Truyện Kiều — Nguyễn Du
Bà mẹ nghe Túy-Kiều than thở thì la mà nói chiêm-bao là điều mộng-mị mà giải
Chương 2 / 10
Bà mẹ nghe Túy-Kiều than thở thì la mà nói chiêm-bao là điều mộng-mị mà giải.
Giọng Kiều rền-rỉ trướng loan,
nhà huyên[73] chợt tỉnh hỏi can-cớ gì?
Cớ sao trằn-trọc canh khuya?
màu hoa lê hãy dầm-dề giọt mưa.
Thưa rằng: chút phận ngây thơ,
dưỡng sanh đôi nợ[74] tóc tơ[75] chưa đền.
Buổi ngày chơi mả Đạm-tiên,
nhắp đi phút thấy ứng liền chiêm-bao.
Đoạn-trường là số thế nào,
bài ra thế ấy vịnh vào thế kia?
Cứ trong mộng-triệu mà suy,
phận con biết có ra gì mai sau?
Dạy rằng mộng huyển cứ đâu,
bỗng không mua não, chác sầu nghĩ nao?
Vưng lời khuyến giải thấp cao,
chưa xong điều nghĩ, lại dào mạch tương.[76]
Ngoài song thỏ thẻ anh vàng,[77]
cuối tường bông liễu bay ngang trước mành.
Hiên tà gác bóng chênh chênh,[78]
nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình.
Kim-Trọng về Liêu-Dương cứ khoăn-khoái nhớ Túy-Kiều hoài.
Cho hay là thói hữu tình,
đố ai dứt mối tơ mành[79] cho xong?
Chàng Kim từ lại thơ song,
nỗi nàng cánh-cánh[80] bên lòng biếng khuây.
Sầu đong càng khắc càng đầy,[81]
ba thu dồn lại một ngày dài ghê.[82]
Mây Tần tỏa kín song the,[83]
bụi hồng lẻo-đẻo đi về chiêm-bao.[84]
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,[85]
mặt mơ tưởng mặt. lòng ngao-ngán lòng.
Phòng văn hơi giá như đồng,
trước[86] se ngón thỏ, tơ[87] dùn phiếm loan.
Mành Tương[88] phất-phất gió đàn,
hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.
Vì chăng duyên nợ ba sanh,[89]
làm chi đem thói khuynh-thành trêu ngươi?
Kim-Trọng trở về kỳ-ngộ mà kiếm Túy-Kiều.
Bâng-khuâng nhớ cảnh nhớ người,
nhớ nơi kỳ-ngộ vội dời chơn đi.
Một đàng cỏ mọc xanh-rì,
nước ngâm trong-vắt thấy gì nữa đâu.
Gió chiều như khãy cơn sầu,
vi lau[90] hiu hắt như màu khảy trêu.
Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều,
xăm-xăm đè nẻo Lam-kiều lần sang.
Thâm nghiêm, kín cổng, cao tường,
cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
Lơ-thơ tơ liễu buông mành,
Con anh (oanh) học nói trên nhành mỉa-mai.
Mấy lần cửa đóng then gài,
đẫy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?
Chần-ngần đứng trót giờ lâu,
dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà.
Là nhà Ngô-việt thương-gia,
phòng không để đó người xa chưa về.
Lấy điều du học hỏi thuê
túi đờn cặp sách đề-huề dọn sang.
Có cây có đá sãn-sàng,[91]
có hiên Lãm-túy[92] nét vàng chưa phai.
Mừng thầm chốn ấy chữ bài,
ba sinh âu hản duyên trời chi đây.
Song hồ[93] nửa khép cánh mây,
tường đông ghé mắt ngày-ngày hằng trông,
Tấc gang động toả nguyên-phong,[94]
tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra.
Kim-Trọng gặp Túy-Kiều tỏ thiệt tình mình ra, xin Tuy-Kiều có đành không thì cho biết: rồi trâm quạt đưa cho nhau làm của tin.
Những từ quán-các lân-la,
tuần trăng thấm-thoát nay đà thêm hai.
Cách tường phải buổi im trời,
dưới đào dường thấy bóng người thít-tha.
