Truyện Kiều — Nguyễn Du
Tài cao thì mạng kém; được bề nầy, mất bề kia không hề cân nhau bao-giờ
Chương 1 / 10
KIM, VÂN, KIỀU TRUYỆN
Tài cao thì mạng kém; được bề nầy, mất bề kia không hề cân nhau bao-giờ.
Trăm năm,[1] trong cõi người-ta,
chữ tài chữ mạng[2] khéo là ghét nhau!
Trải qua một cuộc bể dâu,[3]
những điều trông thấy đã đau-đớn lòng!
Lạ chi bỉ sắc tư phong?[4]
trời xanh quen với má hồng đánh ghen?
Tài sắc ba chị em Túy-Kiều.
Kiểu thơm[5] lần dở trước đèn,
phong tình có lúc còn truyền sử sanh.
Rằng năm Gia-tĩnh triều Minh,
bốn phương phẳng-lặng, hai kinh[6] vững-vàng;
Có nhà Viên-ngoại họ Vương,
gia-tư nghỉ cũng thường-thường bực trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương-quan là chữ nối dòng nhu-gia.
Đầu lòng hai ả Tố-nga,[7]
Túy-kiều là chị, em là Túy-vân.
Mai cốt-cách, tuyết tinh-thần,[8]
một người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang-trọng tót vời,[9]
khuôn lưng đầy-đặn, nét người nở-nang
Hoa cười ngọc thốt đoan-trang,
mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc-sảo, mặn-mà,
so bề tài sắc, lại là phần hơn.
Gương thu thủy, vít xuân sơn,[10]
hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh;
Một đôi nghiêng nước nghiêng thành,
sắc đành đòi một, tài đành hòa hai:
Thông-minh vốn sẵn tư[11] trời,
vẹn nghề thi họa, đủ nghề ca ngâm.
Cung thương làu bực năm âm,[12]
nghề riêng ăn đứt, hồ cầm[13] một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
một thiên bạc-mạng lại càng não nhân.
Phong-lưu rất mực hồng-quần,
xuân-xanh xấp-xỉ tới tuần cập-kê.[14]
Ym-niềm (hay là iêm-liềm) trướng xủ màn che,
tường đông ong bướm, đi về mặc ai.
Ba chị em đi ăn thanh-minh.
Mùa xuân con én đưa thoi,
thiều-quang[15] chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chơn trời,
thành lê trắng điểm một vài bông-hoa.
Thanh-minh[16] trong tiết ngày ba.
lễ là tảo mộ, gọi là đạp thanh.
Gần xa náo-nức én-anh,
chị em sắm-sửa bộ hành chơi xuân.
Dập-dều tài tử giai-nhơn,
ngựa-xe như nước, áo-quần như nêm.[17]
Ngổn-ngang gò đống kéo lên,
thoi vàng bỏ rắc, tro tàn giấy bay.
Túy-Kiều ghé viếng mả Đạm-Tiên.
Tà-tà bóng ngã về tây,[18]
chị-em thơ-thẩn ran tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
lần xem phong-cảnh có bề thanh-thanh.
Nao-nao dòng nước uốn quanh,
nhịp cầu nhỏ nhỏ cuối gành bước sang.
Sờ sờ nấm đất bên đàng,[19]
dàu-dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng sao trong tiết thanh minh,
mà đây hương-khói vắng-tanh thế mà?
Vương-quan mới dẫn gần xa,
Đạm-tiên nàng ấy xưa là ca nhi:[20]
Nổi danh tài sắc một thì,
xôn xao ngoài cửa hiếm gì én anh?
Kiếp hồng nhan có mong-manh,[21]
nửa chừng xuân, thoạt gãy nhành thiên-hương![22]
Có người khách ở viễn-phương,
xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi;
Thuyền tình[23] vừa ghé đến nơi,
thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ:[24]
Phòng không lạnh ngắt như tờ,
dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh;
Khóc than khôn xiết sự tình,
khéo vô duyên bấy là mình[25] với ta!
Đã không duyên trước chẳng thà,
thì chi chút đích[26] gọi là duyên sau?
Sắm-sanh níp giấy xe châu,[27]
vùi nông[28] một nắm mặc dầu cõ hoa;
Trải bao thỏ lặn ác tà,[29]
ấy mồ vô chủ, ai mà viếng-thăm?
Lòng đâu sãn mỏn thương-tâm,
thoạt nghe, Kiều đã đằm đằm châu sa.
Đau-đớn thay phận đờn-bà!
lời rằng: bạc-mạng cũng là lời chung.
Phụ-phàng chi bấy hóa-công?[30]
ngày xanh mòn-mỏi má hồng phui-pha?
