đòi hồi,
tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.
Thấy chàng đau nỗi biệt-ly,
ngần-ngừ ông mới vỗ-về lại khuyên:
Bây-giờ ván đã đóng thuyền,
đã đành phận bạc, khôn đền tình chung.
Quá thương chút nghĩa đèo-bòng,
ngàn vàng thân ấy thì hòng bỏ sao?
Dỗ-dành khuyên giải trăm chìu,
lửa phiền khôn dập, càng khêu mối phiền.
Thề xưa dở đến kim huờn,[653]
của xưa lại dở đến đờn vuối hương.[654]
Sanh càng trông thấy càng thương,
gan càng tức tối, ruột càng xót-xa.
Rằng: tôi trót quá chơn ra
để cho đến nỗi trôi hoa giạt bèo.
Cùng nhau thề thốt đã nhiều,
những đều vàng đá phải đều nói không?
Chưa chăn gối, cũng vợ chồng,
lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?
Bao nhiêu của mấy ngày đàng,
còn tôi, tôi một gặp nàng mới thôi.

Kim-Trọng rước ông bà Viên-ngoại về nuôi, và mướn người đi kiếm Túy-Kiều. Kim-Trọng cưới Túy-Vân thế cho Túy-Kiều.

Nỗi thương nói chẳng hết lời,
tạ-từ Sanh mới sụt-sùi trở ra.
Vội về sửa chốn vườn hoa,
rước mời Viên-ngoại ông bà cùng sang.
Thần hôn[655] chăm-chút lễ thường,
dưỡng thân thay tấm lòng nường ngày xưa.
Đinh-ninh mài lụy chép thơ,
cắt người tìm-tỏi, đưa tờ nhắn nhe.
Biết bao công mướn của thuê?
Lâm-tri mấy độ đi về dặm khơi.
Người một nơi hỏi một nơi,
mênh-mông nào biết biển trời nơi nao?
Sanh càng thảm-thiết khát-khao,
như nung gan sắt, như bào lòng son.
Ruột tằm ngày một héo-don,
tuyết sương ngày một hao mòn mình ve.
Thẩn-thơ lúc tỉnh lúc mê,
máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao.
Xuân huyên lo sợ xiết bao,
quá ra khi đến thế nào mà hay?
Vội-vàng sắm-sửa chọn ngày,
duyên Vân sớm đã nối dây cho chàng.
Người yểu-điệu, kẻ văn chương
trai tài, gái sắc, xuân đương kịp thì.
Tuy rằng: vui chữ vu-qui,
vui nầy đã cất sầu kia đặng nào?
Khi ăn-ở, lúc ra-vào,
càng âu duyên mới, càng dào tình xưa.
Nỗi nàng nhớ đến bây-giờ,
tuôn châu đòi trận, vò tơ trăm vòng.
Có khi vắng-vẻ hiên phòng,
đốt lò hương dở phím đờn ngày xưa.
Bẻ-bai rủ-rỉ tiếng tơ,
trầm bay lạt khói, gió đưa lay rèm.
Dường như bên nóc trước thềm,
tiếng Kiều đồng vọng, bỗng thêm mơ-màng.
Bỡi lòng tạc đá ghi vàng,
tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây.
Những là phiền muộn đêm ngày,
xuân thu biết đã đổi thay mấy lần?

Kim-Trọng với Vương-Quan thi đậu vua sai đi ngồi tri-huyện Lâm-tri.

