Trang chủ Viện

Truyện Kiều — Nguyễn Du

Túy-Kiều than thở nhớ nhà

Chương 5 / 10

Túy-Kiều than thở nhớ nhà.

Trước sau ngừng biếc tỏa xuân,[285]
vít non xa tấm trăng gần ở chung.[286]
Bốn bề bát-ngát xa trông,
cát vàng cồn nọ, doi hồng dặm kia.
Bĩ bàng mây sớm đèn khuya,
nhớ tình nhớ cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
tin sương luống hãy rày trông mài chờ.
Bên trời góc biển bơ-vơ,
tấm son gụt rửa bao giờ cho phai?
Xót người dựa cửa hôm mai,[287]
quạt nồng đắp lạnh, những ai đó chừ?
Bồng lai[288] cách mấy nắng mưa,
có khi gốc tử đã vừa người ôm.[289]
Buồn trông cửa biển gần hôm,
thuyền ai thấp-thoảng cánh buồm xa-xa.
Buồn trông ngọn nước mới sa
hoa trôi man-mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dàu-dàu,
chơn mây mặt đất một màu xanh-xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt gành.
om-sòm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Túy-Kiều bị Sở-Khanh gạt dổ đem đi.

Đông-quanh những nước non người,
đau lòng lưu-lạc, nên vài bốn câu.
Ngậm-ngùi xủ bức rèm châu,
cách lầu nghe có tiếng đâu hòa vần.
Một chàng vừa trạc thanh xuân,
hình-dung chai-chuốt[290] áo khăn dịu-dàng.
Nghĩ rằng cũng vẻ thơ hương,[291]
hỏi ra mới biết rằng chàng Sở-khanh,
Bóng hoa thấp-thoảng dưới mành,
trông chàng nàng cũng ra tình đeo-đai.[292]
Than ôi sắc nước hương trời,
tiếc cho đâu bỗng lạc-loài đến đây!
Giá đành trong nguyệt trên mây,
hoa sao hoa khéo đã-đày[293] bấy hoa.
Nổi cơn riêng giận trời già,
lòng nầy ai tỏ cho ta hỡi lòng!
Thuyền quyên ví biết anh-hùng,
ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi.
Song thưa đã khép cánh ngoài,
tai còn đồng vọng[294] mấy lời sắt đinh.[295]
Nghĩ người thôi lại nghĩ mình,
cám lòng chua-xót tạ tình bơ-vơ.
Những là lần-lữa nắng mưa,
kiếp phong trần biết bao giờ là thôi?
Đánh liều nhắn một đôi lời,
nhờ tay tế độ[296] vớt người trầm luân.
Mảnh tiên[297] kể hết xa gần,
nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc-loài,
Tan sương vừa rạng ngày mai,
cánh hồng nàng mới nhắn lời gởi sang.
Trời tây lửng-đửng bóng vàng,[298]
phục thơ đã thấy tin chàng tới nơi.
Mở xem một bức tiên mai,
rành-rành: tích việt[299] có hai chữ đề.
Lấy trong ý-tứ mà suy,
ngày hai mươi mốt, tuất thì phải chăng?
Chim hôm thôi thoát về rừng,[300]
đoá trà-mi đã ngậm trăng nửa mành.[301]
Tường đông lay-động bóng nhành,
rẽ song đã thấy Sở-khanh bước vào.
Sượng-sùng đánh dạn ra chào
lạy thôi nàng mới dỉ trao ân-cần,
Rằng: tôi bèo bọt chút thân,
lạc đàng mang lấy nợ-nần én-anh.
Dám nhờ cốt nhục tử sanh,[302]
còn nhiều kết cỏ ngậm vành[303] về sau.
Lặng ngồi thầmngẩm gặt đầu,
ta đây phải mượn ai đâu mà rằng.
Nàng đà biết đến ta chăng,
biển trầm luân[304] lấp cho bằng mới thôi.
Nàng rằng: muôn sự ơn người,
thế nào xin quyết một lời cho xong.
Rằng ta có ngựa truy phong,[305]
có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi.[306]
Thừa cơ lén bước ra đi,
ba mươi sáu chước, chước gì lại hơn.
Dầu khi gió kép mưa đơn,
có ta đây cũng chẳng can-cớ gì?
Nghe lời nàng đã sinh nghi,
song đà quá đất, quản gì đến thân.
Cũng liều nhắm mắt sẩy chơn,
mà xem con tạo[307] xây vần đến đâu.
Cùng nhau lén bước dưới lầu,
song song ngựa trước ngựa sau một đoàn.
Đêm thâu khắc mãn canh tàn,
gió cây lọt lá trăng ngàn ngậm gương.[308]
Lối mòn cỏ lợt màu sương,
lòng quê đi một bước đường một đau.
