Truyện Kiều — Nguyễn Du
Kim, Vân, Kiều truyện (phần 6)
Chương 6 / 10
Túy-Kiều là đứa biết đều, biết Thúc-Sanh có vợ ở bên nhà, nên năng nói biểu về mà nói cho vợ chính hay kẻo sau rầy rà khó lòng. Thúc-Sanh về thì về chớ giấu không cho con Hoạn-thơ là vợ chính biết.
Xin chàng kíp liệu lại nhà,
trước là đẹp ý, sau ta biết tình.
Đêm ngày giữ mực giấu quanh,
rày lần mai lựa, như hình chửa thông.
Nghe lời khuyên nhủ thong dong
định tình Sanh mới quyết lòng hồi trang.[408]
Rạng ra gởi đến xuân đường,
Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.[409]
Tiễn đưa một chén quan hà,[410]
xuân đình[411] thoát đã dạo ra cao đình.[412]
Sông Tần một dải xanh xanh,
lôi thôi bờ liễu mấy nhành dương quan.
Cầm tay dài thở vắn than,
chia phui ngừng chén hiệp tan nghẹn lời.
Nàng rằng: non nước xa khơi,
sao cho trong ấm, thì ngoài mới êm.
Dể lòn chỉ thắm trôn kim,
làm chi bưng mắt, bắt chim khó lòng.[413]
Đôi ta chút nghĩa đèo-bòng,[414]
đến nhà trước liệu nói sòng cho minh.
Dầu khi mưa gió bất bình,
lớn ra oai lớn, tôi đành phận tôi.
Hơn đều giấu ngược giấu xuôi,
lại mang những việc tày trời đến sau.
Thương nhau xin nhớ lời nhau,
năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy.
Chén đưa nhớ bữa hôm nay,
chén mầng xin đợi bữa nầy năm sau.
Người lên ngựa kẻ chia bâu,[415]
rừng phong thu đã nhuốm màu quan sơn.[416]
Dặm hồng bụi cuốn chinh an,[417]
trông người đã khuất mấy ngàn cây xanh.
Người về chiếc bóng năm canh,
kẻ đi muôn dặm, một mình pha-phui.
Vầng trăng ai rẽ làm đôi,
nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.
Kể chi những nỗi dọc đường,
phòng trong lại nỗi chủ trương ở nhà.
Vốn dòng họ Hoạn danh gia,
con quan lại bộ tên là Hoạn-thơ.
Duyên đằng thuận nẻo gió đưa,
cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày.
Ở ăn thì nết cũng hay,
nói đều ràng-buộc thì tay cũng già.[418]
Từ nghe vườn mới thêm hoa,
miệng người đã lắm, tin nhà thì không.
Lửa tâm càng dập càng nồng[419]
trách người đen-bạc ra lòng trăng hoa.[420]
Ví-bằng thú thật cùng ta,
cũng dung kẻ dưới mới là đường trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
sốt chi mà chác tiếng ghen vào mình?
Lại còn bưng-bít giấu quanh
làm chi những thói trẻ ranh[421] nực cười.
Tính rằng: cách mặt khuất lời,
dối ta ta cũng liệu bài giấu cho.
Lo chi việc ấy mà lo,
kiến trong miệng chén có bò đi đâu?
Làm cho nhìn chẳng được nhau,
làm cho đày-đọa cất đầu chẳng lên.
Làm cho trông thấy nhãn tiền,
cho người tham ván bán thuyền biết tay.[422]
Trong lòng kín chẳng ai hay,
ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.
Tuần sau bỗng thấy hai người,
mách tin ý cũng liệu bài tấn công.
Tiểu-thơ nổi giận đùng đùng,
gớm thay thêu-dệt đem lòng trêu ngươi!
Lang quân nào phải như ai,
đều nầy hẳn bởi những người thị phi.
Vội-vàng làm dữ ra uy,
đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng.
Trong ngoài kín-mít như bưng,
nào ai còn dám nói năng một lời?
Buồng thêu khuya sớm thảnh-thơi,
ra vào một mực nói cười như không
Đêm ngày lòng những dặn lòng,
Sanh đà về đến lầu hồng xuống yên.
Lời tan hiệp nỗi hàn huyên,
chữ tình càng mặn, chữ duyên càng nồng.
Tẩy trần[423] vui chén thong-dong,
nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra?