Đến khoa gặp hội trường vân,
Vương, Kim cũng chiếm bảng xuân một ngày.
Cửa trời mở rộng đàng mây,
huê chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần.
Chàng Vương nhớ đến xa gần,
sang nhà Chung-lão tạ ơn châu triền.[656]
Tình xưa ơn trả ngãi đền,
gia thân bèn mới kết duyên Châu-Trần.
Chàng càng nhẹ bước thanh vân,
nỗi chàng càng nghĩ xa gần càng thương:
Ấy ai dặn ngọc thề vàng
bây giờ kim-mã[657] ngọc-đàng[658] vuối ai?
Ngọn bèo chơn sóng lạc loài,
nghĩ mình vinh-hiển thương người lưu ly!
Vâng ra ngoại nhậm Lâm-tri,
quan-sơn ngàn dặm thê-nhi một đoàn.
Cầm đường[659] ngày tháng thanh-nhàn,
sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu-dao.
Phòng hương trướng xủ huê đào,
nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng.
Tỉnh ra mới dỉ cùng chàng,
nghe lời chàng cũng hai đàng tin nghi:
Nọ Lâm thanh vuối Lâm tri,
khác nhau một chữ, hoặc khi có lầm.
Trong cơ thanh khí tương tầm,
ở đây hoặc có giai âm chăng là.
Thăng đường chàng mới hỏi tra,
họ Đô có kẻ lại già thưa lên:
Sự nầy đã ngoại mười niên,
tôi đà biết mặt biết tên rành-rành.
Tú-bà cùng Mã-giám-sanh,
đi mua người ở Bắc-kinh đưa về.
Túy-kiều tài sắc ai bì?
có nghề đờn, lại đủ nghề văn-thơ.
Kiên trinh[660] chẳng phải gan vừa,
liều mình thế ấy, phải lừa thế kia.[661]
Phong-trần chịu đã ê hề,
dây duyên sau lại gả về Thúc-lang.
Phải tay vợ cả phụ-phàng,
bắt về Vô-tích toan đàng bẻ hoa.
Cất mình nàng mới trốn ra,
chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia.
Thoạt mua về, thoạt bán đi,
mây trôi bèo nổi, thiếu gì là nơi?
Bỗng đâu lại gặp một người,
hơn người trí dõng nghiêng trời oai linh.
Trong tay muôn vạn tinh binh,
kéo về đóng chật một thành Lâm-tri.
Tóc tơ các tích mọi khi,
oán thì trả oán, ơn thì đền ơn.
Đã nên có ngãi có nhân,
trước sau trọn-vẹn xa gần ngợi-khen.
Chửa tường được họ được tên,
sự nầy hỏi Thúc-sanh viên mới tường.
Nghe lời Đô nói rõ-ràng,
tức-thì tống trát đòi chàng Thúc-sanh.
Nỗi nàng hỏi hết phân-minh,
chồng con đâu tá,[662] tánh danh là gì?
Thúc rằng: gặp lúc loạn-li,
trong quân tôi hỏi thiếu gì tóc-tơ.
Đại-vương tên Hải họ Từ
đánh quen trăm trận, sức dư muôn người.
Gặp nàng ngày ở Châu-thai,
lạ chi quốc-sắc thiên-tài phải duyên.
Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên,
làm nên động-địa kinh thiên đùng-đùng.
Đại quân đồn đóng cõi đông,
về sau chẳng biết vân-mồng[663] làm sao.
Nghe tường nhành ngọn tiêu-hao,
lòng riêng chàng luống lao-đao thẩn-thờ.
Xót thay chiếc lá bơ-vơ,
kiếp trần biết giũ bao giờ cho xong?
Hoa trôi nước chảy xuôi dòng,
xót thân chìm nổi, đau lòng hiệp tan!
Lời xưa đã lỗi muôn vàn,
mảnh hương còn đó, phím đàn còn đây.
Đờn-cầm khéo ngẩn-ngơ dây,
lò hương biết có kiếp nầy nữa thôi
Bình bồng còn chút xa-xôi,
đỉnh-chung[664] sao nỡ ăn ngồi cho an?
Rấp mong treo ấn từ quan,
mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha.
Sấn mình trong đám can-qua,
vào sanh ra tử, họa là thấy nhau:
Nghĩ đều trời thẳm vực sâu,
hóng chim tăm cá, biết đâu mà nhìn.
Những là nấn-ná[665] đợi tin,
nắng mưa đã biết mấy phen đổi-dời?

Năm ấy cải nhậm, vua sai đi ngồi xứ khác; hai anh em đi tới sông Tiền-đường, nghe nói Túy-Kiều chết tại đó thì rước thầy làm chay, đặt bài vị mà cúng.