Tiếng gà eo-óc gáy mau,
tiếng người đâu đã mái sau dậy-dàn.[309]
Nàng càng thốn thức gan vàng,
Sở-khanh đã rẽ dây-cương nẻo nào.
Một mình không biết làm sao,
dặm rừng bước thấp bước cao hãi-hùng.

Túy-Kiều bị Tú-bà theo bắt lại được, đem vô ở thanh lâu ba năm.

Hóa nhi[310] thật có nợ lòng,
làm chi giày tía vò hồng lắm nao!
Một đoàn đua đến trước sau,
vút đâu xuống đất, cánh đâu lên trời?
Tú-bà tốc thẳng đến nơi,
ầm ầm áp điệu[311] một hơi lại nhà.
Hưng-hành[312] chẳng hỏi chẳng tra,
quá tay vùi liễu dập hoa tơi bời.[313]
Thịt da ai cũng là người,
lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau?
Hết lời thú phục khẩn cầu,
uốn lưng núi đổ, giập đầu máu sa.[314]
Rằng: tôi chút phận đàn-bà,
nước non lìa cửa lìa nhà đến đây.
Bây-giờ sống chết ở tay,
thân nầy đã đến thế nầy thì thôi.
Nhưng tôi có sá chi tôi,
phận tôi đành vậy, vốn người để đâu?[315]
Thân lươn bao quản lấm đầu,[316]
chút lòng trinh bạch từ sau cũng chừa.
Được lời mụ mới tùy cơ,
bắt người bảo-lãnh làm tờ cung-chiêu.
Bày vai có ả Mã-kiều,
xót nàng ra mới đánh liều chịu đoan.
Mụ càng kể nhặt kể khoan,
gạn-gùng đến mực, nồng-nàn mới tha.
Vực nàng vào nghĩ trong nhà,
Mã-kiều lại hở ý ra dặn lời:
Thôi đà mắc lận thì thôi
đi đâu chẳng biết con người Sở-khanh?
Phụ tình nỗi tiếng lầu xanh,
một tay chôn biết mấy nhành phù-dung.
Đà đao[317] sắp sẵn chước dùng,
lạ chi một cốt một đồng[318] xưa nay,
Có ba trăm lạng trao tay,
không nhưng sao có chuyện nầy trò kia?
Rồi ra trở mặt tức-thì,
bớt lời kêu chớ lay chi mà đời,
Nàng rằng thề-thốt nặng lời,
có đâu mà lại ra lời hiểm-sâu?
Còn đang suy trước nghĩ sau,
mặt mo[319] đã thấy ở đâu dẫn vào.
Sở-khanh lên tiếng rêu-rao,
độ nghe rằng có con nào ở đây.
Phao cho quến gió rủ mây,
hãy xem có biết mặt nầy là ai?
Nàng rằng: thôi thế thì thôi,
Rằng không thì cũng vưng lời rằng không.
Sở-khanh khoác-mắng đùng-đùng,
sấn vào vừa rắp thị hùng ra tay.
Nàng rằng: trời nhẽ có hay!
quến anh rủ én sự nầy tại ai ?
Đem người giẩy[320] xuống giếng thơi,[321]
nói rồi rồi lại ăn lời được ngay!
Còn tiên tích viẹt ở tay
rõ-ràng mặt ấy mạt nầy chơ ai?
Lời ngay đông mặt trong ngoài,
kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương.
Phụ tình án đã rõ-ràng,
dơ tuồng nghĩ mới kiếm đàng tháo lui.
Trách thầm riêng những sụt-sùi,
nghĩ thân mà lại ngậm-ngùi cho thân.
Tiếc thay trong giá trắng ngần!
đến phong trần cũng phong trần[322] như ai.
Tẻ vui cũng một kiếp người,
hồng nhan phải giống ở đời mãi ru?[323]
Kiếp xưa đã vụng đàng tu,
kiếp nầy chẳng kẻo đền bồ mới xuôi.
Dầu sao bình đã vỡ rồi,
lấy thân mà trả nợ đời cho xong.
Vừa tuần nguyệt rạng gương trong,[324]
Tú-bà ghé lại thong-dong dặn dò:
Nghề chơi cũng lắm công phu,
làng chơi ta phải biết cho đủ đều.
Nàng rằng: mưa gió dập-diều,
liều thân thì cũng phải liều thế thôi.
Mụ rằng: ai cũng như ai,
người ta ai mất tiền hoài đến đây?
Ở trong còn lắm đều hay,
nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung.[325]
Nầy con thuộc lấy làm lòng,
vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề[326].
Chơi cho liễu chán hoa chê,
cho lăn-lóc đá cho mê mẩn đời.
Khi nghe hạnh, khi nết ngời,[327]
khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười-cợt hoa.
Đều là nghề-nghiệp trong nhà,
đủ ngằn ấy nết, mới là người chơi.