Chàng về xem ý-tứ nhà,
sự mình cũng rắp lân-la giải bày.
Mấy phen cười tỉnh nói say,
tóc tơ chẳng động mảy may sự tình.
Nghĩ đà bưng kín miệng bình,[424]
nào ai có khảo mà mình lại xưng?
Những là e-ấp dùng-dằng,
rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.
Có khi vui truyện mua cười,
Tiểu-thơ lại dở những đều đâu đâu.
Rằng: trong ngọc đá vàng thau,
mười phần ta đã tin nhau cả mười.
Khen cho những miệng dông-dài,
bướm ong lại đặt những lời nọ kia.
Thiếp dầu vụng chẳng hay suy,
đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười.
Thấy lời thủng thỉnh như chơi,
thuận lời chàng cũng nói xuôi đở đòn.
Những là cười phấn cợt son,
đèn khuya chong bóng trăng tròn sánh vai.
Non xuân gỏi vược bén mùi,
giếng vàng đã nảy một vài tin ngô.[425]
Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,
một niềm quan tái[426] mấy mùa gió trăng.
Tình riêng chửa dám dỉ răng,
Tiểu-thơ trước đã liệu chừng nhủ qua.
Cách năm mây bạc[427] xa xa,
Lâm-tri cũng phải tính mà thần hôn.[428]
Được lời như mở tấc son,
vó cu thẳng ruổi nước non quê người.
Long-đong đáy nước in trời,
thành xây trổ biếc, non phơi bóng vàng.[429]
Vó cu vừa gióng dặm trường,
xa hương nàng đã thuận đường qui ninh.[430]
Thưa nhà huyên hết mọi tình,
nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen.
Nghĩ rằng giận lẫy hờn ghen,
xấu chàng mà có ai khen gì mình?
Trong nố bạn-bè có thằng Ưng thằng Khuyễn, về nói với con Hoạn-thơ. Hoạn-thơ nỗi máu ghen, cho quân ấy qua lén đốt nhà, bắt con Túy-Kiều đem về giao cho mẹ nó hành hà đày-đọa.
Vậy nên ngảnh mặt làm-thinh,
mưu cao vốn đã rắp-ranh những ngày.
Lâm-tri đàng bộ tháng chầy,
mà đàng hải đạo sang ngay thì gần.
Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,
hãy đem dây xích buộc chân nàng về.
Làm cho cho mệt cho mê,
làm cho đau-đớn ê-hề cho nao.
Trước cho bỏ ghét những người,
sau cho để một trò cười về sau.
Phu-nhân[431] khen chước rất mầu,
chìu con mới dạy mặc dầu ra tay.
Sửa-sang buồm gió lèo mây,
Khuyển, Ưng lại lựa một bầy côn-quang.[432]
Dặn-dò hết các mọi đàng,
thuận phong một lá vượt sang biển Tề.
Nàng từ chích bóng song the,[433]
đàng kia nỗi nọ như chia mối sầu.
Bóng dâu đã xế ngang đầu,[434]
biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi.
Tóc thề đã chấm quanh vai,[435]
nào lời non nước nào lời sắt son.
Đèo-bòng chút phận con-con,
nhơn-duyên biết có vuông tròn cho chăng?
Thân sao lắm nổi bất bằng,
liều như cung quảng[436] chị Hằng[437] nghĩ nao.
Đêm thu gió lọt song đào,
nữa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.[438]
Nén hương đến trước thiên đài,
nổi lòng khấn chửa cạn lời vân vân.
Lúc cháy nhà, thì quân bạn vớt xác chết trôi ném vào để làm tang. Thúc-Sanh khi ấy đi khỏi. Cha Thúc-Sanh chạy qua thấy nhà cửa cháy tan hoan, lại có gặp xương nên tưởng Túy-Kiều đã bị chết thiêu rồi.
Dưới hoa dậy lũ ác nhơn
ầm ầm khốc quỉ kinh thần mọc ra.
Đầy sân gươm tót sáng lòa,
thất-kinh nàng chửa biết là làm sao.
Thuốc mê đâu đã rưới vào,
mơ-màng như giấc chiêm-bao biết gì.
Giẩy[439] ngay lên ngựa tức-thì,
phòng thêu, viện sách bốn bề lửa dông.
Sẵn thây vô chủ bên sông,
ném vào để đánh lận sòng[440] ai hay.