Buông kim xóc áo vội ra,
hương còn thơm-nực, người đà vắng-tanh.
Lần theo tường gấm[95] dạo quanh,
trên nhành liếc thấy một nhành kim-xoa.[96]
Ưa tay vói lấy về nhà,
nầy trong quê-các đâu mà đến đây?
Gẫm âu người ấy báu nầy,
chẳng duyên chưa dể vào tay ai cầm.
Liền tay nhắm-nhía biếng nằm,
hãy-còn thoảng-thoảng hương trầm chưa phai.
Tan sương[97] đã thấy bóng người,
quanh tường ra ý tìm-tòi ngẩn-ngơ.
Sanh đà có ý đợi-chờ,
cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng.
Xoa đâu bắt được hư-không,
biết đâu Hiệp-phố[98] mà mong châu về?
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia,
ơn lòng quân-tử sá gì của rơi.
Chiếc xoa là của mấy mươi?
mà lòng trọng ngãi khinh tài xiết bao.
Sanh rằng lân-lý ra vào,
gần đây nào phải người nào xa-xôi.
Được rày nhờ chút thơm rơi,
kể đà thiếu-nảo lòng người bấy nay.
Mấy lâu mới được một ngày,
dừng chơn gạn chút niềm tây[99] gọi là.
Vội vào thêm lấy cũa nhà,
xuyến vàng đôi chiếc, khăn là[100] một vuông.[101]
Vén mây nhón bước ngọn tường,
phải người hôm nọ rõ-ràng chăng nhe?[102]
Sượng sùng dở ý rụt-rè,[103]
kẻ nhìn tạn mặt, người e cúi đầu.
Rằng từ ngẩu-nhĩ[104] gặp nhau,
thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã dồn.
Xương mai tính đã xỏ mòn,
lần-lừa ai biết hãy-còn hôm nay.
Tháng tròn như gởi cung mây,
chằng-chằng một phận ấp cây đã liều.[105]
Tạn đây xin một hai điều,
đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?[106]
Ngần-ngừ nàng mới thưa rằng:
thói nhà băng tuyết[107] chất hàng phỉ phong.[108]
Dầu khi lá thắm chỉ hồng.[109]
nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
Nặng lòng xót liễu vì hoa,
trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa.
Sanh rằng rày gió mai mưa,
ngày xuân đã dễ tình-cờ mấy khi.
Dầu chăng xét tấm tình si,[110]
thiệt đây mà có ích gì đến ai?
Chút chi gắn-vó một-hai,
cho đành rồi sẽ liệu bài mối-manh.
Khuôn-linh[111] dầu phụ tấc thành,[112]
cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời.
Lượng xuân dầu quyết hẹp-hòi,
công đeo-đắn[113] chẳng thiệt-thòi lắm ru?
Lặng nghe lời nói như dầu,[114]
chìu xuân dễ khiến nết thu ngại-ngùng.
Rằng trong buổi mới lạ-lùng,
nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang.
Đã lòng quân-tử đa mang,
một lời vưng tạc đá vàng thủy chung.
Được lời như cổi tấm lòng,
dở kim huờn[115] với khăn hồng trao tay.
Rằng trăm năm[116] cũng từ đây,
của tin gọi một chút nầy làm ghi.
Sẵn tay bả[117] quạt hoa quì,
với nhành xoa ấy tức-thì đổi trao.
Một lời vừa gắn tất giao,[118]
mái sau dường có xôn-xao tiếng người.
Vội-vàng lá rụng hoa rơi,
chàng về thơ viện, nàng dời lầu trang.
Từ phen đá biết tuổi vàng,
tình càng thấm-thía dạ càng ngẩn-ngơ.
Sông Tương một dải nông trờ,[119]
bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia.
Một tường tuyết chở sương che,
tin xuân đâu dễ đi về cho năng?
Túy-kiều sửa soạn qua nhà Kim-trọng chơi vì cha mẹ đi khỏi.
Lần-lần ngày gió đêm trăng,
thưa hồng rậm lục[120] đã chừng xuân qua.
Ngày vừa sanh-nhựt ngoại gia,
trên hai đường, dưới nữa là hai em.