Năm mây đã thấy chiếu trời,[666]
khâm-sai sắc-chỉ đến nơi rành-rành.
Kim thì cải nhậm Nam-bình,
chàng Vương cũng cải nhậm thành Hoài-dương.
Sắm-sanh xe ngựa vội-vàng,
hai nhà cũng thuận một đàng phó quan.[667]
Xảy nghe thế giặc đã tan,
sóng êm Phước-kiến, tro tàn Tích-giang.
Được tin Kim mới rủ Vương,
tiện đàng cùng lại tìm nường sau xưa.
Viện-châu đến đó bây-giờ,
thật tin hỏi được tóc-tơ rành rành.
Rằng: ngày hôm nọ giao binh,
thất cơ Từ đã thâu linh[668] trận tiền.
Nàng Kiều công cả chẳng đền,
lệnh quan lại bắt ép duyên thổ-tù.[669]
Nàng đà gieo ngọc trầm chu,
sông Tiền-đường đó, ấy mồ hồng nhan.
Thương ôi! không hiệp mà tan,
một nhà vang-hiển riêng oan một nàng!
Chiêu hồn thiết vị lễ thường,
giải oan lập một đàn-trường bên sông.[670]
Ngọn triều non bạc trùng-trùng,[671]
vọi trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo,
Tình thâm biển thảm lạ chìu,
nào hồn tinh-vệ[672] biết xiêu chốn nào?

Bà Giác-duyên đi coi thấy mộc-vị thì biết là tế Túy-Kiều, mới hỏi là ai tới làm chay; biết được là cha mẹ, anh em Túy-Kiều, thì nói nó còn sống ở tại am mình.

Cơ duyên đâu bỗng lạ sao?
Giác-Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi.
Trông lên linh-vị chữ bài,
thất-kinh mới hỏi những người đâu ta?
Vuối nàng thân-thích gần xa,
người còn sao bỗng làm ma khóc người?
Nghe tin giớn-giác rụng-rời,
xúm quanh kể họ rộn lời hỏi tra:
Nầy chồng nầy mẹ, nầy cha,
nầy là em ruột, nầy là em dâu.
Thật tin nghe đã bấy lâu,
pháp sư dạy thế sự đâu lạ dường!
Sư rằng: nhân quả[673] vuối nường,
Lâm-tri buổi trước Tiền-đường buổi sau.
Khi nàng gieo ngọc đáy sâu,
đón theo tôi đã gặp nhau rước về.
Cùng nhau nương cữa Bồ-đề,
thảo-am đó cũng gần kề chẳng xa.
Phật-tiền nhà bạc lân-la,
đăm-đăm[674] nàng cũng nhớ nhà không khuây.
Nghe tin nở mặt nở mày,
mầng nào lại quá mầng nầy nữa chăng?
Từ phen chiếc lá lìa rừng,
thăm tìm luống những liệu chừng nước mây.
Rõ-ràng hoa rụng hương bay,
kiếp sau họa thấy kiếp nầy hản thôi.
Âm-dương đôi ngã chắc rồi,
cõi trần mà lại thấy người cửu-nguyên!

Dắc về nhìn ra thiệt tích; đem Túy-Kiều về nó không chịu về. Cha mẹ la-dức nói có muốn tu thì lập am tại nhà cho mà tu cùng rước bà Giác-duyên về nữa, thì nó mới chịu về.

