Trang chủ Viện

Truyện Kiều — Nguyễn Du

Mã-giám-Sanh rước Túy-Kiều về nhà trọ. — Túy-Kiều buồn chí, cầm đao muốn đâm họng mà chết đi cho rồi; rồi nghĩ lại, lại thôi đi

Chương 4 / 10

Mã-giám-Sanh rước Túy-Kiều về nhà trọ. — Túy-Kiều buồn chí, cầm đao muốn đâm họng mà chết đi cho rồi; rồi nghĩ lại, lại thôi đi.

Xiết bao kể nỗi thảm-sầu,
khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi.
Kiệu hoa đâu đã đến ngoài,
quản huyền[235] đâu lại giục người sinh ly.
Đau lòng kẻ ở người đi,
lụy rơi thấm đá, tơ chia rã tằm.
Trời hôm mây kéo tối dầm,
dầu dầu ngọn cỏ đằm-đằm nhành sương.
Rước nàng về đến trú phường,[236]
bốn bề xuân toả một nàng ở trong.
Ngập-ngừng thẹn lộc e hồng,
nghĩ lòng lại xót-xa lòng đòi phen.
Phẩm tiên rơi đến tay hèn,
hoài công[237] nắng giữ mưa gìn với ai.
Biết thân đến bước lạc-lài,
nhụy đào đã bẻ cho người tình chung.[238]
Vì ai ngăn đón gió đông,
thiệt lòng khi ở đau lòng khi đi.
Trùng phùng[239] dầu họa có khi,
thân nầy thôi có còn gì mà mong?
Đã sinh ra số long-đong,
còn mang lấy kiếp má hồng đặng sao.
Trên án sẵn có con dao,
giấu cầm nàng đã gói vào chéo khăn.
Phòng khi nước đã đến chơn,
dao nầy thì liệu với thân phận nầy.
Đêm sầu một khắc một chầy,
bâng-khuâng như tỉnh như say một mình.
Chẳng ngờ gã Mã-giám-sinh,
vẫn là một đứa phong tình[240] đã quen.
Quá chơi lại gặp hồi đen,
quen vùng lại kiếm ăn miền nguyệt hoa.[241]
Lầu xanh[242] có mụ Tú-bà,
làng chơi[243] đã trở về già hết duyên.
Tình cờ chẳng hẹn mà nên,
mạt cưa mướp đắng[244] đôi bên một phường.
Chung lưng mở một ngôi hàng[245]
quanh năm buôn phấn bán hương đã lề[246]
Dạo tìm khắp chợ thì quê,
giả danh hầu-hạ dạy nghề ăn-chơi.
Rủi may âu cũng sự trời,
đoạn trường lại chọn một người vô duyên.
Xót nàng chút phận thuyền quyên,[247]
nhành hoa đem bán vào thuyền lái-buôn.
Mẹo lừa đã mắc vào khuôn,[248]
sính nghi nạp giá nghinh hôn sẵn ngày.
Mừng thầm cờ đã đến tay,
càng nhìn vẽ ngọc, càng say khúc hoàng.
Đã nên quốc sắc thiên hương,
một cười nầy hản ngàn vàng chẳng ngoa.
Về đây nước trước bể hoa,
vương tôn quí khách, ắt là đua nhau.
Ba bốn trăm lượng thử đâu,
cũng là vừa vốn, còn sau thì lời,
Miếng ngon kề đến tận nơi,
vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham.
Đào tiên đã bén tay phàm,
thì vin nhành quít cho cam sự đời.
Dưới trần mấy mặt làng-chơi,
chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa?
Nước vỏ lựu máu mồng gà,[249]
mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.[250]
Mập-mờ đánh-lận con đen,[251]
bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi.
Mụ già hoặc có đều gì,
liều công mất một buổi quì mà-thôi.
Đến đây đường-sá xa-xuôi,
mà ta bất động nữa người sanh nghi.
Tiếc thay một đóa trà-mi,
con ong đã mở đàng đi lối về.[252]
Một cơn mưa gió nặng-nề,
thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương?
Tiệc xuân một giấc mơ-màng,
đuốc hoa để đó một nàng ngồi trơ.
Nỗi riêng tầm-tả[253] tuôn mưa,
Phần e nỗi khách, phần lo nổi mình.
Tuồng chi là giống hôi-tanh?
thân ngàn vàng để ô danh má hồng.
Thôi còn chi nữa mà mong,
đời người thôi thế là xong một đời.
Giận duyên tủi phận bời-bời,[254]
cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh.[255]
Nghĩ đi nghĩ lại một mình:
một mình thì chớ, hai tình[256] thì sao?
Sao dầu sinh sự thể nào,
truy nguyên chẳng kẻo lụy vào song thân?
Nỗi mình âu cũng giãn dần,[257]
kíp chầy thôi cũng một lần mà thôi.