Cúi đầu vưng dạy mấy lời,
dường châu nét nguyệt, dường phai vẻ hồng.[328]
Những nghe nói đã thẹn thùng,
nước đời lắm nỗi lạ-lùng khắt khe.[329]
Xót mình cửa các phòng quê,[330]
dở lòng học lấy những nghề nghiệp hay.
Khéo là mặt dạn mày dày,
kiếp người đã đến thế nầy thì thôi.
Thương thay thân-phận lạc loài,
dẫu sao cũng ở tay người biết sao.
Lầu xanh mới xủ trướng đào,[331]
càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người.
Biết bao bướm rã ong rời,
cuộc say đầy tháng,[332] trận cười trót đêm.
Dập diều lá gió nhành chim,[333]
sớm đưa Tống-ngọc, tối tìm Trường-khanh.[334]
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
giựt mình mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm xủ là,
giờ sao tan-tác như hoa giữa đường?[335]
Mặt sao dày gió dạn sương,
thân sao bướm chán, ong chường bấy thân!
Mặc người mưa Sở, mây Tần,
nhưng mình nào có biết xuân là gì?
Đòi phen gió dựa hoa kề,
nửa mành tuyết ngậm, bốn hè trăng thâu.[336]
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu?
người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Đòi phen nét vẽ câu thơ,
cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa![337]
Vui là vui gượn kẻo là,
ai tri âm đó, mặn mà với ai?
Thừa-ưa gió trước mưa mai,
ngẩn-ngơ trăm nỗi, giồi mài một thân.
Ôm lòng đòi đoạn xa gần,
chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau.
Nhớ ơn chín chữ cao sâu,[338]
một ngày một ngã bóng dâu tà-tà.[339]
Dặm ngàn nước thẳm non xa,
nghĩ đâu thân phận con ra thế nầy!
Sân hòe[340] đôi chút thơ-ngây,
trân cam[341] ai kẻ đỡ thay việc mình?
Nhớ lời nguyền-ước ba sinh,
xa-xuôi ai có biết tình chăng ai?
Khi về hỏi liễu chương đài,[342]
nhành xuân đã bẻ cho người chuyên tay.
Tình sâu mong trả ngãi dày,
hoa kia đã chắp cây nầy cho chưa?[343]
Mối tình đòi đoạn vò tơ,
giấc hương quan[344] luống những mơ canh dài.
Song sa võ-võ phương trời,
nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.[345]
Lần-lần thỏ bạc ác vàng,[346]
xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn.[347]
Đã cho lấy chữ hồng nhan,
làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân!
Đã đày vào kiếp phong trần,
sao cho sỉ-nhục một lần mới thôi.

Túy-Kiều gặp Thúc-Sanh cưới về làm vợ bé. Thúc-ông giận đi thưa quan, bị đòn rồi sau lại cho hiệp lại với nhau ba năm ở với Thúc-Sanh hằng giục Thúc-Sanh thú với vợ chánh. Thúc-Sanh về. Túy-Kiều ở làm dâu Thúc-ông ba năm.

Khách du bổng có một người,
Kỳ-tâm họ Thúc cũng loài thơ hương.
Vốn người huyện Tích châu Thường,
theo nghiêm thân mở ngôi hàng[348] Lâm tri.
Hoa khôi[349] mộ tiếng Kiều-nhi,
thiếp hồng[350] tìm đến hương quê[351] gởi vào.
Trướng Tô[352] hiệp mặt hoa đào,
vẻ nào chẳng mặn, nết nào chăng ưa?
Hải đường[353] mởn-mởn nhành tơ,
ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt nảo nùng,
đêm xuân ai dễ cầm lòng đặng chăng?
Lạ chi thanh khí[354] lẽ hằng,
một dây đã buộc ai giằng[355] cho ra?
Sớm đào tối mận lân la,
trước còn trăng gió, sau ra đá vàng.
Dịp đâu may-mắn lạ dường!
lại vừa gặp khoảng xuân đường về quê.
Sanh càng một tỉnh mười mê,
ngày xuân lắm lúc quên về với xuân.
Khi gió các, khi trăng sân,
bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ.
Khi hương sớm, khi mây trưa,
bàn vây đếm nước, đường tơ hòa đờn.
Mập-mờ trong cuộc truy hoan,[356]
càng quen thuộc nết, càng dan-díu[357] tình.
Lạ cho cái sóng khuinh thành,[358]
làm cho đổ quán, xiêu đình như chơi!
Thúc-sanh quen nết bốc rời,[359]
trăm ngàn đổ một trận cười như không
Mụ càng tô lộc chuốt hồng,
máu tham hễ thấy hơi đồng[360] thì mê.
Dưới trăng quyên đã gọi hè,[361]
đầu tường lửa lựu lập-loè đơm bông.
Phòng là phải buổi thong-dong,
than hương nưng bức trướng hồng rạch hoa.[362]
Rõ-ràng trong ngọc trắng ngà,
dầy-dầy sẵn đúc một toà thiên nhiên.[363]
Sanh càng tỏ nết, càng khen,
tả tình tay thảo một thiên luật Đường.[364]
Nàng rằng: vưng biết ý chàng,
lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.
