Trang chủ Viện

Truyện Kiều — Nguyễn Du

Kim-Trọng được tin chú ruột mất, phải về Liêu-Dương mà hộ tang

Chương 3 / 10

Kim-Trọng được tin chú ruột mất, phải về Liêu-Dương mà hộ tang.

Cửa ngoài vừa ngỏ then hoa,
gia đồng vào gởi thư nhà mới sang.
Đem tim thúc phụ từ đường,
bơ-vơ lữ thấn[174] tha hương đề huề.[175]
Liêu-dương cách trở sơn khê,
xuân đường[176] kíp gọi Sanh về hộ tang.
Mắng tin xiết nỗi kinh-hoàng.
băng mình lén trước đài trang tự tình.
Gót đầu[177] mọi nỗi đinh-ninh,
nỗi nhà tang tóc[178] nỗi mình xa-xôi
Sự đâu chưa kịp đôi hồi,
duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ.
Trăng thề còn đó sờ sờ,
dám xa-xuôi mặt mà thưa-thớt lòng.
Ngoài ngàn dặm chốc ba đông,[179]
mối sầu khi gở cho xong còn chầy.
Gìn vàng giữ ngọc cho hay,
cho đành lòng kẻ chơn mây cuối trời.[180]
Tai nghe ruột rối bời-bời,
ngần-ngừ nàng mới giải[181] lời trước sau:
Ông tơ[182] ghét bỏ chi nhau?
chưa vui sum-hiệp đã sầu chia-phui;[183]
Cùng nhau trót đã nặng lời.
dẫu thay mái tóc, dám dời lòng tơ.
Quản bao tháng đợi năm chờ,
nghĩ người ăn gió nằm mưa[184] xót thầm.
Đã nguyền đôi chữ đồng tâm,
trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.[185]
Còn non còn nước còn dài,
còn về còn nhớ đến người hôm nay.
Dùng-dằng chưa nỡ rời tay,
vầng đông[186] trông đã đứng ngay nóc nhà.
Ngại-ngùng một bước một xa,
một lời trân trọng, châu sa mấy hàng.
Buộc yên quảy gánh vội-vàng,
mối sầu sẽ[187] nữa, bước đàng chia hai.
Buồn muôn phong cảnh quê người,
đầu nhành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa.
Não người chải gió dầm mưa,
một ngày nặng gánh tương tư một ngày.
Nàng thì đứng rũ hiên tây,
chín chìu vấn-vít như vầy mối tơ.

Nhà bị hoạn nạn, Túy-Kiều lo bán mình chuộc cha.

Trông chừng khói ngớt song thưa,
hoa trôi chác thắm, liễu xơ-xác vàng.[188]
Chần-ngần rảo gót lầu trang,[189]
một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về.
Hàn huyên[190] chưa kịp tả đề,[191]
sai nha bỗng thấy bốn bề xôn-xao.
Người nách thước, kẻ tay đao,
đầu trâu mặt ngựa ào-ào như sôi.
Vơ quàng một lão một trai,[192]
một dây vô lại[193] buộc hai thâm tình.
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,[194]
rụng rời không dệt, tan tành quả may.[195]
Đồ tế nhuyễn,[196] của riêng tây,
sạch-sành-sanh[197] quét cho đầy túi tham.
Đều đâu bay-bốc[198] ai làm,
nầy ai đơn huyển, trặt hàm bỗng nhưng.
Hỏi ra sau mới biết rằng:
phải tên xưng xuất là thằng bán tơ.
Một nhà hoảng-hốt ngẩn-ngơ,
tiếng oan dẫy đất, án ngờ đầy mây.
Hạ từ[199] van-vái trót ngày,
điết tai lân truất, phụ tay tồi-tàn.[200]
Rường cao rút ngược dây oan,
dẫu vàng đá cũng nát gan lựa người.
Mặt trông đau-đớn rụng rời,
oan nầy còn một kêu trời những xa.
Một ngày lạ thói sai nha,[201]
làm cho khốc hại[202] chẳng qua vì tiền.
Sao cho cốt-nhục vẹn-tuyền,
trong khi ngộ biến tùng quyền[203] biết sao
Duyên hội-ngộ, đức cù-lao,
chữ tình chữ hiếu, bên nào nặng hơn?
Để lời thệ hải minh sơn,[204]
làm con trước phải đền ơn sanh thành.
Quyết tình nàng mới hạ tình.[205]
giẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha.
Họ Chung có kẻ lại già,
cũng trong nha dịch lại là từ tâm.
Thấy nàng hiếu trọng tình thâm,
vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay.
Tính bài lót đó trọn đây,
có ba trăm lượng việc nầy mới xuôi.
Đem về tạm phú giam ngoài,
nhủ rằng qui liệu[206] trong đôi ba ngày.
Thương lòng con trẻ thơ ngây,
gặp cơn họa gió tai bay bất kỳ.
Đau lòng tử biệt sinh ly,
thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên.
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,
liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.[207]