Sắp nhau lạy tạ Giác-Duyên,
bộ-hành một lủ theo liền một khi.
Bẻ lau vạch cỏ tìm đi,
tình thâm luống hãy hồ-nghi nửa phần.
Quanh-co theo dãi giang tân,[675]
khỏi rừng lau đã tới sân Phật-đàng.
Giác-Duyên lên tiếng gọi nàng,
phòng trong vội khiến sen vàng bước ra.
Rõ ràng đủ mặt một nhà,
xuân già còn mạnh, huyên già còn tươi.
Hai em phương trưởng hòa hai,
nọ chàng Kim đó là người ngày xưa.
Tưởng bây-giờ lại bao-giờ?
rõ-ràng mở mắt còn ngờ chiêm-bao.
Giọt châu thảnh-thót quyển bào,[676]
mầng-mầng sợ-sợ biết bao là tình!
Huyên già dưới cội gieo mình,
khóc than mình kể sự mình đầu đuôi:
Từ con lưu-lạc quê người,
bèo trôi sóng bủa chốc mười lăm năm.
Tính rằng: sông nước cát lầm,
kiếp nầy ai lại còn cầm được đây?
Ông bà nhìn mặt cầm tay,
dung-quang chẳng khác gì ngày bước ra.
Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa,
mười phần xuân có gầy ba bốn phần.
Nỗi mầng ông lấy gì cân?
lời tan hiệp truyện xa gần thiếu đâu?
Hai em hỏi trước han sau,
đứng trông nàng đã trở sầu làm tươi.
Sắp nhau lạy trước Phật-đài,
tái sanh trần tạ, lòng người từ-bi.
Kiệu hoa giục rước tức thì,
Vương-ông dạy rước cùng về một nơi.
Nàng rằng: chút phận hoa rơi,
nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay.
Tính rằng: mặt nước chơn mây,
lòng nào còn tưởng có rày nữa không.
Được rày tái thế tương-phùng,
khát-khao đã thỏa tấm lòng lâu nay.
Đã đem mình bỏ am mây,
tuổi nầy gởi với cỏ cây cũng vừa.
Mùi thiền đã bén muối dưa,
màu thiền ăn-mặc đã ưa nâu sồng.
Sự đời đã tắt lửa lòng,
còn chen vào chốn bụi hồng làm chi?
Dở-dang nào có hay gì?
đã tu tu trót quá thì thì thôi.
Trùng sanh ơn nặng bể trời,
lòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi?
Ông rằng: bỉ thử nhứt thì,
tu-hành thì cũng phải khi tùng quyền.
Phải đều cầu phật cầu tiên,
tình kia hiếu nọ ai đền cho đây?
Độ sanh[677] nhờ đức cao dày,
lập am rồi sẽ rước thầy ở chung.
Nghe lời nàng phải chìu lòng,
giã sư giã cảnh đều cùng bước ra.
Một đàng về đến quan-nha,
đoàn viên[678] vội mở tiệc hoa vui-vầy.
Tà-tà chén cúc dở say,
đứng lên Vân mới giải bày một hai.
Rằng: trong tác hiệp cơ trời,
hai bên gặp-gỡ một lời kết-giao.
Gặp cơn bình địa ba đào,
mà đem duyên chị gá vào cho em.
Cũng là phận cải duyên kim,
cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao?
Những là rày ước mai ao,
mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình?
Bây-giờ gương bể[679] lại lành,
khuôn linh[680] lừa-đảo đã dành có nơi.
Còn duyên may lại còn người,
còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa.
Trái mai ba bảy khi vừa,[681]
đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.
Dứt lời nàng mới gạt đi,
sự muôn năm cũ kể chi bây-giờ?
Một lời tuy có ước xưa,
xét mình dãi gió dầm mưa đã nhiều.
Nói càng hổ-thẹn trăm chìu,
thì cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi.
Chàng rằng: nói cũng lạ đời,
dẫu lòng kia vậy, còn lời ấy sao?
Một lời đã trót thâm giao,
dưới thời có đất, trên cao có trời.
Dẫu rằng: vật đổi sao đời,[682]
tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh.
Duyên kia có phụ chi mình,
mà toan chia gánh chung tình làm hai?
Nàng rằng: gia-thất duyên hài,
chút lòng ân-ái ai-ai cũng lòng.
Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng,
hoa thơm phong nhị[683] trăng tròn ngậm gương.
Chữ trinh đáng giá ngàn vàng,
đuốc hoa chẳng thẹn vuối chàng mai xưa.
Thiếp từ ngộ biến đến giờ,
ong qua bướm lại đã thừa xấu-xa.
Bấy chầy gió táp mưa sa,
mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn.
Còn chi là cái hồng-nhan,
đã xong thân thể còn toan nổi nào?
Nghĩ mình chẳng hổ mình sao?
dám đem trần cấu[684] dựa vào bố kinh?[685]
Đã hay chàng nặng vì tình,
trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru?
Từ rày khép cửa phòng thu,
chẳng tu thì cũng là tu mới là.
Chàng dầu nghĩ đến gần xa,
đem tình cầm sắt,[686] đỗi ra cầm cờ.[687]
Nói chi kết tóc xe tơ?
đã buồn cả bụng lại nhơ cả đời!
Chàng rằng: khéo nói nên lời!