Tâng-bầng sắm-sửa áo xiêm,
bèn dâng một lễ xa đem tất thành.
Nhà lan thanh-vắng một mình,
gẫm cơ hội ngộ đã đành hôm-nay.
Thì trân[121] thức-thức sẵn bày,
gót sen thoát-thoát dạo ngay mái tường.
Cách hoa sẽ dắng tiếng vàng,
đưới hoa đã thấy có chàng đứng trông.
Trách lòng hơ-hửng bấy lòng!
lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu.
Những là đắp nhớ đổi sầu,
tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.
Nàng rằng gió bắt mưa cầm,
đã cam tệ với tri-âm bấy chầy.
Vắng nhà được buổi hôm-nay,
lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng.
Lần theo núi giả[122] đi vòng,
cuối tường dường có nẻo thông mới rào.
Sấn tay mở cửa động đào,[123]
rẽ mây trông rõ lối vào thiên-thai.[124]
Mặt nhìn mặt càng thêm tươi,
bên lời vạn phước[125] bên lời hàn huyên.[126]
Sánh vai về chốn thơ hiên,
ngâm lời phong nguyệt,[127] nặng nguyền non sông[128].
Trên an bút giá thơ đồng,
đạm thanh một bức tranh tòng treo trên.
Phong sương được vẻ thiên nhiên,[129]
mặn khen nét bút càng nhìn càng tươi.
Sanh rằng phác họa[130] vừa rồi,
phẩm đề xin một vài lời thêm hoa.
Một khi gió táp mưa sa,
khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.
Khen tài nhả ngọc phun châu,[131]
nàng Ban Ả Tạ cũng đâu thế nầy.[132]
Kiếp tu xưa ví chưa dày,
bực nào đổi được giá nầy cho ngang.
Nàng rằng trộm liếc dong quang,[133]
chẳng sân bội ngọc cũng phường kim môn.[134]
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,
khuôn xanh[135] biết có vuông tròn mà hay?
Nhớ từ năm hãy thơ-ngây,
có người tướng sĩ đoán ngay một lời:
Anh hoa phát tiết ra ngoài,
ngàn thu bạc mạng một đời tài hoa.
Trông người lại nhắm đến ta,
một dày một mỏng biết là có nên.
Sanh rằng giải cấu[136] là đuyên,
xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.
Dầu đều giải kiết[137] đến đều,
thì đem vàng-đá mà liều với thân.
Đủ đều trung khúc[138] ân-cần,
lòng xuân phới-phới chén xuân tàng-tàng.[139]
Ngày vui vắn chẳng đầy gang,
trông ra ác đã ngậm gương non đoài.[140]
Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,
gĩa chàng nàng mới kíp dời song-sa.
Đến nhà vừa thấy tin nhà,
hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.
Cửa ngoài vội xủ rèm the,
xăm-xăm băng lối vườn khuya một mình.
Nhặt thưa gương gối đầu nhành,[141]
ngọn đèn trông thấy trướng huình hắt-hiu.
Sanh vừa dựa án thiu-thiu,
đở chìu như tỉnh đở chìu như mê.
Tiếng lên sẽ động giấc hoè,
bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.
Bâng-khuâng đảnh Hiệp non Thần,[142]
còn nghi giấc mộng đêm xuân mơ-màng.
Nàng rằng khoảng vắng đêm tràng.
vì hoa cho phải đỗ đàng tìm hoa.
Bây-giờ rỏ mặt đôi ta,
biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm-bao.
Vội vàng làm lễ rước vào,
đài sen nối nến, song đào thêm hương.
Tiên[143] thề cùng thảo một chương,
tóc mây một món dao vàng một đôi.
Vầng-trăng vặc-vặc giữa trời,
đinh-ninh hai mặt một lời song-song.
Tóc tơ căn-vặn tấc lòng,
trăm năm tạc một chữ đồng[144] đến xương.
Chén hà[145] sánh giọng quình tương,[146]
dải là hương lụn, bình gương bóng lồng.[147]
Sanh rằng gió mát trăng trong,
bấy lâu nay một chút lòng chửa cam.