Mã-giám-Sanh tới coi Túy-Kiều, nói dối mua về làm vợ bé.

Sự lòng ngỏ với băng nhân,[208]
tin sương đồn-đãi xa gần xôn-xao.
Gần miền có một mụ nào,
đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.
Hổi tên rằng Mã-giám-sanh.
hỏi quê rằng huyện Lâm-thanh cũng gần.
Quá niên giạc ngoại bốn tuần,
râu mày nhãn-nhụi[209] áo quần bảnh-bao.[210]
Trước thầy sau tớ xôn-xao,
nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghé lên ngồi tốt sẵn-sàng,
phòng trong mối đã giục nàng kíp ra.
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
thềm hoa một bước, giọt hoa mấy hàng.
Ngại-ngùng thẹn gió e sương,
xem hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.
Mối còn vén tóc bắt tay,
nết buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Đắn-đo[211] cân sắc cân tài,
ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.
Mặn-nồng một vẻ một ưa,
bằng lòng khách mới tùy cơ dặt-dìu.[212]
Rằng mua ngọc đến Lam-kiều,
sính nghi xin dạy bao nhiêu đấy chường.
Mối rằng đáng giá ngàn vàng,
rấp nhà nhờ lượng người thương dám nài.
Cò-kè bớt một thêm hai,
giờ lâu ngã giá vưng ngoài bốn trăm.
Một lời thuyền đã êm dằm,
hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi.
Định kỳ nạp thể vu qui,[213]
tiền lưng đã có việc gì chẳng xong?

Lo hạc vàng lãnh Vương-ông ra rồi. Vương-ông hay Túy-Kiều bán mình lấy tiền chuộc tội cho mình, thì than khóc vật đầu vào tường. Túy-Kiều khuyên giải hết lời cùng dặn cha mẹ cho em là Túy-Vân thế cho mình, vì đã có thề nguyền với Kim-Trọng.