Sống làm vợ khắp người-ta,
hại[31] thay thác xuống làm ma không chồng?
Nào người phụng chạ loan chung?
nào người tiếc lục tham hồng là ai ?
Đã không kẻ đoái người hoài,
sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.
Gọi là gặp gỡ giữa đàng,
họa là người dưới suối vàng[32] biết cho.
Lâm dâm khấn-vái nhỏ to,
sụt ngồi và gật[33] trước mồ bước ra;
Một vùng cỏ áy bóng tà,[34]
gió hiu-hiu thổi một và ngọn lau.
Rút trâm sẵn giắt mái đầu,
vạch da cây, vịnh bốn câu ba vần.
Lại càng mê-mẩn tâm thần,
lại càng đứng sửng tần-ngần chẳng ra?
Lại càng ủ-dột nết hoa,
sầu tuôn đứt nối châu sa vắn dài.
Vân rằng: chị, cũng nực cười
khéo dư nước mắt khóc người đời xưa?
Rằng hồng-nhan tự thuở xưa,
cái điều bạc-mạng có chừa ai đâu?
Nỗi niềm tưởng đến mà đau,
thấy người nằm đấy biết sau thế nào?
Quan rằng: chị nói hay sao?
một điều là một vần vào khó nghe?
Ở đây âm-khí nặng-nề,
bóng chiều đã ngã, dặm về còn xa.
Kiều rằng: những đứng tài-hoa,
thác là thấy-phách,[35] còn là tinh-anh.
Dễ hay tình lại gặp tình,
chờ xem ắt thấy hiển-linh bây-giờ.
Một lời nói chửa kịp thưa,
phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay.
Ào-ào đổ lộc rung cây,
ở trong dường có hương bay ít nhiều.
Đè chừng ngọn gió lần theo,
vít giày từng bước in rêu rành-rành.
Mặt nhìn ai nấy đều kinh,
nàng rằng: nầy thực tinh thành chẳng xa:
Hữu tình ta lại biết ta,
chẳng nề u hiển mới là chị em?
Đã lòng hiển hiện cho xem,
tạ lòng nầy lại nối thêm và lời.
Lòng thơ lai-láng bồi hồi,
gốc cây lại vạch một bài cổ thi.
Túy-Kiều gặp Kim-Trọng phải lòng mình.
Dùng-dằng dở ở dở về,
lạc vàng đâu đã tiếng nghe gần-gần.
Trông chừng thấy một văn-nhân,
lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng[36]
Đề-huề lưng túi gió trăng,[37]
sau chơn theo một vài thằng con-con.
Tuyết in sắc ngựa cu don,[38]
cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.[39]
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
khách đà xuống ngựa tới nơi tự-tình.[40]
Giai-nhơn[41] lần bước dặm xanh,
một vùng như thấy cây quình nhành đao.[42]
Chàng Vương quen mặt ra chào,
hai Kiều e mặt nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh-quất đâu xa,
họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm-anh.[43]
Nền phú-hậu, bực tài-danh,[44]
văn-chương nét đất, thông-minh tánh trời.
Thiên-tư tài-mạo tót vời,
vào trong phong nhã[45] ra ngoài hào hoa.
Đông-quanh[46] vẫn nước đất nhà,
với Vương-quan trước vẫn là đồng-thân.[47]
Vẫn nghe thơm nực hương-lân,
một nền đồng-tước[48] toả xuân hai kiều.[49]
Nước non cách mấy buồng thêu,[50]
những là trộm nhớ thầm yêu chóc-mòng.
May thay giải-cấu tương phùng![51]
gặp tuần đổ lá[52] thỏa lòng tìm hoa.
Bóng hồng liếc thấy nẻo xa,
xuân lan, thu cúc mặn-mà cả hai.
Người quấc sắc, kẻ thiên tài[53]
tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
Rập rình cơn tỉnh cơn mê,
rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn.
Gió chiều như giục cơn buồn,
khách đà lên ngựa, người còn ghé theo.
Nhịp cầu dải nước trong veo,
bên cầu tơ liễu bóng chiều tha-la.[54]
Túy-Kiều về những thương Đạm-Tiên, nhớ Kim-Trọng.
Kiều từ trở gót trướng hoa,
mặt-trời lặn núi, chiêng đà thu không.
Gương nga[55] vạnh-vạnh[56] đầy song,
vàng gieo ngằn nước, cây lồng bóng sân.[57]
Hải-đường[58] rã ngọn đông lân,
giọt sương gieo nặng, nhành xuân là đà.
Đằm-đằm lặng ngắm bóng nga[59]
đon[60] đường gần với nẻo xa bời-bời.
Người mà đến thế thì thôi,
đời phiền-hoa[61] cũng là đời bỏ đi.