mà trong lẽ, phải có người có ta.
Xưa nay trong đạo đàn-bà,
chữ trinh kia cũng có ba bảy đường:
Có khi biến, có khi thường,
có quyền nào phải một đường chấp kinh?
Như nàng lấy hiếu làm trinh,
bụi nào cho đóng được mình ấy vay?
Trời còn dây có hôm-nay,
tan sương biết tỏ áng mây giữa trời.
Hoa tàn mà lại thêm tươi,
trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.
Có đều gì nữa mà ngờ,
khách qua đường để hẫng-hờ chàng Tiêu.[688]
Nghe chàng nói đã hết điều,
hai thân thì cũng quyết theo một bài.
Hết lời khôn lẽ chối lời,
cúi đầu nàng những vắn dài thở-than.
Nhà vừa mở tiệc đoàn viên,
hoa soi ngọn đuốc hồng chen bức là.
Cùng nhau giao bái[689] một nhà,
lễ đà đủ lễ, đôi đà đủ đôi.
Động phòng dìu-dặt chén mồi,[690]
bâng-khuâng duyên mới ngậm-ngùi tình xưa.
Những từ sen ngó đào thơ,
mười lăm năm mới bây-giờ là đây!
Tình duyên ấy, hiệp tan nầy!
bi hoan mấy nỗi đêm nầy trăng cao.
Canh khuya bức gấm xủ thao,
dưới đèn tỏ nghĩa, má đào thêm xuân.
Tình-nhân lại gặp tình-nhân,
hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình.
Nàng rằng: phận thiếp đã đành,
có làm chi nữa cái mình bỏ đi.
Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi,
chìu lòng gọi có xướng tùy mảy-may.[691]
Riêng lòng đã thẹn lắm thay!
cũng đà mặt dạn mày dày khó coi.
Những như âu-yếm[692] vòng ngoài,
còn toan mở mặt với người cho qua
Lại như những thói người-ta,
vét hương dưới đất, bẻ hoa cuối mùa.
Cũng ra dỡ nhuốc bày trò,
còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi.
Người yêu, ta xấu vuối người,
yêu nhau thôi lại bằng mười phụ nhau.
Cửa-nhà đều tính về sau,
thì đà em đó, lựa cầu chị đây?
Chữ trinh còn một chút nầy,
chẳng cầm cho vững lại giày cho tan.
Còn nhiều ân-ái chan-chan,
hay chi vậy cái hoa tàn mà chơi?
Chàng rằng: gắn-vó một lời,
bỗng không cá nước chim trời lỡ nhau?
Xót người lưu-lạc bấy lâu!
tưởng thề-thốt nặng những đau-đớn nhiều.
Thương nhau sanh tử đã liều,
đưa nhau còn thiếu bấy nhiêu là tình.
Vườn xuân tơ liễu còn xanh,
nghĩ chưa chưa thoát khỏi vành ái ân.
Gương trong chẳng chút bụi trần,
một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm.
Bấy lâu đáy biển mò kim,
đã nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa.
A ngờ lại hiệp một nhà,
lựa là chăn gối mới ra sắt cầm?
Nghe lời sữa áo cài trâm,
khấu đầu lạy trước cao thâm ngàn trùng,
Thân tàn gạn đục khoi[693] trong,
là nhờ quân-tử khác lòng người-ta.
Mấy lời tâm-phúc ruột-rà,
tương-tri nghĩa ấy mới là tương-tri.
Chở-che ràng-buộc thiếu gì?
trăm năm danh tiết cũng về đêm nay.
Cùng nhau tay lại cầm tay,
càng yêu vì nết càng say vì tình.
Thêm nồng giá nỗi hương bình,
cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan.
Tình xưa lai-láng khôn hàn,
thung-dung lại hỏi ngón đàn ngày xưa?
Nàng rằng: vì mấy đường tơ,
đắm người cho đến bây-giờ mới thôi.
Ăn-năn thì sự đã rồi,
nể lòng người cũ vâng lời một phen.
Phím đờn dìu-dặt tay tiên,
bổng trầm cao thấp tiếng huyền gần xa.
Khúc đâu đầm-ấm dương hòa,
ấy là Hồ-điệp hay là Trang-sanh.[694]
Khúc đâu êm-ái xuân tình,
ấy hồn Thục-đế[695] hay mình đỗ-quyên.
Trong sao châu nhỏ gành quyên,
ấm sao hột ngọc Lam-điền mới đông.
Lọt tai nghe suốt năm cung,
tiếng nào là chẳng não-nùng xôn-xao?
Chàng rằng: nhấn ấy tay nào,
xưa sao sầu-thảm nay sao vui-vầy?
Thương vui bởi tại lòng nầy,
hay là khổ tận, đến ngày cam lai?
Nàng rằng: vì chút hay chơi,
đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu.
Một phen tri-kỷ cùng nhau,
cuốn dây từ ấy về sau cũng chừa.
Truyện-trò chửa cạn tóc-tơ,
gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông.
Tình riêng chàng lại nói cùng,
một nhà ai cũng lạ-lùng khen sao.
Cho hay thục-nữ chí cao,
phải người sớm mận tối đào như ai?[696]
Hai tình vẹn-vẽ và hai,
chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ.
Khi chén rượu lúc cuộc-cờ,
khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.
Ba sanh đã phỉ mười nguyền,
duyên đôi-lứa cũng là duyên bạn-bày.

