Cay đắng mùi đời — Hồ Biểu Chánh
Cuốn thứ nhì (phần 1)
Chương 6 / 8
CUỐN THỨ NHÌ
Giá mỗi cuốn: 0$50
Tác-giả:
HỒ BIỄU-CHÁNH
Người lảnh xuất bản:
VIÊN-HOÀNH
CAY ĐẮNG MÙI ĐỜI
TOUS DROITS RÉSERVÉS
SAIGON
IMPRIMERIE DE L'UNION NGUYỄN-VĂN-CỦA
Février 1926
CAY ĐẮNG MÙI ĐỜI
(TIẾP THEO)
Nó muốn ngồi dậy đi kiếm nước mà uống, song tay chơn rủ riệt chổi dậy không nổi. Người ngồi trên giường dựa bên giường nó đó thấy vậy bèn nói rằng:
— Hứ! thằng nhỏ nầy bữa nay coi bộ khá rồi nên muốn ngồi dậy đây. Sao em? Trong mình em khá hay không?
— Tôi khát nước quá. Chú làm ơn cho tôi xin một miếng nước uống.
— Ờ, thôi nằm đó, để qua rót nước giùm cho.
Người ấy nói rồi liền đi rót một chén nước đem cho nó uống. Thằng Được uống hết chén nước mà chưa đả khát, còn muốn uống nữa, song sợ nhọc lòng người ta nên không dám mượn. Nó nằm nghỉ một hồi rồi hỏi người ấy rằng:
— Chỗ nầy là chỗ gì vậy chú há?
— Uả, thiệt em không biết hay sao?
— Thưa, không biết.
— Ờ phải; hôm qua họ bồng em đem vô đây em nóng mê-mang, quan thầy sợ cứu em không đặng nên làm sao mà em biết đặng. Đây là nhà thương Chợ-rẩy đó em.
— Chú có biết thầy tôi đi đâu hay không?
— Thầy em là ai?
— Thầy tôi là thầy Đàng.
— Qua không biết. Qua thấy hôm qua lối 10 giờ có hai người bồng em vô để nằm đó rồi quan thầy với mấy thầy phạm-nhe cho em uống thuốc từ hôm qua cho đến bữa nay đó thôi, không thấy ai thăm viến chi hết. Thầy Đàng người bao lớn, già hay là trẻ, mặc áo quần ra làm sao?
— Thầy tôi già trên 50 tuổi, râu bạc hoa râm, mặc áo dài, đi giày hàm ếch.
— Không có. Từ hôm qua cho đến bữa nay qua không thấy người nào như vậy.
— Vậy chớ thầy tôi đi đâu kìa.
Thằng Được hỏi thăm rồi nằm suy nghĩ không biết thầy nó đi đâu. Cách một hồi lâu có một quan thầy Annam đi với hai ba thầy phạm-nhe vô thấy nó thì cười, lấy tay rờ đầu nó rồi nói rằng: « Thằng nầy bữa nay tỉnh lại rồi. Em ráng uống thuốc, vài tuần nữa em mạnh, không sao đâu mà sợ. » Nói rồi bèn day lại nói với mấy thầy phạm-nhe rằng: « Một lát nữa cho nó uống sữa nghe hôn; cho nó uống sữa ít bữa, cho nó dứt nóng lạnh rồi sẽ cho ăn cơm ăn cháo. » Thằng Được vừa muốn hỏi thăm thầy nó thì quan thầy bỏ đi qua khán bịnh cho người khác nên hỏi không được.