Người đâu gặp-gỡ làm chi?
trăm năm biết có duyên gì hay không?
Ngổn-ngang trăm mối bên lòng;
nên câu tuyệt-diệu ngụ trong tánh-tình.
Đạm-Tiên hiện chim-bao cho Tuy-Kiều biết Túy-kiều cũng phải mắc số đoạn trường.
Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,[62]
dựa loan bên triện một mình thiu-thiu.
Thoát đâu thấy một tiểu kiều,
có chìu phong-vận,[63] có chìu thanh-tân.[64]
Sương in mặt tuyết pha thân,
trên vàng[65] lững-đững như gần như xa.
Chào mừng don-hỏi dò-la,
nguồn đào lạc lối, đâu mà đến đây?
Thưa rằng: thinh khí[66] xưa nay,
mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?
Hàn gia[67] ở mái tây thiên,
dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu.
Mấy lòng hạ cố[68] đến nhau,
mấy lời hạ tứ[69] ném châu gieo vàng,
Vâng trình hội chủ[70] xem tường,
mà xem trong sổ đoạn-trường[71] có tên.
Âu đành quả kiếp nhơn-duyên,
cũng người một hội một thuyền đâu xa.
Nầy mười bài mới, mới ra,
câu thần lại mượn bút hoa vẽ-vời.
Kiều vâng lãnh ý đề bài,
tay tiên một vẽ, đủ mười khúc ngâm.
Xem thơ thắc thỏm khen thầm,
giá đành tú khẩu cẩm tâm[72] khác thường.
Ví đem vào tập đoạn-trường,
thì treo giải nhứt, chi nhường cho ai?
Thềm hoa khách đã trở hài,
nàng còn cầm lại một hai tự tình.
Gió đâu trịch bức mành-mành,
tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm-bao.
Trông theo nào thấy đâu nào,
hương thùa dường hãy ra vào đâu đây?
Một mình lưỡng-lự canh chầy,
đường xa nghĩ nỗi sau nầy mà kinh.
Hoa trôi bèo giạt đã đành,
biết duyên mình, biết phận mình thế thôi.
Nỗi riêng dập-dập sóng dồi,
nghĩ đòi cơn lại sụt-sùi đòi cơn.
Chú thích của bản in
- — Đời người-ta một trăm năm làm hạn, vì vậy: « Ba vạn sáu ngàn ngày » « Bá niên giai lão. » ↩
- — Hữu tài vô mạng, hữu mạng vô tài, tài mạng tương đố. Hễ có tài thì không có mạng, mà có mạng thì lại không có tài, nên rằng: tài mạng ghét nhau, ganh nhau. ↩
- — Tam thập niên vi nhứt biến, thương hãi biến vi tang điền, tang điền biến vi thương hãi. — Chỉ cuộc đời hay đổi-dời. Vực hóa cồn, cồn hóa vực. ↩
- — Kia rít ấy chời. — Được cái kia ít, thì cái ấy nhiều, không cân nhau bao-giờ. ↩
- — Sách hay, bản hay. ↩
- — Là Nam-kinh với Bắc-kinh. — Bắc là Yên-kinh, Nam là Kim-lăng. ↩
- — Nàng Tố-nga, hay-là gã Hằng-nga, là thằng cuội ở trên trăng. — Chỉ là tiên, xinh-tốt. ↩
- — Cốt-cách diệu-dàng như mai, tinh-thần trắng trong như tuyết. ↩
- — Ngay-thẳng, tử-tế, đề-đạm. ↩
- — Nhãn hoành thu thủy, mi tợ viễn sơn. — Con-mắt trong như nước mùa thu, chang-mày như hình núi coi xa. ↩
- Thiên tư. — Tánh trời cho. ↩
- — Là cung, thương, giác, trỉ, võ. ↩
- Hồ cầm. — Cái nguyệt cầm. Dáng nó bởi bên mọi Hồ bày ra nên kêu là Hồ cầm. ↩
- — Thập hữu ngũ niên nhi kê.— Đến mười lăm tuổi gái mới giắt trăm, nên kêu Tuần cập kê, là tới chừng mười lăm tuổi. ↩
- — Cửu thập thiều quang. — Chỉ mùa xuân ba tháng (là 90 ngày) mà ngoài sáu mươi là đã qua khỏi hai tháng rồi, vừa qua mồng ba tháng ba. ↩