Hay hèn lẽ cũng nối điêu,[365]
nỗi sanh nghĩ một hai điều ngang ngang.
Lòng còn gởi đám mây vàng,
hòa vần xin hãy chịu chàng hôm nay.
Rằng sao nói lạ lùng thay!
nhành kia chẳng phải cội nầy mà ra.
Nàng càng ủ giột thu ba,[366]
đoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tanh.
Thiếp như hoa đã lìa nhành,
chàng như con bướm liệng vành chút chơi.
Chủ xuân[367] đành đã có nơi,
vắn ngày thôi chớ dài lời làm chi.
Sanh rằng: từ thuở tương tri,
lòng riêng, riêng những nặng vì nước non.
Trăm năm tính cuộc vuông tròn,
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông.[368]
Nàng rằng: muôn đội ơn lòng.
chút e bên thú bên tùng dễ đâu.[369]
Bình khương áng ná bấy lâu,[370]
yêu hoa yêu được một màu điểm trang.
Rồi ra lạt phấn phai hương,
lòng kia giữ được thường-thường mãi chăng?
Vả trong thềm quế cung trăng,[371]
chủ trương đành đã chị hằng[372] ở trong.
Bây-giờ khăn-khít dải đồng,[373]
thêm người, người cũng chia lòng riêng tây.
Vỉ chi chút phận bèo mây,
làm cho bể ái khi đầy khi vơi.
Trăm đều ngang-ngửa vì tôi,
thân sau ai chịu tội trời ấy cho?
Như chàng có vững tay co,[374]
mười phần xin đắp-điếm cho một vài.
Thế trong dầu lớn hơn ngoài,
trước hàm sư-tử gởi người đằng la.[375]
Cúi đầu lòn xuống mái nhà,[376]
giấu mùi lại tội bằng ba lửa hừng.[377]
Ở trên còn có nhà xuân,
biết trên trông xuống phỏng chừng có thương.
Sá chi liễu ngỏ hoa tường,
lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh.[378]
Lại càng nhơ dạng dại hình,
đành thân-phận thiếp, nghĩ danh-giá chàng.[379]
Thương sao cho vẹn thì thương,
tính sao cho trọn mọi đường thì vâng.
Sanh rằng: hay nói đè chừng,
lòng đây, lòng đấy chưa từng hay sao?
Đàng xa chớ ngại Ngô Lào,[380]
trăm đều hãy cứ trông vào một ta.
Đã gần chi có đều xa?
đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều.
Cùng nhau căn-vặn đến đều,
chỉ non thề biển, nặng gieo đến lời.
Nỉ-non đêm vắng tình dài,
ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương.[381]
Mượn đều trúc viện thừa lương,[382]
rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.
Chiến, hòa sắp sẵn hai bài,
cậy tay thầy thợ[383] mướn người dò la.[384]
Bắn tin đến mặt Tú-bà,
thua cơ mụ cũng cầu hòa dám sao.
Rõ-ràng của dẫn tay trao,
tòng lương[385] một thiếp thân vào cửa công.
Công xem hai lẽ đều xong,
gót tiên phút đã thoát vòng trần ai.
Một nhà sum-hiệp trước mai,
càng sâu ngãi biển, càng dài tình sông.
Hương càng đượm, lửa càng nồng,
càng xuê vẻ ngọc, càng lồng màu sen.
Nửa năm hơi tiếng vừa quen,
sân ngô nhánh hích đã chen lá vàng.[386]
Mận thu vừa nảy giò sương,[387]
xe bồ đã thấy xuân đường đến nơi.[388]
Phong lôi nổi trận bời-bời,
sốt long e-ấp[389] tính bài phân-chia.
Quyết ngay biện bạch một bề,
dạy cho má phấn lại về lầu xanh.
Thấy lời nghiêm huấn rành rành,
đánh liều Sanh mới lấy tình nài kêu.
Rằng: con biết tội đã nhiều,
dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam.
Trót vì tay đã nhúng chàm,
dại rồi còn biết khôn làm sao đây?
Cùng nhau vả tiếng một ngày,
ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành?
Lượng trên quyết chẳng thương tình,
bạc đen thôi có tiếc mình làm chi.
Thấy lời vàng đá tri-tri,[390]
sốt gan ông mới cáo quì cửa công.
Đất bằng nổi sóng đùng đùng,
phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra.
Cùng nhau theo gót sai nha,
song song vào trước sân hoa lạy quì.
Trông lên mặt sắt đen sì,
sắp uy trước đã ra uy nặng lời:
Gã kia dại nết chơi-bời,
mà con người ấy là người đong-đưa.