Mã-giám-Sanh đem Túy-Kiều về Lâm-Tri, giao cho Tú-bà. Tú-bà bắt Túy-Kiều vô lạy làm lể tiên-sư lầu-xanh, Túy-Kiều liều thân lấy đao đâm họng, ngã chết ngất mê thấy Đạm-Tiên hiện nói số đoạn trường trốn không khỏi đặng, Túy-Kiều tỉnh lại Tú-bà theo dỗ ngọt.

Những là đo-đắn ngược-xuôi,
tiếng gà nghe đã gáy thôi mái tường.
Lầu mai[258] vừa lúc còi sương,
Mã-sinh giục giã vội-vàng ra đi.
Đoạn trường thay, lúc phân kỳ![259]
vó cu khấp-khảnh bóng xe gập-ghềnh.
Bề ngoài mười dặm trường đình,[260]
Vương-ông gánh tiệc tiễn hành[261] đưa theo;
Ngoài thì chủ khách dập-dều,
một nhà huyên với một Kiều ở trong.
Nhìn càng lã-chã giọt hồng,
dỉ tai nàng mới giãi lòng thấp cao.
Hổ sanh ra phận thơ đào,
công cha ngãi mẹ kiếp nào trả xong?
Lỡ-làng nước đục vùi trong,
trăm năm để mót tấm lòng từ đây.
Xem gương trong bấy nhiêu ngày,
thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già.
Khi về bỏ vắng trong nhà,
khi vào dùi-thẳng khi ra vội-vàng.
Khi ăn khi nói lỡ-làng,
khi thầy khi tớ xem thường xem khinh.
Khác màu kẻ quí người thanh,
gẫm ra cho kĩ như hình con buôn.
Thôi con còn nói chi con?
sống nhờ đất khách, thác chôn quê người!
Vương-bà nghe bấy nhiêu lời,
tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên.
Vài tuần chửa cạn chén khuyên,[262]
mái ngoài nghĩ đã giục liền ruổi xe.
Xót con lòng nặng bè-bè,
trước yên ông đã nằn-nì thấp cao.
Xót con liễu yếu thơ đào,
rấp nhà đến nỗi chen vào tôi ngươi!
Từ đây góc biển ven trời,
nắng mưa thủi thủi,[263] quê người một thân.
Ngàn tầm nhờ bóng tùng quân,[264]
tuyết sương che chở cho thân cát đằng.
Cạn lời khách mới thưa rằng:
buộc chơn thôi cũng xích thằng nhiệm sao;
Mai sau dầu đến thể nào,
kìa gương nhựt nguyệt nọ dao quỉ thần.[265]
Đùng-đùng gió hiệp mây tần,[266]
một xe trong cỏi hồng trần như bay.[267]
Trông vơi bặt lụy phân tay,
góc trời thẳm-thẳm, ngày ngày đăm đăm.[268]
Nàng thì cõi khách xa-xăm,[269]
bạc phau cầu giá, chơn dầm ngàn mây.[270]
Bờ lau sát-sát hơi mai,[271]
một trời thu để riêng tây một người.
Dặm khuya-ngớt tạnh mù khơi,
thấy trăng mà thẹn những lời non sông.
Lầu thu tầng biếc úa hồng,
nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn.
Những là lạ nước lạ non,
Lâm-tri vừa một tháng tròn tới nơi.
Xe châu dừng bánh cửa ngoài,
rèm trong đã thấy một người bước ra.
Thoát trông lợt lợt màu da,
ăn chi cao lớn đẫy-đà làm sao!
Trước xe hớn-hở han-chào,
vưng lời nàng mới bước vào tận nơi.
Bên thì mấy ả mày ngài,[272]
bên thì ngồi bốn năm người làng soi.[273]
Giữa thì hương nến hẳn-hoi,
trên treo một tượng trắng đôi lông mày.[274]
Lầu xanh quen lối xưa nay,
nghề nầy thì lấy ông nầy tiên sư.
Hương hôm hoa sớm phượng-thờ.
cô nào xấu vía có thưa mối hàng.
Cổi xiêm lột áo chán-chường,
trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm-dầm.
Nệm hoa lót xuống chiếu nằm,
bướm ong bay lại ầm-ầm tứ vi.
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,
cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay:
Cửa hàng buôn-bán cho may,