- Tiết thanh-minh. — Ngày mồng ba tháng ba đi giẫy mả. — Hàn thực, tích Tấn-văn-công tìm Giá-tử-suy; cấm lửa ba ngày vì thương tiết Tử-suy bị đốt rừng cho mà ra mà không ra ở trong ấy mà chết. ↩
- — Người-ta đông dập-dìu, chật như nêm. ↩
- — Chiều, mặt-trời xiêng lặn. ↩
- Nấm đất. — Mả, đắp mô lên. ↩
- — Con hát. — Con đĩ. ↩
- Mong-manh. — Mỏng-mẻo, mỏng-mảnh. Hồng nhan bạc phận. ↩
- — Quốc-sắc thiên hương. — Trang mĩ nữ. — Con gái xinh. ↩
- — Tình nhơn. — Người có tình, phải lòng.... ↩
- — Trâm chiết bình trầm. — Chết đi rồi. ↩
- — Mình là chỉ con Đạm-tiên. ↩
- — Chút đỉnh, chút xiểu. ↩
- Níp giấy. — là rương để đồ minh-khí. — Xe châu — Nhà táng, nhà vàng, rạp để chôn xác. ↩
- — Chôn cạn-cạn. ↩
- — Biết đà bao lâu nam đã qua rồi. Nhựt nguyệt vãng lai bất tri kỷ niên. Thỏ là thỏ bạc — Mặt trăng. Ác là ác-vàng. — Mặt trời. ↩
- — Tạo hóa công — Thợ trời; Đứng dựng nên trời đất muôn vật. ↩
- — Thương hại thay! ↩
- — Hoàng tuyền khách. — Suối vàng. Âm-phủ. ↩
- Và gật — Vài cái gật đầu. — Lạy vài cái. ↩
- Cỏ áy — Cỏ xấu. — Bóng tà. Chiều. (Thái dương ảnh tà). ↩
- — Tử kiến tinh phách. — Thấy vía người mất. — Tinh anh (Sanh thị anh minh). Thông-minh. ↩
- — Đường đi ↩
- — Chỉ người có tính hay ve-vãn. ↩
- — Con ngựa cu don-don. ↩
- — Áo xanh. (Thiên thanh). ↩
- Tự tình. — Nói chuyện. ↩
- — Người tử-tế. ↩
- — Ngó vô đám ấy thấy hai người con gái xinh lắm. ↩
- Trâm anh. — Con nhà quan, con nhà tử-tế. ↩
- — Con nhà giàu đã lâu đời, học hành giỏi. ↩
- Phong nhã.— phong lưu nhã. — Hào hoa. — Lịch sự có thể có thiếp. ↩
- — Xung-quanh. Chung-quanh ↩
- — Quen lớn lại là bạn học. ↩
- Đồng tước. — Đài đồng tước, đời hậu Hán, Tào-mạnh-đức làm ra để lấy cho được Đông-ngô bắt nhị kiều mà đem về đó. ↩
- Toả xuân. — Khoá phòng xuân ↩
- Buồng thêu. — Tú phòng. — Buồng con gái. ↩
- — Gặp-gỡ nhau. ↩
- Tuần đổ lá — là mùa đông lá rụng; Mai khi rụng lá hết đi rồi, thì mới trổ bông. ↩
- Người quốc sắc. — Là Túy-Kiều. — Kẻ thiên tài, là chỉ về Kim-trọng. ↩
- Tha-la. — Rã ra, phất-phơ. ↩
- — Mặt trăng. — ↩
- — Tròn tròn ↩
- — Mặt trời đã lặn đi rồi, đêm thâm trang mọc đã gie bóng ra trước sân. ↩
- — Tên cây hải đường nó rã ngọn qua nhà gần đó mà ở phía đông. ↩
- — Đằm-đằm ngồi nhắm bóng trăng. ↩
- — Don-ren. — Hỏi trong mình, nghĩ.... ↩
- Phiền hoa. — Lịch sự, xinh tốt ↩
- — Khuya rồi. ↩
- Phong-vận. — Xinh-tốt. ↩
- Thanh-tân. — Sạch-sẽ. ↩
- — Trên càn tơn vàng. Còn như đọc: sen vàng... thì chi là Đạm-Tiên đi tới mà bước trên là sen vàng Vua-Trụ mê làm cho con Đắt-Kỉ đi vậy. ↩
- Thinh khí. (Đồng thinh tương ứng, đồng khí tương cầu). ↩
- Hàn-gia.— Nhà nghèo. (Mả con Đạm-tiên). ↩
- Hạ cố. — Ngó xuống. — Lạy, cúng, quải. ↩
- Hạ tứ. — Cho xuống. (Làm thơ cho hay như ném châu gieo vàng). ↩
- Hội chủ. — Mụ trùm. Coi lấy bọn đĩ-điếm. ↩
- Đoạn-trường. — Sổ quản đi điếm. ↩
- — Miệng thêu lòng gấm. — Khoa ngôn-ngữ. ↩