Tuồng chi huê thải hương thừa?
mượn màu son phấn đánh lừa con đen.[391]
Suy trong tình trạng nguyên đơn,
bề nào thì cũng chưa an bề nào.
Phép công chiếu án luận vào,
có hai đường ấy muốn sao mặc mình.
Một là cứ phép gia hình,
một là lại cứ lầu xanh phú về.
Nàng rằng: đã quyết một bề,
nhện nầy vương lấy tơ kia mấy lần?
Đục trong thân cũng là thân,
yếu thơ vưng chịu trước sân lôi-đình.
Dạy rằng: cứ phép gia hình,
ba cây chặt lại một nhành mẫu-đơn.[392]
Phận đành chi dám kêu oan,
đào giun cuốn má, liễu tan-tác mày.
Một sân lầm cát đã đầy,[393]
gương lờ nước thủy, mai gầy vóc sương.
Nghĩ tình chàng Thúc mà thương,
nẽo xa trông thấy lòng càng xót-xa.
Khóc rằng: oan khúc vì ta,
có nghe mình[394] trước, chửa đà khỏi sau.
Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu,
để ai trăng tủi huê sầu vì ai?
Phủ đường nghe thoảng vào tai,
động lòng lại gạn đến lời riêng tây.
Sụt-sùi chàng mới thưa ngay,
đầu đuôi lại kể sự ngày cầu thân.[395]
Nàng đà tính hết xa gần,
Từ xưa nàng đã biết thân có rày.
Tại tôi xứng lấy một tay,
để nàng cho đến nỗi nầy vì tôi.
Nghe lời nói cũng thương lời,
dẹp oai mới dạy mở bài giải vi;
Rằng: như hẳn có thế thì,
trăng hoa song cũng thị phi biết đều.[396]
Sanh rằng: chút phận bọt-bèo,
theo đòi cũng vả ít nhiều bút nghiên.
Cười rằng: đã thế thì nên,
mộc già[397] hãy thử một thiên trình nghề.
Nàng vưng cất búc tay đề,
tiên hoa[398] trình trước án phê xem tường.
Khen rằng: giá lướt thịnh Đường[399]
tài nầy sắc ấy ngàn vàng chửa cân.
Thật là tài-tử giai-nhơn,[400]
Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn.[401]
Thôi đừng chác dữ mua hờn,
làm chi lỡ bực cho đờn ngang cung.[402]
Đã đưa đến trước cửa công,
ngoài thì là lý, song trong là tình.
Dâu con trong đạo gia đình,
thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong.
Kiếp truyền sắm-sửa lễ công,
kiệu hoa lướt gió, đuốc hồng điểm sao.
Bày hàng cổ-nhạc xôn-xao,
song song đưa tới trướng đào sánh đôi.
Thương vì nết, trượng vì tài,
Thúc-ông thôi cũng dẹp lời phong ba.
Huệ lan náo-nức một nhà,
từng cay đắng lại mặn-mà hơn xưa.
Mãng vui rượu sớm cờ trưa,
đào đà bay thắm, sen vừa nảy xanh.[403]
Trướng hồ vắng-vẻ đêm thanh,
e tình nàng mới bày tình riêng chung;
Phận bồ[404] từ vẹn chữ tùng,
đổi-thay nhàn cá đã hòng đầy niên.
Tin nhà ngày một thầm tin,
mặn tình cát lụy,[405] lạt nền tào khang.[406]
Nghĩ ra thật cũng nên dường,
tăm-hơi ai kẻ giữ-giàng cho ta?
Trộm nghe kẻ lớn trong nhà,
ở vào khuôn phép, nói ra mối-giềng.
E thay những dạ phi thường,
dể dò rún biển, khôn lường đáy sông.
Mà ta trót một năm ròng,
thế nào cũng chẳng giấu giung được nào.
Bây giờ chưa tỏ tiêu-hao,[407]
hoặc là trong có làm sao chăng là?

