Trang chủ Viện

Truyện Kiều — Nguyễn Du

Từ-Hải tới chơi gặp Túy-Kiều, chuộc đem về làm vợ

Chương 8 / 10

Từ-Hải tới chơi gặp Túy-Kiều, chuộc đem về làm vợ.

Lần thâu gió mát trăng thanh,
bỗng đâu có khách biên-đình đến chơi.
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
vai năm vừng rộng, thân mười thước cao.
Đường đường[540] một đấng anh-hào,
côn quyền[541] hơn sức, lược thao[542] gồm tài.
Đội trời đạp đất ở đời,
họ Từ tên Hải vốn người Việt-đông.
Giang hồ quen thú vẫy-vùng,
gươm đàn nửa cánh, non sông một chèo.[543]
Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,
tấm lòng nhi-nữ cũng xiêu anh-hùng.
Thiệp-danh đưa đến lầu hồng,
hai bên cũng lét[544] hai lòng cũng ưa.
Từ rằng: tâm phủ tương cờ,[545]
phải người trăng gió vật-vờ[546] hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
mắt xanh chẳng để ai vào dồng không.[547]
Một đời được mấy anh-hùng?
bõ[548] chi cá chậu chim lồng mà chơi.
Nàng rằng: người dạy quá lời,
thân nầy con dám xem ai làm thường.
Chút riêng chọn đá thử vàng,
biết đâu mà gởi can-tràng vào đâu?
Còn như vào trước ra sau,
ai cho kén chọn vàng thau tại mình.
Từ rằng: lời nói hữu tình,
khiến người lại nhớ câu Bình-nguyên-quân.[549]
Lại đây xem lại cho gần,
phỏng tin được một vài phần hay không?
Thưa rằng: lượng cả bao-dong,
Tấn-dương[550] đợi thấy bay rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội hoa hèn,
chút thân bèo-bọt, dám phiền mai sau.
Nghe lời vừa ý gặc đầu,
cười rằng: tri kỷ trước sau mấy người?
Khen cho con-mắt tinh đời,
anh-hùng tìm giữa trần ai mới già.
Một lời đã biết đến ta,
muôn chung ngàn tứ[551] cũng là có nhau.
Hai bên ý hiệp, tâm đầu,
khi thân chẳng lựa là cầu mới thân.
Ngỏ lời nói vuối băng-nhân,
tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
Phòng riêng sửa chốn thanh-nhàn,
đặt giường thất-bảo[552] vây màn bát-tiên.[553]
Trai anh-hùng, gái thiền-quyên,
phỉ nguyền sính phụng đẹp duyên cỡi rồng.

Từ-Hải tính đi làm giặc. Kiều xin đi theo, mà Từ-Hải không cho, nói bận chơn, bận cẳng, khó lòng; hãy ở lại nhà, nội trong một năm sẽ về rước.

Nửa năm hương lửa đang nồng,
trượng-phu phút đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời đất mênh-mông,
thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng xông.
Nàng rằng: phận gái chữ tòng,
chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi
Từ rằng: tâm phủ tương tri,[554]
sao chưa thoát khỏi nữ-nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
tiếng bề[555] dậy đất bóng sinh[556] dẹp đường.
Làm cho rõ mặt phi-thường,
bấy-giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
Bằng nay bốn biển không nhà,
theo càng thêm bận biết là đi đâu.
Đành lòng chờ đó ít lâu,
chầy chăng là một năm sau vội gì?
Quyết lòng dứt áo ra đi,
gió mây bằng đã đến kỳ dặm khơi.
Nàng thì chếch bóng song mai,[557]
ngày thâu đãng-đãng[558] nhặt gài then mây.

Túy-Kiều ở nhà một mình buồn nhớ tới cha mẹ cùng chị em và nhớ lời nguyền thuở xưa với Kim-Trọng.

Sân rêu chẳng vẽ dấu giày,
cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân.
Đoái thương muôn dặm tử phần,[559]
hồn quê[560] theo ngọn mây hồng xa-xa.
Xót thay huyên cội xuân già,
tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi?
Chốc là mười mấy năm trời,
còn ra khi đã da mồi tóc sương.
Tiếc thay chút ngãi cũ-càng!
dẫu lìa mối chỉ còn vương tơ lòng.
Duyên em dầu nối chỉ hồng,
may ra khi đã tay bồng tay mang.
Tấc lòng cố quốc tha hương,
đường kia nỗi nọ ngỗn-ngang bời-bời.
Cánh-hồng[561] bay bổng tuyệt vời,
đã mòn con-mắt phương trời đăm-đăm.[562]
Đêm ngày luống những âm-thầm,
lửa binh đâu đã ầm ầm một phương.