Buổi chiều thằng Được bớt nóng, nhưng mà nó cũng chưa ngồi dậy nỗi. Có một thầy phạm-nhe cầm một cây viết chì vô hỏi tên họ quê quán nó đặng có ghi vào sổ. Nó nói thiệt rằng nó tên Được, mà không biết họ gì, nó không có cha mẹ, đi theo thầy Đàng, mà thẩy đi xứ nầy qua xứ kia đặng dạy đờn nên không biết quê quán là đâu mà nói. Thầy phạm-nhe biên rồi cười gằn mà nói rằng: « Té ra mầy là con nhà hoang mà! đã không có mẹ cha, mà lại không biết xứ sở, như vầy ai biết đâu mà đòi tiền nhà thương. Tao chắc chừng mầy mạnh nhà-nước sẽ gởi mầy lên Ông-Yệm. »
Thầy phạm-nhe xây lưng bước ra thì thằng Được nước mắt tuôn dầm-dề, vì mấy tiếng « con nhà hoang » làm cho nó bầm gan nát ruột. Nó nằm mà tủi thầm thân phận, rồi nhớ mấy lời hâm sẽ gởi lên Ông-Yệm, nó lại sợ không biết Ông-Yệm là chỗ nào. Nó hỏi thăm người bịnh nằm một bên, họ nói Ông-Yệm là chỗ để đày mấy đứa nhỏ ngổ nghịch, hoang-đàng, không bà không con, ăn cắp ăn trộm, thì nó càng sợ hơn nữa, nên nằm mà khóc rấm-rút.
Lối 6 giờ rưởi tối đèn khí đốt sáng trưng, người bịnh lộn xộn, kẻ sửa soạn ngủ, người ngồi nói chuyện. Thình lình có một thầy mặc đồ Tây màu vàng, đầu đội nón nỉ xám ở ngoài xâm xâm vào phòng bịnh với một thầy phạm-nhe. Thằng Được tưởng là quan thầy nên lau nước mắt rồi nằm im-lìm. Khi hai người đi lại tới chỗ nó nằm, thầy phạm-nhe chỉ nó mà nói: « Nó đó », rồi bỏ đi ra. Người mặc đồ Tây vàng ấy dơ tay rờ đầu nó rồi nói rằng: « Bữa nay bớt nóng rồi. Hôm qua nóng quá tưởng đã không xong rồi chớ. »
Thằng Được nhướng mắt ngó thầy ấy trân trân không biết là ai. Thầy ấy thấy vậy mới nói với nó rằng: « Em ráng uống thuốc cho mau mạnh nghé. Tía em thì làng họ đã chôn hồi chiều hôm qua rồi. Đồ đạt qua lãnh mà giữ tại nhà qua, chừng em mạnh ra nhà-thương rồi thì ghé đó mà lấy, không mất đâu mà sợ. »
Thằng Được nghe nói chưng hửng liền nói: « Thầy là ai? Tía tôi là ai đâu mà thầy nói làng đã chôn rồi? Thế khi thầy tôi đã chết rồi hay sao? Trời ôi!..... »
Thầy ấy thấy bộ nó rất bi-thảm nên động lòng thương, bèn ngồi dựa mé giường rồi lấy lời nhỏ nhẹ mà nói rằng: « Chắc là đêm hôm qua em mắc nóng lạnh mê-mang nên em không hay, vậy để qua tỏ hết mọi việc cho em rõ,.... Em nính đừng có khóc nữa..... Qua đây là xếp-ga Phú-lâm. Hồi sáng hôm qua, lúc xe-lửa ở Saigon gần xuống qua mới thức dậy mở cữa mà bán giấy. Qua thấy ở ngoài có một ông già với một đứa nhỏ đương nằm khoanh dưới gạch mà ngủ, qua chạy ra kêu thức dậy, chẳng dè ông già chết đã bao giờ mà mình mẩy còn ướt mem, còn đứa nhỏ, là em đây, tuy còn thở hoi hóp mà qua rờ tráng thì nóng vùi.
Qua lật đật tri hô lên cho lính làng chạy đến khán nghiệm. Qua hối làng kêu xe rồi chở em đem vô nhà-thương cho mau, còn ông già thì làng xét trong mình chẳng có vít tích chi, làng mới chạy tờ cho quan rồi mua hòm mà chôn hồi chiều hôm qua.