Chú thích của bản in

  1. — Đóng cửa buồng cấm cung. ↩
  2. — Ở trên lầu, ngó dấu non xa, nhắm trăng giọi vô cửa song. ↩
  3. Dựa cửa hôm mai. — (Triêu mộ ỷ môn nhi vọng.) Nó nhắc về cha mẹ nó ngồi buồn nhớ trông, biết ai châu cấp dưỡng nuôi giúp đỡ. ↩
  4. Bồng lai. — Cảnh tiên. Xa nhà đã lâu.... ↩
  5. Gốc tử. — Cây tử-lý, trồng ở nhà bây giờ có khi lớn bằng một ôm kia đặng. ↩
  6. Chai chuốt. — Lịch sự tử tế, tốt trai. ↩
  7. Thơ hương. — Con nhà học trò. ↩
  8. Đeo đai. — Đèo bồng. ↩
  9. Đã đày. — Rã rời. ↩
  10. Đồng vọng. — Nghe vẳng vẳng; lóng tai mà nghe. ↩
  11. Lời sắt đinh. — Lời nói chắc; chắc như đinh sắt đóng vào cây. ↩
  12. Tế độ. — Chở bằng đò. — Cứu giúp. ↩
  13. Mảnh tiên. — Tấm giấy. ↩
  14. Mặt trời xế chiều. ↩
  15. Tích việt. — Xẻ hai chữ ra mà cắt nghĩa là đến ngày hai mươi mốt, giờ tuất thì trốn. ↩
  16. Tối rồi, chim bay về núi ↩
  17. Trăng đà mọc, mà trăng ngày hai mươi mốt còn nữa cái. ↩
  18. Cốt nhục tử sanh. — Sống gởi nạc, thác gởi xương. ↩
  19. Kết cỏ ngậm vành. — Đời Chiến-quốc, con ông Ngụy-thù, nước Tấn, có người hầu còn trẻ, trước khi chết trối với con đầo lòng biểu khi chôn ong, thì đừng có chôn người hầo ổng đi, tội nghiệp.(Thuở ấy hay chôn sống người thương theo người chết). Khi hấp hối, ổng có nói với thằng con nhỏ thì phải chôn....mà sau nhờ người anh, giải nói khi ấy là lúc loạn mạng thì con hiếu thảo chẳng nên cứ ..... Hai anh em làm tướng nước Tấn, đánh với tướng Tần, cầm dùi sắt đánh gãy xe, sau về rầu, ngồi tinh mưu thế, nghe tiếng nói rằng: « Thanh thảo pha. » Kêu em dậy nói chuyện, bàn với nhau, sáng ra cỡi ngựa ra đi đánh, gặp nó, trá bại chạy xuống cái chòm cỏ tốt, tới đó ngó lại thấy quân Tần té lụi đụi thì trở lại đánh; tướng Tần xốc lại (bị cô hồn cha con hầu ông Ngụy-thù, cột tóm đầu cỏ lại mà trác giặc bị vấp té xuống), đâm được chết đi; ấy là tích Kết-cỏ.Đời nhà Thương vua Thái-mậu, người ta có dâng con chim Hoàng-tước, vua thấy nó sụ sụ, lại nghe tiếng con mái bay ngoài kêu thì thương mà thả đi. Đêm nằm ngủ thấy con chim ấy bay đến, ngậm ngọc nhả ra xin dâng ngọc đền ơn. Vua dậy quả thấy có cái Vành-ngọc để trong cái hộp; ấy là tích Ngậm-vành. ↩
  20. — Khổ hải. — Tích Tinh-vệ công chúa nước Phiên, chồng bị chìm nơi bien Khổ-hải. Công chúa thù chồng bèn biến ra con Tinh-vệ, tha đá lấp cho cạn bien mà trả thù cho chồng. ↩
  21. Truy phong. — Theo gió. — Ngựa hay quá. ↩
  22. Kiện nhi. — Thằng nhỏ mạnh. ↩
  23. Con tạo — (Tạo-hóa-nhi).— Trời, thợ trời. Ông hóa công. ↩
  24. — Gió heo (may) lá rụng, ngó trên non thấy trăng mới ló mọc. ↩
  25. Dậy dàn. — Om sòm, um cà tum. ↩
  26. Hóa nhi. — Tạo hóa tiểu nhi. — Trời. ↩
  27. Áp điệu. — Áp bắt dẩn về. ↩
  28. Hưng hành. — Làm hung, hung hăng. ↩
  29. — Nắm óc đánh vùi, không kể thân. ↩
  30. — Bắt chum hum xuống, chà xát vập đầu chảy máu. ↩
  31. — Phận tôi đày đọa, đánh mấy thì đánh, mà sợ rủi tôi chết đi, thì bà mất vốn đi còn gì. ↩
  32. — Lươn đâu nệ lấm đầu. ↩
  33. Đà đao. — Vớt trái. ↩
  34. Cốt. — Bông chàng. — Đồng. — Đứa ngồi đồng. — Một bọn với nhau. ↩
  35. Mặt mo. — Mặt dày, mày dạn. ↩
  36. Giẩy. — Nó. ↩
  37. Giếng thơi. — Thứ giếng đào nhỏ miệng mà sâu, là giếng thơi. ↩