Tôi-đòi phách lạc hồn bay,
pha càn[441] bụi cỏ gốc cây ẩn mình.
Thúc-ông nhà cũng gần quanh,
chợt trông ngọn lửa thất-kinh rụng-rời.
Tớ thầy chạy thẳng tới nơi,
tơi-bời rưới nước, tìm người lao-xao.
Gió tung ngọn lủa càng cao,
tôi-đòi tìm đủ, nàng nào thấy đâu?
Hớt-hơ hớt-hải[442] nhìn nhau,
giếng sâu bụi rậm, trước sau tìm quàng.
Chạy ra chốn củ phòng hương,
trong tro thấy một đống xương cháy tàn.
Ngay tình ai biết mưu gian,
hản nàng thôi lại có bàn rằng ai?
Thúc-ông rơi lụy vắn dài,
nghĩ con vắng-vẻ, thương người nết-na.
Di hài nhặt gói[443] về nhà,
nào là khâm liệm,[444] nào là tang trai.[445]
Lễ thường đã vẹn một hai,
lục trình[446] chàng cũng đến nơi bấy-giờ.
Thúc-Sanh về nghe nói lại, thì rầu rỉ khóc lóc. Mới đi đánh đồng thiếp mà kiếm Túy-Kiều, thì nói còn sống. Một năm nữa sẽ gặp nhau mà không dám nhìn; va không tin lời thầy nói.
Bước vào chốn cũ lầu thơ,
tro than một đống nắng mưa bốn tường.
Sang nhà cha tới trung đường,
linh sàng bài vị thờ nàng ở trên.
Hỗi ôi nói hết sự duyên,
tơ tình đưt ruột, lửa phiền cháy gan.
Gieo mình vật-vã khóc-than,
con người thế ấy, thác oan thế nầy!
Chắc rằng mai trước lại vầy,
ai hay vĩnh quyết[447] là ngày đưa nhau.
Thương càng nghĩ, nghĩ càng đau,
dễ ai lấp thảm, quạt sầu cho khuây.
Gần miền nghe có một thầy,
phi phù trí quỉ[448] cao tay thông huyền.[449]
Trên tam bửu[450] dưới cửu tuyền,
tìm đâu thì cũng biết tin rõ-ràng.
Sắm-sanh lễ-vật đưa sang,
xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi-han.
Đạo nhơn[451] phục trước tỉnh đàn,[452]
xuất thần dây-phút chưa tàng nén hương.
Trở về minh-bạch nói tường,
mặt nàng chẳng thấy, việc nàng đã tra.
Người nầy nặng kiếp oan gia,[453]
còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho.
Mạng cung[454] đang mắc nạn to,
một năm nữa mới thăm dò được tin.
Hai bên giáp mặt chìn-chìn,[455]
muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay!
Đều đâu nói lạ-lùng thay!
sự nàng đã thế, lời thầy dám tin?
Chẳng qua đồng-cốt quàng-xuyên,[456]
người đâu mà lại thấy trên cõi trần?
Tiếc hoa những ngậm-ngùi xuân,
thân nầy dễ lại mấy lần gặp tiên.
Nước trôi hoa rụng đã yên,
hay đâu địa-ngục ở miền nhơn-gian.
Khuyển, Ưng đã đến mưu gian
vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.
Buồm cao lèo thẳng cánh xiên,
đè chừng huyện Tích, băng miền vượt sang.
Đến bến lên trước thính-đường,[457]
Khuyển, Ưng hai đứa nộp nàng dâng công.
Vực nàng tạm xuống môn phòng,[458]
hãy còn thíp-thíp giấc nồng chưa-phai.
Huỳnh lương[459] chợt tỉnh trước mai,
cửa nhà đâu mất lầu đài nào đây?
Bàng-hoàng dở tỉnh dở say,
thính-đường mắng tiếng đòi ngay lên hầu.
A-hườn[460] trên dưới giục mau,
hãi-hùng nàng mới theo sau mọi người?
Léc trông toà rộng dãy dài,
thiên quan trủng-tể, có bài treo trên;
Ban ngày đèn thắp hai bên,
trên giường thất-bửu,[461] ngồi trên một bà.
Gạn-gùng ngọn hỏi ngành tra,
sự mình nàng đã cứ mà gởi thưa.
Bất tình nổi trận mây mưa,
mắng rằng những giống bơ thờ quen thân.