Từ-Hải làm giặc được, đem binh trở về rước Túy-Kiều.

Ngất trời sát khí mơ-màng,
đầy sông kình-ngạc, chật đàng giáp binh.
Người quen-thuộc, kẻ dông quanh,[563]
rủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi.
Nàng rằng: trước đã hẹn lời,
dẫu trong nguy-hiểm dám rời ước xưa?
Còn đang giùi thẳng ngẩn ngơ,
mái ngoài đã thấy ngọn cờ, tiếng la.[564]
Giáp binh kéo đến quanh nhà,
đồng thanh[565] cùng hỏi nào là phu-nhân.
Hai bên mười vị tướng quân,
đặt gươm cỗi giáp trước sân khấu đầu.
Cung-nga thể-nữ theo hầu,
rằng: vâng lệnh chỉ rước chầu[566] vu qui.
Sẵn sàng phượng tán loan nghi,[567]
hoa-quang[568] giấp-giới, hà-y rỡ-ràng.[569]
Kéo cờ nổi trống lên đàng,
trúc tơ nổi trước, kiệu vàng kéo sau.
Hỏa-bài[570] tiền lộ ruổi mau,
nam đình nghe động trống chầu đại-dinh.
Kéo cờ lũy, phát súng thành,
Từ-công ra ngựa thân nghinh cửa ngoài
Rỡ mình lạ vẻ cân đai,
hãy còn cằm én mày ngài như xưa.
Cười rằng: cá nước duyên ưa,
nhớ lời nói những bao-giờ hay không?
Anh hùng mới biết anh-hùng,
rày xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?
Nàng rằng: chút phận ngây-thơ,
cũng may dây cát được nhờ bóng cây,
Rằng: bây-giờ mới thấy đây,
mà lòng đã chắc những ngày một hai.
Cùng nhau trông mặt cả cười,
dan tay về chốn trướng-mai tự tình.
Tiệc bày thưởng tướng khao binh,[571]
ầm-ầm trống trận rập-rình nhạc quân.
Vinh-hoa bỏ lúc phong-trần,
chữ tình ngày lại thêm thân một ngày.