  38. Phong trần. — Gió bụi. — Nước cực khổ. ↩
  39. Ru. — Sao ↩
  40. — Vừa nhằm ngày rằm, sáng trang. ↩
  41. — Việc đêm làm đĩ phải biết cách-thức, thế-thần, còn ban ngày thì ra vô, rước khách cho tử-tế cho người ta mê. ↩
  42. Vành ngoài bảy chử — là thất tinh: tẻ vui theo buổi theo khi cho đủ thế. Vành trong tám nghề. — Chỉ cách khoái, cùng làm cho khoái trong nghề ấy. ↩
  43. Nghe hạnh. — (Kể hạnh). — Kể chuyện vãn với trai. — Nết ngài. — Khi thì đánh chang mày tóc con... ↩
  44. Châu nét nguyệt. — Châu mày, nhăn mặt. — Phai vẽ hồng. — Lợt má đào. ↩
  45. Khắt khe. — Chua le. ↩
  46. Cửa các phòng quê. — Nhà cửa mình xưa tử tế. ↩
  47. — Vô lầu xanh (Nhà đĩ). — Nhập vô bọn đĩ. ↩
  48. — Cho tiền trước ở chơi, chiếm lấy một nàng cho đủ một tháng. ↩
  49. — Chi nghinh nam bắc điểu, diệp tống vãng lai phong. — Ông Lý-mỗ có hai đứa con, một trai một gái, trước cửa có trồng cây ngô-đồng một bên giếng, chiều ra hứng gió, ông cha biểu một đứa ngâm một câu thơ. Thằng con trai ngâm không hay, đứa con gái ngâm câu trên nầy. Cha khen hay mà chê nó sau làm đĩ. — Cột tìm trâu; ra vô rước mối rước khách ↩
  50. Tống-ngọc, — học trò đời Chiến-quốc nước Sở, lịch sự trai. — Truờng-khanh. — Tư-mả-tương-như, học trò đời Hán-vỏ-đế, cũng lịch sự trai. ↩
  51. — Xưa sao kính-đáo phòng the, bây-giờ sao lại lạc-loài như hoa giữa đàng, đụng ai nấy ngửi. ↩
  52. — Mùa nào qua mùa nấy cũng không đi đâu khỏi được, cứ nghề làm đĩ hoài. ↩
  53. — Cũng có khi gảy cầm lúc sáng trăng, đánh cờ nơi vườn hoa nở. ↩
  54. — Chín chữ trong câu thơ Lục-nga: Ai ai phụ mẫu sinh ngã cù lao.... ↩
  55. — Tan giu mộ cảnh. — Vì cha mẹ già yếu như bóng dâu đã tà. ↩
  56. Sân hòe. — Tích ông Vương-đáng có trồng ba cây hòe trước sân, chỉ con sau cũng làm tam công. Nên đời sau lấy chữ hòe mà kêu sân hòe. — Đôi chút thơ ngây. — Là Vương-quang, với Túy-Vân còn thơ dại. ↩
  57. Trân cam. — Miếng ngon, vật lạ. ↩
  58. Liểu chương đài. — Cây liểu ở chổ tử-tế. — Nó nói lẽ nào Kim-trọng trở về cũng cứ đó mà hỏi thăm. ↩
  59. — Không biết ở nhà em mình nó đã thế cho mình mà làm bạn với Kim-trọng hay chưa? ↩
  60. Giấc hương quan. — Ngủ mà chiêm-bao thấy quê. ↩
  61. Hôn hoàng. — Ngày lụn tháng qua, ngày nào tối ngày nấy, cũng là ở đất người, hết ngày tới đêm, hết tối tới sáng. ↩
  62. — Ngày qua, đêm lụn... ↩
  63. — Nhớ con Đạm-tiên..... ↩
  64. Ngôi hàng. — Cái hảng buôn. ↩
  65. Hoa khôi. — Đầu hoa. Lịch sự, xinh tốt nhứt. ↩
  66. Thiếp hồng. — Viết thiệp giấy hồng đào. ↩
  67. Hương quê. — Buồng thơm. ↩
  68. Trướng Tô. — Trướng ông Tô-đông-pha, tuy già mà con gái còn muốn. ↩
  69. Hải đường. — Bông hải đường đỏ thắm tốt. ↩
  70. Thanh khí. — Tiếng hơi. — Đồng thinh tương ứng, đồng khí tương cầu. ↩
  71. Giằng. — Giựt. ↩
  72. Truy-hoan. — Nói sự vui cũ. — Nhắc việc vui thuở trước. ↩
  73. Dan-díu — Bận bịu, dắc-díu, mặn-mòi. ↩
  74. — Kêu là sóng khuinh thành, là sắc bất ba đào, quốc sắc khuinh nhơn thành; tích Tây-thi đưa cho Ngô-phù-ta, vua nước Ngô, mê nó bỏ việc nước, cứ ở lầu Cô-tô với nó, sau giết Tử-tư rồi, nước Việt qua đánh lấy nước. ↩
  75. Bốc rời. — Bốc tiền rời mà thưởng. Tục ngoài Bắc thường con hát nhà trò thì thưởng tiền rời. ↩