Giọt sương chửa nặng cầu lam,[148]
sợ lần-khân[149] quá ra sàm-sở chăng.[150]
Nàng rằng: hồng-diệp xích-thằng,
một lời cũng đã tiếng rằng tương tri.
Đừng đều nguyệt nọ hoa kia,
ngoài ra ai lại tiếc gì với ai.
Rằng nghe nổi tiếng cầm đài,
nước-non luống những lóng tai Chung-kỳ.[151]
Thưa rằng tiện kị sá chi?
đã lòng dạy đến dạy thì phải vưng.
Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
vội-vàng Sanh đã tay nưng ngang mày.
Nàng rằng nghề mọn riêng tây,
làm chi cho nặng lòng người lắm thân.
Lựa dần dây võ dây văn,[152]
bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư-mã hoàng cầu,[153]
nghe ra như oán như sầu phải chăng.
Kê-khang nầy khúc Quảng-lăng,[154]
một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân.[155]
Quá quan nầy khúc Chiêu-quân.[156]
nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
tiếng mau dập-dập như trời đổ mưa.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
khiến người ngồi đấy cũng ngơ-ngẩn sầu.
Khi dựa gối khi cúi đầu,
khi gò chín khúc,[157] khi châu đôi mày.[158]
Rằng hay thì thật là hay,
nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.
Lựa chi những khúc tiêu tao,[159]
chột lòng mình cũng nao-nao lòng người.
Rằng quen mất nết đi rồi,
tẻ[160] vui thôi cũng tánh trời biết sao.
Lời vàng vưng lãnh ý cao,
hoạ dần-dần bớt chút nào được không.
Hoa hương càng tỏ thức hồng,
đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu.
Sóng tình dường đã xiêu-xiêu,
xem trong âu-yếm, có chìu lả-lơi.[161]
Thưa rằng đừng lấy làm chơi,
giẽ[162] cho thưa hết một lời đã nao.
Vỉ chi một đáo yêu đào,[163]
vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
Đã cho vào bực bố kinh,[164]
đạo tùng phu, lấy chữ trinh làm đầu.
Ra tuồng trên Bộc trong dâu,[165]
thì con người ấy ai cầu làm chi.
Phải đều ăn xổi ở thì,
tiết trăm năm nở bỏ đi một ngày.
Gẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,
lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi-Trương.[166]
Mây-mưa đánh đổ đá vàng,
quá chìu nên đã chán chường én anh.
Trong khi kết cánh trên nhành,
mà lòng rẻ-rúng[167] đã trình một bên.
Mái tây để lạnh hương nguyền,
cho duyên đằm-thắm ra duyên bỉ-bàng.[168]
Gieo thoi[169] trước chẳng giữ-giàng,[170]
để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?
Vội chi liễu ép hoa nài,
còn thân ắt cũng đền bồi có khi.
Thấy lời đoan chánh[171] dễ nghe,
chàng càng thêm nể thêm vì mười phân.
Bóng tàu[172] vừa lợt vẻ ngân.[173]
tin đâu đã đến cửa ngăn gọi vào.
Nàng thì vội trở buồng thêu,
Sanh thì rảo bước sân đào vội ra.