Túy-Kiều nhờ oai quờn Từ-Hải; khi ấy mới xin đền ơn trả oán

Trong quân nhơn lúc vui-vầy,
thong-dong mới kể sự ngày hàn vi.
Khi Vô-tích khi Lâm-tri,
nơi thì lừa đảo, nơi thì xót-thương.
Tấm thân rày đã nhẹ nhàng,
chút còn ân oán đôi đàng chưa xong.
Từ công nghe nói thỉ chung,
bất-bình nổi trận đùng-đùng sấm vang.
Nghiêm quân tuyển tướng sẵn-sàng,
dưới cờ một lệnh vội-vàng ruổi sao?[572]
Ba quân[573] chỉ ngọn cờ đào,
đạo ra Vô-tích, đạo vào Lâm-tri.
Mấy người phụ-bạc xưa kia,
chiếu danh tầm hoạch bắt về đãi-tra.
Lại sai lệnh-tiển[574] truyền qua,
giữ-giàng họ Thúc một nhà cho yên.
Mụ Quản-gia, vãi Giác duyên,
cũng sai lệnh tiển, đem tin rước mời.
Thệ-sư[575] kể hết mọi lời,
lòng-lòng cũng giận, người-người chớp uy.
Đạo trời báo-phục chỉn ghê,
khéo thay một mảy tóm về đầy nơi
Quân trung gươm lớn giáo dài,
vệ trong thị lập,[576] cơ ngoài song phi.[577]
Sẵn-sàng tề-chỉnh oai-nghi,
vác đồng[578] chật đất, sanh kỳ[579] dẹp sân.
Tướng hùm mở giữa trung quân,
Từ-công sánh vuối phu nhân cùng ngồi.
Tiên nghiêm[580] trống chửa dứt hồi,
điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên.
Từ rằng: ân-oán hai bên,
mặc nàng xử quyết báo đền cho minh.
Nàng rằng: nhờ-cậy uy-linh,
hãy xin báo đáp ân tình cho phu.
Báo ơn rồi sẽ trả thù,
Từ rằng: việc ấy để cho mặc nàng.
Cho gươm truy đến Thúc lang,
mặt như chàm đổ, thân dường cầy run.[581]
Nàng rằng: nghĩa trọng ngàn cân,
Lâm tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm thương[582] chẳng vẹn chữ đồng,
tại ai há dám phụ lòng cố-nhơn?
Gấm trăm cuốn, bạc ngàn cân
tạ lòng dễ xứng báo ơn gọi là?
Vợ chàng quỉ-quái tinh ma,
phen nầy kẻ cắp, bà già gặp nhau.[583]
Kiến bò miệng chén chớ lâu,[584]
mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.
Thúc sanh trông mặt bấy-giờ,
mồ-hôi chàng đã như mưa ướt đầm.
Lòng riêng mầng sợ khôn cầm,
sợ thay mà lại mầng thầm cho ai.
Mụ-già, Sư trưởng[585] thứ hai,
thoạt đưa đến trước, vội mời rước lên.
Dắc tay mở mặt cho nhìn:
Huê-nô kia vuối Trạc-tuyền cũng tôi.
Nhớ khi lỡ bước sẩy vời,
non vàng chữa dễ đền hồi tấm thương.
Ngàn vàng gọi chút lễ thường,
mà lòng Phiếu-mẫu mấy vàng cho cân?
Hai người trông mặt chần-ngần,
nửa phần khiếp-sợ, nửa phần mầng-vui.
Nàng rằng: xin hãy rốn ngồi,
xem cho rõ mặt, biết tôi báo thù.
Kíp truyền chư tướng hiến phù,[586]
lại đem các tích phạm-tù hầu tra.
Dưới cờ gươm rút nắp ra,
chính danh thủ phạm tên là Hoạn-thơ.
Xa trông nàng đã chào sơ:
Tiểu-thơ cũng có bây-giờ đến đây!
Đàn-bà dễ có mấy tay?
đời xưa mấy mặt đời nầy mấy gan?
Giở-giang là thói hồng nhan,
càng cay ngọt lắm, càng oan trái nhiều.
Hoạn-thơ hồn lạc phách xiêu,
khấu đầu dưới trướng, lựa đều kêu ca.
Rằng: tôi chút dạ đàn-bà,
ghen-tương thì cũng người-ta thường-tình,
Nghĩ cho khi các viết kinh,
vuối khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng riêng cũng kính yêu,
chồng chung chửa dễ ai chìu cho ai?
Trót lòng dấy việc chông-gai,
còn nhờ lượng biển, thương bài nào chăng?
Khen cho thật đã nên rằng:
khôn-ngoan đến mực nói-năng phải lời.
Tha ra thì cũng may đời,
làm ra thì cũng ra người nhỏ-nhen.
Đã lòng tri quá thì nên,
truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.
Tạ lòng lạy trước sân mây,
cửa viên lại dắc một dây dẫn vào,
Nàng rằng: lộng lộng trời cao,
hại nhân, nhân hại sự nào tại ta?
Trước là Bạc-hạnh, Bạc-bà,
bên là Ưng, Khuyển bên là Sở-khanh.
Tú-bà cùng Mã-giám-Sanh,
đẳng danh tội ấy xết tình còn sao?
Lệnh quân truyền xuống nội đao,[587]
thề sao thì lại cứ sao gia hình.
Máu rơi thịt nát tan-tành,
ai ai trông thấy hồn kinh phách dời.
Cho hay muôn sự tại trời,
phụ người chẳng bõ,[588] khi người phụ ta.
Mấy người bạc-ác tinh-ma,
mình làm mình chịu kêu mà ai thương?
Ba quân đông mặt pháp-trường,
thanh thiên bạch nhựt rõ-ràng cho coi.