  76. Hơi đồng. — Tiền bạc. ↩
  77. — Quyên là con quấc, —(Đỗ quyên, đỗ vũ, tử qui, vọng đế) — Con quấc kêu thì đã qua mùa thu. ↩
  78. — Bỏ than hương xông, ngồi mà thêu. ↩
  79. — Khen nó còn dầy-dầy tử-tế như còn con gái. ↩
  80. Luật Đường. — Thơ thất ngôn; nhơn bày ra đời nhà Đường. ↩
  81. Nối điêu. — Nối đuôi con điêu thử: nghĩa là hòa thơ lại. ↩
  82. Thu ba. — Sóng nước mùa thu. — Nước mắt. ↩
  83. Chu xuân. — Vợ chu quỉ, vợ lớn. ↩
  84. — Phải truy nguyên cho biết đầu đuôi gốc tích. ↩
  85. Thú. — Thúc-sanh thú: Cưới. — Tùng — Tùng lương, là Túy-kiều chịu theo về, lấy Thúc-sanh làm chồng. ↩
  86. — Ở làm đĩ bấy lâu, cho áng nguyệt hoa... ↩
  87. Thềm quế cung trăng. — Trong đã có vợ chính hẳn-hòi. ↩
  88. — Trong nhà đã có vợ chánh cai quản như gã Hang-nga ở trong mặt trăng. ↩
  89. Khăn-khít. — Chặt-chịa — Dải-đồng. — Đồng tâm kiết, cái dây thề nguyền với nhau. ↩
  90. Tay co: (thúc thủ) — Là cái then ngang thùng gánh nước, hay là cong ghe: Chắc, mạnh; quyền thế. Lại cái cây người ta dùng gióng kí mà khiêng, tới chỗ đổ, buông nó ra thì đổ trụm xuống, cũng kêu là cái tay co. ↩
  91. Hàm sư tử — (Chữ kêu vợ hay ghen hay rầy là con sư tử xứ Hà-đông) — Đằng la. — Dây leo, chỉ yếu đuối, ít quờn ít thế, như cái dây một mình, như không có cây mà dựa, thì không sống được. ↩
  92. — Tại nhơn oái thiềm hạ, thùy cảm bất đê đầu? — Dưới nhà thấp, người ai dám chẳng cúi đầu? ↩
  93. — Giấu mùi. — Giấu màu, giấu mẹo. ↩
  94. — Hễ làm đĩ thì lại về làm đĩ ↩
  95. — Phận tôi thì chẳng nói gì, một đều nghĩ cái danh chàng mà thôi, sợ chàng hư danh mất tiếng với người ta. ↩
  96. Ngô Lào. — Bên Ngô bên Lào. ↩
  97. — Trăng lặn. ↩
  98. Trúc viện thừa lương. — Ra nhà có đám trúc mà hứng mát. ↩
  99. Thầy thợ. — Người làm đơn trạng. ↩
  100. Dò la. — Mai mối, tới đọ tình hình. ↩
  101. Tòng lương. — Làm đơn tới thưa quan xin ra lấy chồng. ↩
  102. — Ngô đồng úa la nảy chồi thì là qua đông. ↩
  103. — Rốt thu thì mận nảy chồi sương. ↩
  104. Xe bồ — (An xa bồ luân). — Xe dưới bánh có vấn cỏ bồ cho êm, là xe cha Thúc-sanh (là Thúc-chánh) về thăm quê lại trở qua hảng. ↩
  105. E-ấp. — Sợ-sệt. ↩
  106. Tri-tri. — Nằng-nằng, tráy-tráy. ↩
  107. Con đen. — Đứa khờ dại. ↩
  108. — Đóng xà ngốc Túy-kiều lại. — Cổ mang tròng, tay lại đúc vào trong ấy nữa. ↩
  109. — Ngồi dưới đất, dưới cát, lại bị giàng nọc. ↩
  110. Mình. — Nó, người ta, phải mình nghe lời người ta.... ↩
  111. Cầu thân. — Ngày đi cưới nó. ↩
  112. — Tuy nó là đĩ-thỏa mặc lòng, nó cũng biết đều hơn thiệt. ↩
  113. — Gông cây xà ngốc. — Ông phủ lấy chữ Mộc-già làm đề mà ra cho nó làm thơ. ↩
  114. Tiên hoa. — Giấy bóng. ↩
  115. Thịnh Đường. — Văn lúc nhà Đường còn đang thạnh. ↩
  116. Tài-tử giai nhân. — Kẻ học trò hay, con gái lịch sự. ↩
  117. Châu Trần. — Họ Châu với họ Trần. ↩
  118. — Nó đang tử-tế với nhau, mà làm cho nó chi ly ra thì cũng như dây đờn đang trúng bực mà mình vặn nó sái đi. ↩
  119. — Đã qua lúc Đào chi yêu yêu, tới mùa thưởng lục hà trì. — Qua hạ. ↩
  120. Bồ. — Cây xương bồ. — Bồ liễu. — Phận con gái. ↩
  121. Cát lụy. — Dây cát leo. — Phận vợ bé. ↩
  122. Tào khang. — Tấm mẳn. — Đạo vợ chồng. — Phận vơ chính. ↩
  123. Tiêu-hao. — Tin-tức. ↩