Chú thích của bản in
- — Huyên đường. — Mẹ. ↩
- Đôi nợ. — Công cha ngãi mẹ. ↩
- Tóc-tơ. — Mảy-mún, mỏng-mảnh. (Dầu một chút cũng chưa đền được.) ↩
- — Nước-mắt. (Mạch Tương — Mạch sông Tương. Chỉ bà Ngao-hoàng, Nữ-anh khóc chồng.......) ↩
- — Chim vàng anh. (— Oanh.) ↩
- — Xế chiều. ↩
- — Mối tơ hồng. ↩
- — Ngạy-ngạy. ↩
- — Sự buồn rầu càng nghĩ thêm hoài. ↩
- — Nhứt nhựt tam thu. (Một ngày bằng ba năm). ↩
- — Mây mịt như trên Tần-lãnh. ↩
- — Lúc gặp tại bụi hồng thể nào, thì lẻo-đẻo chiêm bao thấy hoài. ↩
- — Trong tháng cuối muộn đi rồi, tim lụn dầu hao, đêm nào, đêm nấy, nghĩ nhớ Túy-kiều hoài. ↩
- — Quyển sáo. ↩
- — Đờn. ↩
- — Sào tre. (Cũng vì tích nước-mắt Ngao-hoàng, Nữ-anh, tại sông Tương). ↩
- — Phụ sanh chi, sư giáo chi, quân tự chi. — Nhân sanh ư tam, sự chi như nhứt. ↩
- — Ngọn đế lau gió thổi hiu-hắt phất-phơ như giục cơn-sầu. ↩
- — Có kiểng vật non bộ sẵn-sàng. ↩
- — Hiệu đề: Lãm-túy-hiên thếp vàng. ↩
- — Cửa sổ phất giấy..... ↩
- — Tuy gần một bên mà cửa đóng nguyên-phong không thấy Túy-kiều ra. ↩
- Tường gấm. — Vách tường dưới chơn có trồng bông hoa. ↩
- Kim xoa. — Trâm vàng, trâm cúc. ↩
- Tan sương. — Sáng ra. ↩
- — Hiệp-phố thuộc về Annam thuở trước, là quận Hiệp-phố dưới bãi biển có châu nhiều mà sau quan Tàu qua trị dân, xâu-bơi nặng, đồ-khổ dân trốn đi quận khác, thì châu nó cũng đi mất đi hết; đến sau có quan thanh-liêm tử-tế tới chiêu qui, dân về thì chổ ấy có châu lại như trước; nên rằng: Châu về Hiệp-phố. ↩
- Niềm tây. — Chuyện riêng, tình riêng. ↩
- Là — Lụa-là, là-lượt. ↩
- Một vuông. — Một cái khăn, như nói vuông, hay-là chuông nhiễu... ↩
- Chăng nhe. — Phải không hé? ↩
- Rụt-rè. — Thậm-thòi thậm-thụt. ↩
- Ngẫu nhĩ. — Tình-cờ. ↩
- — Cả tháng tròn những ấp cây chờ thỏ. ↩
- — Bực đài gương cao trọng làm-vậy mà có đoái đến phận hèn như bèo nầy chăng. ↩
- — Giá tuyết. — Trong sạch tử-tế như giá như tuyết. ↩
- — Phỉ phong. — Kính đáo. — Gái còn trinh tiết. ↩
- Lá thắm. — (Ngư câu hồng diệp), tích bà Hàn-phu-nhơn viết trong lá thả theo nước, ông Vu-hựu được, hoà thơ lại....... Đến sau phóng cung nữ ra, thì Vu-hựu chuộc về làm vợ. — Sau nói chuyện với nhau mới biết thiên duyên tại Hồng-diệp. — Chỉ-hồng. — Xích thằng hệ túc. — Nhơn-duyên. ↩
- Si. — Ngây dại. ↩
- — Linh cơ. — Tạo hóa lô. — Trời. ↩
- Tấc thành. — Phương thốn. — Lòng thành. ↩
- — Đeo đuổi. ↩
- Như dầu. — Trơn lu. ↩
- Kim hườn. — Chiếc neo, xuyến. ↩
- Trăm năm. — Bá niên giai lão. ↩
- Bả. — Cầm. ↩
- Tất giao. — Keo sơn. ↩
- Nông trờ. — Cạn xợt. ↩
- Lá uá rụng, lộc đâm ra: qua xuân. ↩
- Thì trân. — Đồ ngon theo mùa. ↩
- — Non hộ đất. ↩
- Động đào. — Đào nguyên động (Động-tiên). ↩