Thằng Được nghe nói thì khóc than nghe rất thảm thiết. Thầy xếp-ga an ủi nó một hồi, chừng nó nính rồi mới nói tiếp rằng: « Ông già chết có để lại một cây đờn cò, một cây đờn kìm với một cái hoa-ly, một cây dù. Hồi làng họ liệm qua muốn bẻ khóa hoa-ly coi ổng còn áo quần chi hay không đặng đem theo cho ổng, mà bị làng họ cản nên qua không dám. Bây giờ đồ đạt qua giữ tại nhà qua. À, qua thấy ổng có đeo một cái đồng hồ bạc qua có lấy lại và lấy luôn cái bốp trong ấy có một đồng rưởi bạc với một cái bài thuế thân đề tên là Trần-cao-Đàng, qua còn giữ đủ hết, chừng em ra thì ghé lại qua sẽ giao hết cho em. Em còn bà con là ai ở đâu, em nói cho qua biết đặng qua gởi thơ giùm cho. »
Thằng Được nghe thầy chết một cách rất thảm-thiết thì khóc mùi, chừng nghe hỏi đến bà con thì tủi phận nên lại khóc rống lên nữa. Thầy xếp-ga theo an ủi hoài. Nó nính khóc nằm suy nghĩ, nhớ lời thầy dặn dầu thầy có chết cũng đừng có cho vợ chồng Phan-hảo-Tâm là em rể hay; nếu bây giờ nói thiệt ra thì phụ ý thầy, mà nếu nói giấu sợ nhà-nước nói nó là con nhà hoang gởi nó lên Ông-Yệm. Nó muốn cậy viết thơ cho ba Thời, mà nó sợ nhà-nước đòi tiền nhà-thương ba Thời không có mà đóng, lại càng khổ nữa. Nó suy đi nghĩ lại một hồi rồi mới nói rằng: « Thầy có lòng thương thầy tôi và thương tôi nên thầy lo chôn cất thầy tôi rồi vô đây mà thăm tôi, thiệt tôi cảm ân đức của thầy vô cùng. Chẳng giấu chi thầy, tôi chẳng có cha mẹ bà con chi hết, tôi theo thầy tôi là ông Đàng đó mà học đờn. Thầy tôi đã có bịnh sẵn mà rũi giữa đường lại mắc một đám mưa dông không có chỗ đục nên lạnh quiếu mà chết; tôi cũng vì đám mưa đó mà nóng lạnh mê-mang khiến cho thầy tôi chết tôi không thấy mặt, tôi nghĩ thiệt tôi tũi trong lòng không biết chừng nào. Hồi chiều nầy tôi lại nghe nói nếu tôi không có cha mẹ bà con thì nhà-nước sẽ gởi tôi lên Ông-Yệm. Vậy tôi xin thầy làm ơn nhận giùm tôi đặng lãnh tôi ra chớ nếu để gởi tôi đi Ông-Yệm thì tội nghiệp tôi quá. »
Thầy xếp-ga nghe nói tức cười mà đáp rằng: « Họ nói gạt em đa, không có đâu, em đừng có lo. Nhà-thương hễ người nghèo thì nằm thí chớ tiền gạo gì. Còn em có tội gì mà gởi lên Ông-Yệm. Họ nói bậy đa, em đừng có tin. Mà thôi, để bữa em mạnh qua sẽ vô mà lãnh giùm em ra. » Thầy xếp-ga nói rồi bèn từ giả ra về. Thằng Được ngó theo cảm tình thầy chẳng xiết.
Đêm ấy nó nằm nhớ thầy Đàng hoài ngủ không được, nhớ từ tướng đi bộ đứng, từ tiếng nói dọng cười, nhớ ngón đờn déo-dắc tiêu-tao, nhớ lời dạy thâm-trầm chánh-trực. Nó nhớ rồi nó lại nghĩ không biết vì cớ nào người tài tình dường ấy, của phi nghĩa dầu mấy muôn cũng không ham, gặp ngang tàn dầu nát thân cũng gánh vát, mà sao trời chẳng cho giàu sang sung sướng, lại đày tấm thân đến chết bụi chết bờ. Hay là phải nhuốc nhơ mới đặng giàu, phải lòn cúi mới đặng sang? Nếu sang giàu mà phải như vậy thì thà chết phức theo thầy đặng xa lánh trước cho xong, chớ sống rồi ngày sau mà phải chìm nổi chốn dương-trần, phải vày bừa thân nam-tử thì lại càng khổ nảo hơn nữa. Thằng Được nhớ thầy rồi nghĩ đến cuộc đời thì khóc mùi. Những người bịnh nằm gần ai thấy cũng đều cảm động.