Một lời cậy với Chung-công,
khất tờ tạm lãnh Vương ông về nhà.
Thương tình con trẻ cha già,
nhìn nàng, ông đã máu sa ruột xàu:
Nuôi con những ước về sau,
trao tơ[214] phải lứa, gieo cầu đáng nơi.[215]
Trời làm chi cực bấy trời!
nầy ai vu thác cho người hiệp tan?
Búa dao bao quản thân tàn,
nỡ đày-đọa trẻ, càng oan khốc già.
Một lần sau trước cũng ra,
thôi thì mặt khuất, chẳng thà lòng đau.
Nhiều lời như chả dòng châu,
liều mình ông đã gieo đầu tường vôi.
Vội-vàng kẻ giữ người coi,
nhỏ lo nàng lại tìm lời khuyên can.
Vỉ chi một mảnh hồng nhan.[216]
tóc tơ chưa chút đền ơn sanh thành.
Dâng thơ đã thẹn Nàng-Oanh.[217]
lại thua Ẳ-lý bán mình hay sao?[218]
Xuân huyên[219] tuổi hạc càng cao,
Một cây gánh vác biết bao nhiêu nhành?
Lòng thơ dầu chẳng dứt tình,
gió mây âu hản tan-tành nước non.
Thà rằng liều một thân con.
hoa dầu rã cánh, lá còn xanh cây.
Phận sao đành vậy cũng vầy,
cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh.
Cũng đừng tính quất lo quanh,
tan nhà là một. thiệt mình là hai.
Phải lời ông cũng êm tai,
hìn nhau giọt vắn giọt dài ngổn ngang.[220]
Mái ngoài họ Mã vừa sang,
tờ hoa đã ký cân vàng mới trao.
Trăng-già[221] độc-địa làm sao;
cầm dây chẳng lựa, buộc vào tự-nhiên.
Trong tay đã sẵn đồng tiền,
dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì?
Họ Chung ra sức giúp vì,
lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong.
Một nhà đã tiện thong dong,
tinh kỳ[222] giục giả đã mong độ về.
Một mình nương ngọn đèn khuya,
áo dầm giọt lụy, tóc xe mối sầu.
Phận dầu dầu vậy cũng dầu,
xót lòng đeo-đứng bấy lâu một lời.
Công-trình kể biết mấy mươi?
vì ta khăng-khít[223] cho người dỡ dang.
Thề lòng chưa ráo chén vàng
lỗi thề thôi đã phụ-phàng với hoa.
Trời Liêu[224] non nước bao xa,
nghĩ đâu rẽ cửa, phân nhà từ tôi.
Biết bao duyên nợ thề bồi,
kiếp nầy thôi thế thì thôi còn gì?
Tái sanh chưa dứt nhang thề,
làm thân trâu ngựa, đền nghì trước-mai.
Nợ tình chưa trả cho ai,
khối-tình[225] mang xuống tuyền đài[226] chưa tan.
Nỗi riêng riêng những bàng-hoàng,
dầu chong trắng đĩa, lụy tràn thấm khăn.
Túy-vân chợt tỉnh giấc xuân,
dưới đèn ghé đến, ân-cần hỏi han:
Cơ trời dâu bể đa đoan,
một nhà để chị riêng oan một mình.
Cớ chi ngồi những tàn canh,
nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?
Rằng: lòng đương thổn-thức đầy,
tơ duyên còn vướng mối nầy chưa xong.
Hở môi ra cũng thẹn-thùng,
để lòng, thì phụ tấm lòng với ai.
Cậy em, em có chịu lời,
ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đàng đứt gánh tương tư,[227]
keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề:
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
hiếu tình có nhẽ[228] hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
xót tình máu-mủ, thay lời nước non.
Chị dầu thịt nát xương mòn,
ngậm cười chín suối[229] hảy còn thơm lây.
Chiếc vành với bức tờ mây,
duyên nầy thì giữ, vật nầy của chung.
Dầu em nên vợ nên chồng,
xót người mạng bạc, ắt lòng chớ quên.
Mất người còn chút của tin,
phím đờn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dầu đến bao giờ,
đốt lò hương ấy, đỡ tơ phím nầy.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
thấy hiu hắt gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
nát thân bồ liễu đền nghì trước mai.[230]
Dạ đài cách mặt khuất lời,
chứa-chan giọt lụy cho người thác oan;
Bây-giờ trâm gãy bình tan,
kể làm sao xiết muôn vàn ái ân?
Trăm ngàn gởi lạy tình quân,
tóc tơ vắn vỏi có ngằn ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi,[231]
đã đành nước chảy hoa trôi lỡ-làng.
Ôi Kim-lang, hỡi Kim-lang.
thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Cạn lời hồn ngất máu say,
một hơi lặng ngắt, đôi tay lạnh đồng.
Xuân huyên chợt tỉnh giấc nồng,
một nhà chật ních kẻ trong người ngoài.
Kẻ thang người thuốc bời-bời,
mới dầu cơn vậng chửa phai giọt hồng.
Hỏi sao ra sự lạ-lùng,
Kiều càng nức-nỡ[232] mở không ra lời.
Nỗi nàng Vân mới dỉ tai,
chiếc vành đây với tờ-bồi ở đây.
Nầy cha làm lỗi duyên mầy,
thôi thì nỗi ấy sau nầy đã em.
Vì ai rụng cải rơi kim,[233]
để con bèo nổi mây chìm vì ai?
Lời con nhủ lại một hai,
dẫu mòn bia đá, dám sai tấc vàng.
Lạy rồi nàng lại thưa chường,
nhờ cha giả được nghĩa chàng cho xuôi.
Sá chi thân phận tôi đòi,
dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu.[234]