- Thiên-thai. — Núi Tiên ở, Lưu-thần, Nguyễn triệu đi hái thuốc mà gặp Tiên. ↩
- Lời vạn phước. — Lời con gái chào chúc. ↩
- Hàn huyên. — Ấm lạnh. ↩
- Phong nguyệt. — Gió trăng. — Hoa tình. ↩
- — Thề nguyền, chỉ núi sông mà thề. ↩
- — Tự nhiên. ↩
- Phác họa. — Vẻ vụng. ↩
- — Thổ ngọc phún châu. — Lời nói hay, thơ làm hay. ↩
- Nàng Ban. — Là Ban-cơ làm Hán sử thế cho Ban-cố chết đi. — Tạ. — Tạ-đạo-huẩn, ngâm thơ giỏi. ↩
- — Mặt mũi, hình dáng. ↩
- Ngọc bội. — Đeo ngọc. — Kim môn. — Hàn lâm viện kim mã môn. ↩
- Khuôn xanh. — Trời xanh. ↩
- Giải cấu. — Gặp gỡ. ↩
- Giải kiết — Giải hung cầu kiết. — Do tích thầy phù thủy. ↩
- Trung khúc. — Việc kín trong lòng. ↩
- Tàng tàng. — Xoàng xoàng. ↩
- — Mặt trời lặn. ↩
- Gương gối đầu nhành. — Mặt trăng gối trên nhành cây. ↩
- Đảnh Hiệp. — Núi Hiệp-sơn. — Non thần. — Tam thần sơn — cảnh tiên. ↩
- Tiên. — Tờ. ↩
- Chữ đồng — Đồng tịch đồng sàng, đồng sanh, đồng tử. ↩
- Chén hà. — (hà bôi) chén ngọc tử hà. ↩
- — Tiệc rượu cầm uống chúc thọ. ↩
- — Dải là — đồng tâm kiết. Hương tàn đèn lụn. — Đã khuya lắm. ↩
- Cầu lam. — (Lam-kiều); tích Lam điền chưởng ngọc. Lư-sanh muốn con gái bà quán mà người ta không gả, biểu có một đấu ngọc đem đến thì mới được. Lư-sanh đi tới cầu Lam-kiều, gặp ông già cho ba cục đá dặn đem trồng nơi Lam-điền đủ một trăm ngày thì thành một đấu ngọc, làm thì quả có làm vậy, nên dùng tích ấy. ↩
- Lần-khân. — Lầy-đây. ↩
- Sàm-sở. — Lần-đâm, bốc-mạt. ↩
- — Chung-tử-kỳ là người lóng tai nghe ông Bá-nha đờn. ↩
- Dây võ. — Dây dài. Dây văn. — Dây tiểu. ↩
- — Ông Tư-mã-tương-như hay là Trường-khanh đờn khúc Phụng-cầu-hoàng: Trác-văn-quân nhỏ tuổi góa chồng đêm nghe liền leo vách thành qua; sau lấy nhau nên vợ nên chồng........... ↩
- — Ông Kê-khang đờn bản Quảng-lăng hay lắm.... ↩
- Hành vân. — Bản đờn về việc đi dạo chơi. ↩
- — Bản lúc bà Chiêu-quân ra Ngọc-môn-quan than thân mà đi cống hồ. ↩
- — Ruột — (cửu phúc hồi trường). ↩
- — Nhăn hài cái mày. ↩
- — Ai oán, thảm thiết. ↩
- Tẻ. — Buồn. ↩
- Lả lơi. — Lả lúa. ↩
- Giẽ. — (Hượm) — Khoan đã, thủng-thẳng. ↩
- — Đào chi yêu-yêu. — Yểu-điệu như là đào. ↩
- Bố kinh. — (Quần bố kinh xoa) — thật đạo vợ chồng. ↩
- Trên bộc. — Bộc thượng (Sông bộc). Trong dâu. — Tang trung (bãi dâu). Dâu đọc giâu. ↩
- Thôi. — Thôi-oanh-oanh (tên con gái). Trương — Trương-cung (tên con trai); hai đứa trai gái với nhau mà sau mẹ không gả, nên lấy nhau không đặng mà bỏ nhau. ↩
- Rẻ rúng. — Dễ lắm. ↩
- Bỉ-bàng. — Hổ-thẹn, xấu hổ. ↩
- Gieo thoi. — Tích con gái kia quăng thoi gãy rang cái lão Tạ-côn là con trai đến chọc nó. ↩
- Giữ giàng. — Giữ gìn. ↩
- Đoan chánh. — Ngay thẳng. ↩
- Bóng tàu. — Bóng mặt trăng. ↩
- Ngân. — Sông ngân hà. ↩