Thằng Được trong mình có bịnh mà trong trí lại còn buồn rầu nữa, nên sáng bữa sau bịnh nó trở nặng lại, làm cho nó nằm mê-mang hai ba ngày. Quan thầy hết sức điều trị mà gần 20 ngày nó mới thiệt mạnh. Mỗi buổi tối chúa-nhựt thầy xếp-ga Phú-lâm đi Chợ-lớn chơi đều có ghé nhà-thương mà thăm nó. Đến ngày nó thiệt mạnh quan thầy kêu nó rồi vổ đầu biểu nó về, không đòi bạc tiền chi hết. Nó mừng quýnh nên xá quan thầy rồi lật đật đi ra; ra khỏi cữa nó hỏi thăm đường đi Chợ-gạo rồi lầm-lủi đi riết. Nó thấy đã khỏi bị giải đi Ông-Yệm, mà lại cũng khỏi đóng tiền nhà-thương, thì trong bụng nó mừng nên quên phức sự từ nầy bơ vơ một mình, đã không còn thầy mà nương nhờ, mà cũng không còn em mà hủ-hỉ.
Chừng nó xuống tới Chợ-gạo, bước vô nhà giấy xe-lửa, thầy xếp-ga chào mừng rồi lấy cái hoa-ly, cây dù với hai cây đờn mà đưa cho nó, thì nó nhớ tới thầy nó, chừng đó nó mới khóc dầm-dề. Thầy xếp-ga dọn cơm cho nó ăn rồi mới mượn con thầy dắc mà chỉ giùm mả của thầy Đàng cho nó thăm. Nó ra tới mả lạy bốn lạy rồi ngồi ôm núm mả mà khóc nghe rất thảm thiết. Nó khóc một hồi rồi đứng dậy, lau nước mắt, chấp tay đứng trước đầu mả mà vái lớn lên rằng: « Thưa thầy, con nhờ ơn thầy dạy bảo mấy năm nay nên ngày nay con mới biết đường ngay nẻo vạy, con mới hiểu thế thái nhơn tình. Nay trời khiến giữa đường thầy trò ta phải xa nhau, con chẳng biết lấy chi mà tỏ lòng kỉnh mến thầy. Vậy con xin lạy thầy 4 lạy mà tạ ơn. Con đứng giữa chốn nầy, trên có trời, dưới có đất, con nguyền tập chí như thầy, gặp việc phải làm dầu nát thân con con cũng làm, gặp việc chẳng nên làm dầu làm mà được bạc ức bạc muôn con cũng chẳng thèm. »
Thằng Được vái van xong rồi mới trở về nhà thầy xếp-ga. Thầy hỏi nó vậy chớ bây giờ nó tính đi đâu. Nó suy nghĩ một hồi rồi thưa với thầy rằng: « Thưa thầy, em chẳng có bà con chi hết, song em có một người mẹ nuôi ở dưới Xóm-Tre. Lại thầy em hồi trước nuôi em với một đứa con gái tên là con Liên, khi tới Mỷtho thầy em cho con Liên cho bà Hội-đồng ở Cần-thơ nuôi. Bà Hội-đồng dắc nó đi Saigon, vậy em tính lên Saigon đặng kiếm coi có gặp nó hay không. »
Thầy xếp-ga cầm nó ở lại một đêm. Nó đờn ca cho vợ chồng thầy nghe chơi rồi sáng thầy mới giao đồ đạt và giao luôn cái đồng-hồ bạc với cái bóp của ông Đàng cho nó nữa. Nó bỏ cái đồng-hồ vào túi rồi dở bóp ra coi thì còn 1$50. Nó móc trong túi nó ra mà đếm thì tiền riêng của nó còn được 8 cắt. Nó bỏ chung vô bóp, rồi đứng ngẩm nghĩ rằng: « Mình lên Saigon không quen với ai, không