đêm-đêm hàn thực,[275] ngày-ngày nguyên tiêu.[276]
Muôn ngàn người thấy cũng yêu,
xôn-xao anh én dập-diều trước-mai.
Tin ve vạch lá thơ bài,
đưa người cửa trước, rước người cửa sau?
Lạ tai nghe chửa biết đâu,
xem tình ra cũng những màu dỡ-dang.
Lễ xong hương hỏa gia đường,
Tú-Bà vắt nhục[277] lên giường ngồi ngay.
Dạy rằng con lạy mẹ đây,
lạy rồi thì lạy cậu mầy bên kia.
Nàng rằng: phải bước lưu-ly,
phận hèn vưng đã cam bề tiểu tinh;[278]
Đều đâu lấy én làm anh?
ngây-thơ chẳng biết là danh phận gì;
Đủ đều nạp thể vu qui,
đã khi chung chạ, lại khi đứng ngồi;
Giờ ra thay bực đổi ngôi,
dám xin gởi lại một lời cho minh.
Mụ nghe nàng nói hay tình,
bây-giờ mới nổi tam bành[279] mụ lên:
Nầy nầy sự đã quả nhiên,
thôi đà cướp sống chồng min đi rồi!
Bảo thì đi dạo lấy người,
đem về rước khách lấy lời mà ăn.
Tuồng vô ngãi ở vô nhơn,
buồn mình trước đã tằn-mằn thử chơi!
Màu hồ đã mất đi rồi,
thôi-thôi vốn-liếng đi đời nhà ma!
Con kia đã bán cho ta,
nhập gia phải cứ phép nhà tao đây.
Lão kia có dỡ bài-bây,[280]
chẳng phang vào mặt, thì mầy đừng nghe.
Cớ sao chịu trót một bề,
gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao?
Phải làm cho biết phép tao:
giựt bì tiên[281] rắp sấn vào ra tay.
Nàng rằng: trời thẳm đất dày!
thân nầy đã bỏ những ngày ra đi.
Thôi thì thôi có tiếc chi,
sẵn dao tay áo tức-thì dỡ ra.
Sợ gan nát ngọc liều hoa,
mụ còn trông mặt, nàng đà quá tay.
Thương ôi tài sắc mực nầy!
một dao oan nghiệt đứt dây phong trần!
Nỗi oan vỡ-lở xa gần,
trong nhà người chật một lần như nêm.
Nàng thì bặt-bặt giấc tiên,
mụ thì mịt-mịt mặt nhìn hồn bay.
Vực nàng vào chốn hiên tây,
cắt người xem-xóc, chạy thầy thuốc thang.
Nào hay chửa hết trần duyên,
trong mây dường đã đứng bên một nàng.
Dỉ rằng: nhân quả dở dang,[282]
đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao?
Số còn nặng nghiệp má đào,
người dầu muốn quyết trời nào đã cho?
Hãy xin hết kiếp liễu bồ,[283]
sông Tiền-đường sẽ hẹn hò về sau.
Thuốc-thang trót một ngày thâu,
giấc mê nghe đã dầu-dầu vừa tan.
Tú-bà chực sẵn bên màn,
gieo lời khuyên giải mên-man gỡ dần:
Một người đễ có mấy thân?
hoa xuân đang nhụy, ngày xuân còn dài;
Cũng là lỡ một lầm hai,
đá vàng sao nở ép nài mưa mây;
Lỡ chơn trót đã vào đây,
khóa buồn xuân, để đợi ngày đào non:
Người còn thì của hãy còn,
tìm nơi xứng đáng là con cái nhà.
Làm chi tội báo oan gia,
thiệt mình mà hại đến ta hay gì?
Kề tai mấy nổi nằn-nì,
nàng nghe dường cũng thị phi rạch-ròi.
Vả suy thần mộng mấy lời,
túc khiên[284] thì cũng có trời ở trong.
Kiếp nầy nợ trả chửa xong,
làm chi thì cũng một chồng kiếp sau.
Lặng nghe đằm-thắm gót đầu,
thưa rằng: ai có muốn đâu thể nầy?
Được như lời thế là may,
hẳn rằng mai có như rày cho chăng?
Sợ khi ong bướm đãi-đằng,
đến đều sống đục, sao bằng thác trong.
Mụ rằng: con hãy thong-dong,
phải đều lòng lại dối lòng mà chơi?
Mai sau ở chẳng như lời,
trên đầu có bóng mặt trời sáng soi.
Thấy lời quyết đoán hẳn-hòi,
đành lòng nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần.