Chú thích của bản in

  1. Lữ thấn. — Quàn giữa đường, chết dọc đường ↩
  2. Đề huề. — Đem về. ↩
  3. Xuân đường. — Thường thường người ta hay nói Thung đường mà thật nó là Xuân.) Sơn trung hữu thọ bát thiên niên vi xuân, cố hiện phụ viết xuân.Sanh. — Học sanh. ↩
  4. Gót đầu. — Đầu đuôi, gốc ngọn. ↩
  5. Tang tóc. — Để tang, để chế (Có tang thì không nên chải gở làm tốt làm tẻ.) ↩
  6. Ba đông. — Ba nam tam niên tang). ↩
  7. — Xa xuôi. ↩
  8. Giải.— Bày ra. ↩
  9. Ông tơ. — Tích ông tơ bà nguyệt xe dây buộc nhơn duyên người-ta. Tên Vi-cố nhơn trời sáng trăng đi chơi trên núi, thấy ông già ngồi xe chỉ điều. Nó mới hỏi ổng làm làm chi vậy. Ông tiên rằng: Tao xe nhơn duyên vợ chồng người-ta hết thảy và tao biết trước ai lấy ai, sang hèn, khó giàu gì cũng biết, lại nói tiên tri rằng nó sau sẽ lấy vợ là con ăn mày ngoài chợ. Vi-cố về gặp con mẹ ăn mày bồng con gái nhỏ, thì muốn giết nó đi, mà nó bồng con chạy khỏi, phóng giáo theo nhằm con nhỏ có vít ra, rồi trốn đi mất. Anh ta học hành giỏi làm quan, sau cưới con quan kia về làm vợ, tưởng đã khỏi số lấy con ăn mày. Ai ngờ sau thấy vợ có vít thì hỏi phăn ra mới biết nó là con ăn mày, làm con nuôi ông quan gả cho mình, thì mới biết sự nhơn duyên có số tiền định. ↩
  10. Chia phui. — Chia-chác, phân-rẽ nhau ra. ↩
  11. — Chan phong túc võ. — Dầm sương dãi nắng. ↩
  12. — Bão tì bà quá biệt thuyền. — Ôm đờn tì bà mà qua ghe khác. ↩
  13. Vầng đông. — Mặt trời. ↩
  14. Sẽ. — Xẽ, sớt. ↩
  15. — Qua thu. ↩
  16. Lầu trang. — Chỗ con gái ở; phòng con gái ở. ↩
  17. Hàn huyên. — Lạnh ấm. — Hỏi thăm. ↩
  18. Tả đề. — Hỏi han. ↩
  19. — Bắt ngang một ông già, một người trai. ↩
  20. Vô lại. — Không nhờ. — Oan. ↩
  21. Ruồi xanh. — (Thương nhăng). Nha lại, lệ dịch. ↩
  22. — Phá, soát, lục cả nhà cho đến không cửi, rổ may. ↩
  23. Đồ tế nhuyễn. — Đồ kín, đồ nhỏ, đồ nữ trang. ↩
  24. Sạch sành-sanh. — Sạch bách, ráo nạy. ↩
  25. Bay-bốc. — Tai bay vạ gởi. ↩
  26. Hạ từ — Bỏ nhỏ, hạ mình xuống mà xin.......... ↩
  27. — Nó không nghe, không vì, cứ phép khảo kẹp ↩
  28. Sai nha. — Nhà tơ (Kẻ quan sai). ↩
  29. Khốc hại. — Độc dữ. ↩
  30. Quyền. — Đỡ. ↩
  31. — Chỉ non chỉ nước mà thề. Lời thề. ↩
  32. Hạ tình. — Để dẹp tình lại, mà lo hiếu. ↩
  33. Qui liệu. — Tính toán. ↩