Con nầy chẳng phải thiện nhân,
chẳng màu trốn chủ thì quân lộn chồng.
Ra tuồng mèo mả, gà đồng,[462]
ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào.
Đã đem mình bán cửa tao,
lại còn khủng khỉnh[463] làm cao thế nầy.
Gia pháp đâu trẻ nọ bay,[464]
hãy cho ba chục biết tay một lần.
A hườn trên dưới dạ rân,
dẫu rằng: trăm miệng khôn phân lẽ nào.
Trước côn[465] ra sức sắp vào,
thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh?
Xót thay đào lý[466] một nhành,
một phen mưa gió tan-tành một phen.
Hoa-nô truyền dạy đổi tên,
phòng thêu dạy áp vào phiên thị-tì.[467]
Ra vào theo lủ thanh y,[468]
dãi dầu tóc rối da chì quản bao.
Quản-gia có một mụ nào,
thấy người thấy nết ra vào mà thương.
Khi trà chén, khi thuốc thang,
giúp lời phương tiện,[469] mở đàng hiếu sanh.[470]
Dạy rằng: may rủi đã đành,
liễu hồ mình giữ lấy mình cho hay.
Cũng là oan-nghiệp chi đây,
sa cơ mới đến thế nầy chăng rưng?[471]
Ở đây tai vách, mạch rừng,[472]
thấy ai người cũ, cũng đừng nhìn chi,
Kẻo khi sấm sét bất kỳ,
con ong cái kiến kêu gì đặng oan?
Nàng càng đổ ngọc[473] như chan,
no lòng no những bàn-hoàn niềm tây.
Phong trần kiếp đã chịu dày,
lầm than[474] lại có thứ nầy bằng hai.
Làm sao bạc chẳng vừa thôi?
chằng-chằng buộc mãi lấy người hồng nhan?
Đã đành túc trái tiền oan,[475]
cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi.
Những là nương-náu qua thì,
Tiểu-thơ phải buổi mới về ninh gia.
Chú thích của bản in
- Hồi trang. — Sắm sửa đi về. ↩
- Ninh gia. — Thăm nhà. ↩
- — Sắm tiệc tiễn-hành mà đưa kẻ trèo non lặn suối, đi đường xa-xuôi. ↩
- Xuân đình. — Từ giả cha rồi, lại ra trường đình mà đưa nhau. ↩
- Cao đình. — Chỗ trường đình nơi đưa đón nhau. ↩
- Bưng mắt bắt chim. — Thoa tròng đen người ta. ↩
- Đèo bòng. — Vá múc thêm. (Thêm trái bòng nữa). ↩
- Chia bâu: (Biệt mị). — Phân rẽ nhau ra. ↩
- — Lá cây phong đã nhuốm màu úa, chỉ qua thu kiểng. ↩
- Chinh an. — Bụi hồng đã bay lấm cái yên ngựa kẻ đi đường. ↩
- — Hay xoi-xỉa, hay ghen tương lắm. ↩
- — Cái máu ghen càng nín càng hung. ↩
- Trăng hoa.— Nguyệt hoa — Ngoại tình, trai gái. ↩
- Trẻ ranh.— Con nít, còn trẻ. ↩
- — Thấy ván mới muốn mua, không tiền trả phải bán ghe đi mà trả. ↩
- Tẩy trần. — Tiệc rửa bụi.— Tiệc mầng. ↩
- — Nghĩ trong mình việc đã kín đáo như bỏ trong bình đậy nút lại. ↩
- — Ngô đồng nảy mụt chỉ đã qua đầu thu. ↩
- Quan tái. — Cửa ải. ↩
- Mây bạc. — Cách mặt cha mình là ông Thúc-chánh. ↩
- Thần hôn. — (Thần tỉnh hôn định). — Sớm viếng tối thăm, sửa-sang cho cha. ↩
- — Nhằm mùa thu. ↩
- Qui ninh. — Con gái về thăm mẹ. ↩
- Phu-nhân. — Vợ quan nhứt phẩm, nhì phẩm thì kêu là phu nhơn. ↩
- Côn-quang. — Quân hoang-đàng. ↩