Chú thích của bản in

  1. Đường đường. — Chẳm-hẳm. ↩
  2. Côn quyền. — Cầm roi đánh quờn. — Nghề vỏ. ↩
  3. Ba lược. — Là tướng lược, trận lược, chiến lược. — Sáu thao là: Long thao, hỗ thao, báo thao, vân thao, phong thao, lôi thao. ↩
  4. — Tay cầm gươm. — Trên bộ việc vỏ cũng tài; việc thủy cũng là tài tình lắm, như một mình cầm lái hết thảy. ↩
  5. Lét. — Liếc. ↩
  6. Tâm phủ tương cờ. — Tâm đảm tương kì. — Lấy lòng da mà ở với nhau. ↩
  7. Vật-vờ. — Vất-vơ. ↩
  8. Mắt xanh... — Thanh nhãn tương khán. — Tích ông Nguyễn-Tịch là bọn Thất-hiền, gặp người phàm-phu tục-tử thì ổng ngó mà con mắt ổng trắng; gặp người chữ-nghĩa văn-chương tử-tế, thì ổng ngó mà con mắt ổng xanh. ↩
  9. Bỏ. — Sá chi. ↩
  10. Bình-nguyên-quân — là ông Triệu-thắng đời Chiến-quốc, người hay hiếu khách, rước đãi người ta, khách cho đi giày cẫn ngọc là khách trượng, số 3000 người. ↩
  11. Tấn-dương. — Tích ông Đường-cao-tổ làm lưu thủ Tấn-dương thành, đánh Vũ-van hóa-cập được, lấy thiên hạ làm vua nên trong sử biên: Long phi Tấn-dương. ↩
  12. 1 Chung = 4 Thạch. — 1 Thạch = 4 hộc. — 1 hộc = 2 vuông (lúa). — 1 Tứ = 4 con ngựa. — Sang giàu muôn hộ. ↩
  13. Thất-bảo. — Thất bữu. — Giường cẩn ngọc. ↩
  14. — Màn thêu bát tiên. ↩
  15. — Đã biết lòng biết dạ nhau. ↩
  16. Tiếng bề. — Trống quân. ↩
  17. Sinh. — (Sanh ki.) — Bóng cờ xí. ↩
  18. Túy-kiều le ra một mình ở nhà. ↩
  19. Đãng-đãng. — Dài lam. ↩
  20. Tư phần. — Cây tử, cây phần: nó nhớ đến quê quán cha mẹ. ↩
  21. Hồn quê. — Hồn nhớ quê ↩
  22. Cánh-hồng. — Về Từ-Hải dức ra đi như chim hồng hộc. ↩
  23. Đăm-đăm. — Mù mù. ↩
  24. Dông quanh. — Xung quanh. ↩
  25. Tiếng la. — Tiếng thanh la. ↩
  26. Đồng thanh. — Rập một tiếng. ↩
  27. Chầu. — (Đức chầu.) — Tiếng kêu vợ quan lớn. ↩
  28. — Tán thêu phụng, với song loan. ↩
  29. Hoa-quang. — Mão Từ-Hải gởi về. ↩
  30. Hà-y. — Áo sắc ráng trời Từ-Hải gởi về. ↩
  31. Hỏa-bài. — Tin báo trước, và có cầm bản hồi tị túc tịnh. ↩
  32. Khao binh. — Đãi binh. ↩
  33. Ruổi sao. — Chạy lẹ như sao vượt. ↩
  34. Ba quân — (Tiểu quốc tam quân). — Một quân = hai mươi vệ. — Một vệ = năm trăm binh — Ba muôn binh. ↩
  35. Lịnh tiển. — Cờ lịnh tiển. ↩
  36. Thệ-sư. — Thề với quân. ↩
  37. Thị lập. — Đứng hầu. ↩
  38. Song phi. — Đứng mở cánh đều vây ở ngoài. ↩
  39. Vác đồng. — Khí giái. ↩
  40. Sanh kỳ. — Cờ xí. ↩
  41. Tiên nghiêm. — Đánh ba hồi trống tiên nghiêm. ↩
  42. Chàm đổ. — Xanh mặt tái-lét đi. — Cầy run. — Run-rẩy như cầy sấy. — (Chó sưởi lữa). ↩
  43. Sâm thương. — (Sao sâm, sao thương. — Sao hôm, sao mai). — Duyên vợ chồng không hiệp với nhau, như sao hôm với sao mai. ↩
  44. — Bà già bắt được kẻ cắp = Thì là chắc cứng đi rồi. ↩
  45. — Kiến bò miệng chén được bao lâu. ↩
  46. Mụ già là bà Quản-gia. — Sư-trưởng là bà Giác-duyên. ↩
  47. Hiến phù. — Đem tội nhơn vô. ↩
  48. Nội-đao. — Quân tả đao. ↩
  49. Chẳng bỏ. — Bỏ ghét. ↩