Am tự lập xong rồi, cho đi tìm rước bà Giác-Duyên thì đã mất đi bao giờ biệt tin biệt tích.

Nhớ lời lập một am mây,
khiến người thân-thích rước thầy Giác-Duyên.
Đến nơi đóng cữa gài then,
rêu trùm trên ngạch, cỏ lên mái nhà.
Sư đà hái thuốc phương xa,[697]
mây bay hạc lánh biết là tìm đâu.?
Nặng vì chút nghĩa xưa sau,
lên am cứ giữ hương dầu hôm mai.
Một nhà phước lộc gồm hai,
thiên niên vặc-vặc quan giai lần-lần.
Thừa gia chẳng hết nàng Vân,
một cây kiều mộc, một sân quế hòe.[698]
Phong-lưu phú-quới ai bì?
vườn xuân một cửa để bia muôn đời.
Gẫm hay muôn sự tại trời,
trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong-trần phải phong-trần,
cho thanh cao mới được phần thanh cao.
Có đâu thiên vị người nào?
chữ tài chữ mạng dồi-dào cả hai.
Có tài mà cậy chi tài?
chữ tài liền vuối chữ tai một vần.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
cũng đừng trách lẫn trời gần chẳng xa.
Thẹn hờn cũng tại lòng ta,
chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Lời quê lặt-lượm dông-dài,
mua vui cũng được một vài trống canh.

KIM, VÂN, KIỀU, TRUYỆN.