  34. Ba xuân. — (tam sanh). ↩
  35. Băng nhơn. — Kẻ làm mai, kẻ đem mối. ↩
  36. Nhãn-nhụi. — Trơn-tru, trơn-lu. ↩
  37. Bảnh-bao. — Tươi-tỉnh, tử-tế. ↩
  38. Đắn đo. — Đon ren, so đo. ↩
  39. Dặt-dìu. — Nói phải chẳng. ↩
  40. Nạp thể vu qui. — Cưới rồi đưa dâu. ↩
  41. Trao tơ. — Tích con gái Lý-lâm-phủ quan tể tướng đời nhà Đường, có nhiều con gái, mời các quan viên nhỏ trai tới rồi trong lầu có chỉ tơ đỏ thả ra từ mối ra cửa sổ, ông nào nắm nhằm chỉ đứa nào, lấy đứa nấy làm vợ. ↩
  42. Gieo cầu. — (Tú cầu); tích con ông Lư-lân-vương là con gái tên Cẩm-bình-công-chúa kén chồng, may trái cầu thêu, ngồi trên lầu quăng xuống, ai bắt được thì là chồng. Khi ấy có hai anh em con chú con bát, là Tiết-giao, bắt được, Tiết-quì, lại giành sổ cái bao gấm hứt hai ra; nên Lư-lăng-vương gả con chị cho Tiết-giao, còn con em đưa cho Tiết-quì. — Rể xứng, rể kén được. ↩
  43. Mảnh hồng nhan. — Thân phận con gái. ↩
  44. Nàng Oanh. — Tích đời nhà Hán Văn-đế, nàng Đề-oanh là con Thuận-vu-khôn. Cha bị tội đáng phải hình, thì nàng Đề-oanh tới ngọ môn xin bán mình vào cung làm mọi mà chuộc cha cho khỏi hình. Vua cám lời Đề-oanh xuống chiếu bỏ nhục hình đời Tấn đi mà tha tội cho Vu-khôn. ↩
  45. — Nàng Lý-cố-trinh-nương cha mắc tội oan, bán mình mà chuộc tội cha. ↩
  46. — Huyên thảo vong ưu, cố dĩ huyên hô mẫu vi huyên đường — Hễ giắt cỏ huyên lên đầu thì quên hết lo, cho nên lấy đó mà chỉ là mẹ. ↩
  47. Ngổn-ngang. — Dọc ngang. ↩
  48. Trăng-già. — Nguyệt-lão, bà Nguyệt-lão. ↩
  49. Tinh kỳ. — Kỳ hẹn đưa dâu. ↩
  50. Khăn-khít. — Chặt-chịa. ↩
  51. Trời Liêu. — Đất Liêu-dương. ↩
  52. Khối-tình. — Nguyên tích thuở xưa có người con gái có tình tri giao với người học trò, bị đứa côn quan giết chết đi; linh nó chưa thỏa nên hóa ra người ta nhỏ nằm dưới lưng, đến khi quan lấy luật nghiệm, người, tinh nhơn tới ngó thấy mặt khóc lên một tiếng, khi ấy khối-linh mới tan đi. ↩
  53. Tuyền đài. — Cửu tuyền. — Chín suối. ↩
  54. Tương tư. — Nhớ nhau. ↩
  55. Nhẽ. — Lẽ. ↩
  56. Chín suối. — Cửu tuyền. ↩
  57. Bồ liễu. — Phận con gái — Trước mai — vợ chồng. ↩
  58. Bạc như vôi. — Trắng như vôi: Bạc quá. ↩
  59. Nức-nỡ. — Tức-tối. ↩
  60. Kim cải. — Kim rơi cải rụng. — Vợ chồng phân rẽ. ↩
  61. Xương trắng — (Bạch cốt phao khí tha hương): chết bỏ xương đất người. ↩