Chú thích của bản in

  1. Quản huyền. — Đờn địch, nhạc lời rước dâu. ↩
  2. Trú phường. — Chỗ ở tạm. ↩
  3. Hoài công — Tiếc công, uổng công. ↩
  4. Người tình chung. — Kim-trọng. ↩
  5. Trùng-phùng. — Gặp lại, ↩
  6. Phong tình. — Trai gái. ↩
  7. Nguyệt hoa. — Trai gái. ↩
  8. Lầu xanh. — Lầu đĩ hay vẽ sắc xanh, nên kêu là Thanh lâu. ↩
  9. Làng chơi. — Bợm chơi. ↩
  10. Mướp đắn. — Khổ qua, đồ đắng ai thèm. Mạt cưa. — Đồ vô dụng ↩
  11. Ngôi hàng. — Cửa hàng, cái hảng. ↩
  12. — Nuôi đĩ, bán đĩ đã quen. ↩
  13. Thuyền quyên. — Con gái tốt. ↩
  14. — Mắc mớp. ↩
  15. — Nước vỏ lựu sắc để mà rửa trong cửa mình cho sàn thịt. — Máu mồng gà, cắt ra bỏ vô lá hành mà chỉ còn con gái, còn nước đầu. — Đồ làm màu. ↩
  16. Chiêu tập. — Nhóm lại, sàn da lại. ↩
  17. Con đen. — (Lê dân) — người phàm phu. ↩
  18. — Tiếc con gái tử-tế như hoa trà-mi bị đứa bậy là ong bướm tới nút nhụy. ↩
  19. Tầm tã. — Lã-chã. ↩
  20. Bời-bời. — Chan-chan: búi. ↩
  21. Quyên sinh. — Liều sống. ↩
  22. Hai tình. — Cha mẹ. Song thân. ↩
  23. Giãn dần. — Bớt lần lần. ↩
  24. Lầu mai. — Lầu quán. ↩
  25. Lúc phân kỳ. — Chia đường. Kẻ ở người đi. ↩
  26. Trường đình. — Trạm nghỉ. ↩
  27. Tien hành. — Đưa đi. (Lễ đưa). ↩
  28. Chén khuyên. — Một tuần uống là nhấm ba lần rót rượu đưa con. ↩
  29. Thủi-thủi — Trụi trụi. ↩
  30. — Chàng là cây tùng cao ngàn tầm, xin gởi gắm con ta hèn hạ như dây cát-đằng. (Dây cát căn, dây đằng bổn). ↩
  31. — Chỉ mặt trời mặt trăng mà thề; lại thề quỉ thần giết đi. ↩
  32. Gió hiệp — Gió núi Hiệp. Mây tần.— Mây non tần lãnh. ↩
  33. Hồng trần.— Bụi đỏ. ↩
  34. Đăm-đăm. — Thẳm-thẳm mù-mù. — Đâu-đâu ↩
  35. Xa-xăm. — Xa-xuôi. ↩
  36. — Lội giá đạp tuyết trắng phau phau. — Đi xa-xuôi. ↩
  37. — Sương tuyết đầy đường đầy sá. ↩
  38. — Mày ngài. — Mày như con nhộng mới hóa bướm. — Mày tầm, bọn đĩ đánh chang mày tóc con. ↩
  39. Làng soi. — Người lịch-sự tử-tế. ↩
  40. — Tổ đĩ; Thần đĩ — (Người ta hay vẽ có lông mày trắng.) ↩
  41. Hàn thực. — (Ăn lạnh). Ngày mồng ba tháng ba, tiết thanh-minh. ↩
  42. Nguyên tiêu.— Họi nguyên tiêu, rằm tháng giêng, ăn cỗ thắp đèn, vân vân........ ↩
  43. Nhục. — Mã nhục — Nệm. — Xách cái nệm trải mà khấn đem lên giường lót mà ngồi. ↩
  44. Tiểu tinh. — Vợ bé. ↩
  45. Tam bành. — Ba thần Bành. Sách dạy phép tu tiên nói trong mình người ta có ba họ Bành: Bành-cứ, Bành-chất, Bành-kiêu. Việc nó thì là xui-giục người ta làm tội đặng nó có đi cáo với Ngọc-hoàng...... — Tính hung, nết dữ. ↩
  46. Bài-bây.— Lần-đân, lầy-đây; liều mạng. ↩
  47. Bì tiên.— Roi da gióc. ↩
  48. Nhân quả. — (Tiền nhơn hậu quả) = Tiền khiên đời trước để lại mình mắc. ↩
  49. Liễu bồ. — Yếu đuối mềm mại như cây liễu cây bồ. — Phận con gái. ↩
  50. Túc khiên. — Nghiệp cũ, tiền khiên. ↩