CHUNG

Chú thích của bản in

  1. Trì tang. — Đi đem quan tài chú về, chịu tang. ↩
  2. Sa-sút. — Sa cơ phải kém sút thuở xưa. — Sa nghèo-nàn ↩
  3. — Vườn-tược xơ-rơ, nhà cửa xích-xác, cửa gài bằng tre. ↩
  4. Dạ đài. — Mả. ↩
  5. Rầu như dưa. — Rầu rỉ xáu đi, như dưa cải bóp muối thì nó xáu đi vậy. ↩
  6. — Dở xuyến vàng ra là của cấm Kim-trọng đưa cho Túy-kiều, ông bà còn giữ đó. ↩
  7. — Phím đờn với miếng hương của Túy-kiều đưa cho Kim-trọng. ↩
  8. Thần hôn. — (Hôn định thần tỉnh). Kim-trọng rước cha mẹ vợ về nuôi-nấng xem-sóc đêm ngày. ↩
  9. Châu triền. — Xây quanh mà lo-lắng cho. ↩
  10. Kim-mã. — (Kim mã môn) — Cữa Hàn-lâm. ↩
  11. Ngọc-đàng. — Hàn lâm viện. — Đậu tấn-sĩ. ↩
  12. Cầm đường. — Huyện đường. Vì tích ông Triệu-biện đi có cây đờn với con hạc nên kêu chỗ huyện đường là cầm đường ↩
  13. Kiên trinh. — Bền chính — Nói Túy-kiều là người trinh tiết vững lòng...... ↩
  14. — Liều mình cắt họng mà chết... rồi lại mắc lừa làm vậy ↩
  15. Tá. — Tiếng để mà hổi. ↩
  16. Vân-mồng. — Nông-nỗi. ↩
  17. Đỉnh chung. — (Vạc chung). — Giàu sang phú túc. ↩
  18. Nấn-ná. — Lần-hồi. ↩
  19. Chiếu trời. — (Thiên tử chiếu). — Chiếu vua sai. ↩
  20. Phó quan. — Đáo nhậm. — Đi nhậm sở. ↩
  21. — Thâu linh. — Chết. ↩
  22. Thổ-tù. — Quan thổ. ↩
  23. — Làm đàng thủy lục (việc vướt) cho Túy-kiều, vì nghe nói đã gieo mình xuống đó mà chết. ↩
  24. — Nước lớn sóng bổ ầm ầm. ↩
  25. Tinh-vệ. — Chim tinh-vệ, hình công chúa biến ra mà tha lấp biển mà kiếm xác chồng. ↩
  26. Nhân quả. — Nhân duyên, quả báo. ↩
  27. Đăm-đăm. — Ngằm-ngằm, ngậm-nguồi. ↩
  28. Giang tân. — Bực sông. ↩
  29. Quyển bào. — Bâu áo. ↩
  30. Độ sanh. — Vướt cho sống, khỏi chết. ↩
  31. Đoàn viên. — Sum hiệp. ↩
  32. — Phá kính trùng viên, tích Ngạc-xương công-chúa với ngươi Thúc-đại, trước có nguyền với nhau bẻ tấm kính ra; sau dâu lại in nhau, lại cho đoàn viên với nhau...... ↩
  33. Khuôn linh. — Trời. ↩
  34. — Biểu hữu mai kì thật thất hề, cầu ngã thứ sĩ, đãi kì cát hề, kì thật tam hề, cầu ngã thứ sĩ, đãi kì câm hề (Kinh thi). — Khi mai có trái, nhánh thì ba, nhánh thì bảy, chỉ con gái mở quá tuổi lấy chồng, nên hãy còn duyên, phải lấy chồng. Khi ấy Túy-kiều ba mươi tuổi. ↩
  35. — Tinh di vật hoán. ↩
  36. Nhị. — Nhụy. ↩
  37. Trần cấu. — Bụi nhơ. ↩
  38. Bố kinh. — Quần bố kinh xoa.— Nghĩa vợ chồng. ↩
  39. Cầm sắt. — Đờn cầm đờn sắt. — Vợ chồng. (Cổ sắt cổ cầm, hòa lạc khả dâm). ↩
  40. Cầm cờ. — Cầm kì. — Hòa đờn, đánh cờ. — Bạn chơi. ↩
  41. Chàng Tiêu. — Tiêu-sử, chồng công chúa Lộng-ngọc là con gái Tần-mục-công, ở trên lầu hay thổi cái tiêu, Tiêu-sử là tiên, nghe, ở trên trời bay xuống hóa cây tiêu thành vợ chồng với nhau; đến sau cả hai lấy phép tiên bay biến đi mất. ↩
  42. Giao bái. — Lạy lộn nhau. ↩
  43. — Dắc nhau lại, giao bói hiệp cẩn. ↩
  44. Mảy-may. — Chút đỉnh. ↩
  45. Âu-yếm. — Ấp-yêu, triều-mến. ↩
  46. Khoi. — Lòng. ↩
  47. — Tích ông Trang-sanh. (Trang-châu mộng thân hóa vi hồ điệp tình viết, bất tri Trang-châu hóa hồ điệp da, hồ điệp hóa Trang-châu da?) Ổng chiêm-bao thấy mình hóa ra con bướm-bướm, đến khi thức-dậy mới nói rằng: phải là tôi hóa ra con bướm-bướm hay là con bướm-bướm hóa ra tôi chăng, không biết chắc. ↩
  48. — Tích Thục-vọng-đế, nhường nước cho anh tướng tên là Tử-chi, sau nó làm ngặt phát lương cho mà ăn, tất-tưởi, mới tiếc mà hóa ra con quốc..... ↩
  49. — Kẻ đa tình ↩
  50. Hái thuốc. — (Nhập sơn thể dược). Tiếng nói về thầy chùa đi khỏi thì kêu là đi lên non hái thuốc. ↩
  51. — Đẻ được nhiều con trai. ↩