- — Từ Thúc-Sanh đi về thăm nhà, Túy-kiều ở lại một mình chèo-queo. ↩
- — Gần hết mùa thu. ↩
- — Tóc cắt mà thề với Thúc-sanh đã ra xuống chấm vai. ↩
- Cung quảng. — Quảng hào cung. — Trên mặt trăng. ↩
- Ả Hằng-nga. — Là vợ Hậu-nhgệ, ăn cắp thuốc tràng sanh của Hậu-nghệ nấu, nên sợ chồng đánh liền bay lên nguyệt cung mà ở. ↩
- — Tam tinh tại thiên. (Sách Thi-kinh). ↩
- — Xô, bồng, rinh. ↩
- Đánh lận sòng. — Đánh lận, gạt. ↩
- Pha càn. — Chạy bậy. ↩
- Hớt-hơ hớt-hải. — Sớng-sác sớng-sưởi. ↩
- Di hài nhặt gói. — Lượm-lặt mà gói cái xương còn lại đó.... ↩
- Khâm liệm. — Đồ êm mà liệm xác. (Đại khâm, tiểu khâm; đại liệm, tiểu liệm). ↩
- Tang trai. — Để tang, làm chay. ↩
- Lục trình. — Đi bộ. ↩
- Vĩnh quyết. — Trối-dài. ↩
- Phi phù trí quỉ. — Trổi bùa đánh đồng thiếp. ↩
- Thông huyền. — Thông tới huyền đô. (Dưới âm phủ). ↩
- Tam bửu. — Chỗ Phật. — Cửu-tuyền là dưới Diêm-la ↩
- Đạo-nhơn. — Lão thầy phù thủy. ↩
- Tỉnh đàn. — Bàn thờ. ↩
- Oan-gia. — Sự khốn nạn cực khổ. ↩
- Mạng cung. — Mười hai cung mạng người ta. ↩
- Chìn chìn. — Chằng chằng. ↩
- Quàng-xuyên. — Đánh đồng thiếp, lên cốt bong chàng là đều bậy-bạ bá-láp bá-lếu. ↩
- Thính đường. — Nhà khách quan. ↩
- Môn phòng. — Nhà dưới, chỗ sau bếp núc. ↩
- Huỳnh-lương. — Chín nồi cháo kê mới tỉnh hồn lại.— Là có tích Tô-đỉnh chiêm bao. Tô-đỉnh tính đi thi, ra quán xin thầy coi tướng coi thử sẽ đậu hay là không. Ông thầy nói đi thì không có đậu được đâu mà đi, đừng đi thì hay hơn. Tô-đỉnh mắng trở lại, không chịu. Sao vùng buồn ngủ, ông thầy cho mượn cái gối nằm xiểu đó mà ngủ; liền nằm chiêm bao thấy đi thi đỗ làm quan lớn cho đến chức tể tướng, sau bị còng tội vua quở xin về hưu trí, vua giận cách đi hết, lại giam tại nơi trấn phủ, ở trỏng, khi bà con vô tham, rầu khóc òa lên, mở mắt ra mới biết là chiêm bao. Nội cuộc làm quan đó đã hơn hai mươi năm. Trước khi ngủ thấy vò chõ kê, thức dậy thì kê đã chín. Ấy là tích huỳnh-lương. ↩
- A-huờn. — Đầy tớ gái nhà quan. ↩
- Giường thất-bửu. — Giường cẩn ngọc báu quí. ↩
- Mèo mả. — Mèo hoang. —Gà đồng. — Con ếch. (Điền kê.) ↩
- Khủng-khỉnh. — Hủng-hỉnh. ↩
- Gia pháp. — Roi. ↩
- Trước côn. — Roi tre. ↩
- Đào lý. — Cây đào, cây lý. — Thân phận con gái yếu đuối, bị đòn tơ-tải như cây đào cây lý bị dông mưa xơ-xải. ↩
- Thị-tì. — Đầy tớ gái hầu. ↩
- Thanh y. — Đầy tớ mặc áo xanh. ↩
- Lời phương tiện. — Lời an ũi, nói hơn thiệt cho mà giải sầu. ↩
- Mở đàng hiếu sanh. — Kẻo mà chết đi uổng mang. ↩
- Rưng. — Nhưng. ↩
- Tai vách, mạch rừng — Ở đây rừng có mạch, vách có tai. ↩
- Đổ ngọc. — Đổ nước mắt. ↩
- Lầm than. (Đồ thán) — Cực khổ. ↩
- Túc trái tiền oan. — Nợ cũ, oan trước ↩