biết cơm đâu mà ăn, chỗ đâu mà ngủ. Nếu mình xách hết đồ theo thì bất tiện lắm. » Nghĩ như vậy nó mới móc bóp ra lấy 8 cắt bạc của nó mà lận lưng, rồi mở hoa-ly bỏ cái bóp của thầy vô đặng gởi hoa-ly với cây dù lại cho thầy xếp-ga, tính xách 2 cây đờn đi mà thôi. Thầy xếp-ga cho nó một cái giấy xe lửa với một đồng bạc. Nó từ chối hoài không chịu lấy bạc. Vợ thầy theo ép quá túng thế nó phải lấy, song trong bụng tính thầm hễ chừng làm có tiền sẽ trở lại lấy đồ rồi trả đồng bạc cho thầy. Xe lửa dưới Mỷtho lên gần tới thổi síp-lê nghe van rân. Nó từ giả vợ chồng thầy xếp-ga rồi xách hai cây đờn ra đứng chực mà lên xe.
Ai có đến kinh-thành Saigon cũng đều biết sở vườn Bồ-Rô. Mà có biết thì biết sở vườn ấy rộng lớn, cây cao, cỏ tốt, ở phía sau dinh quan Toàn-quyền đó mà thôi, chớ không rõ cái vườn ấy có phép mầu nhiệm là thể nào. Vườn Bồ-Rô chẳng phải ban ngày mát mẻ, ban đêm thanh tịnh như mấy sở vườn khác mà thôi đâu, nó lại còn có một tánh chất riêng nữa, là cũng đường sá quanh co đó, cũng cỏ cây thạnh mậu đó, mà người bận việc đi ngang qua thì nó chẳng hề chịu tỏ dấu chi làm cho người phải triếu mến rồi dừng bước mà nhắm cảnh động tình, nó đợi cho có người thung-dung nhàn lạc vô đó ngồi chơi nó mới chịu làm cho cảm hứng say mê, rồi khiến cho phải nấn-ná dần-dà ngồi hoài không muốn đi, mà chừng đi ra cập mắt vẩn còn ngó lộn lại. Mà nó làm cho người thung-dung khoăn-khoái bao nhiêu thì nó lại cũng có thế làm cho người sầu-nảo càng buồn-bả bấy nhiêu; ai trong lòng có việc buồn hễ vô tới đó thì cũng phải ngẩn-ngơ nên khó dở bước mà lui ra cho khỏi.
Thằng Được cách biệt ba Thời đã bốn năm năm, trong lòng nó thường thương nhớ, nên khi nó nghe thầy Đàng chết rồi thì trước hết nó tính trở về Mỹ-lợi đặng viến thăm. Song nó tính như vậy rồi nó nhớ tới tên Hữu thì trong bụng nó lại buồn thầm, nghĩ vì về đó nó cực thân đã đành rồi, mà sợ má nó thêm nhơ tiết thì càng tội nghiệp cho má nó nữa. Bỡi nghĩ như vậy nên nó mới quyết lên Saigon mà tìm con Liên, bỡi vì khi gặp bà Hội-đồng thì bà có nói bà chở thằng con bà lên Saigon đặng cầu danh y cho nó uống thuốc, vậy nếu lên Saigon mà tìm thì chắc là gặp được.
Chẳng dè thằng Được lên Saigon đi rảo khấp mấy bờ sông thì không thấy ghe của bà Hội-đồng; nó hỏi thăm nhà mấy danh y rồi đến chực trước cữa đón hoài mà cũng chẳng gặp. Nó kiếm ba bốn bữa, ăn xài đã gần hết tiền rồi, ban ngày thơ thẩn ngoài đường, ban đêm thì vô vườn thú hoặc vườn Bồ-Rô kiếm mấy cái băng (banc) khuất tịch nằm mà ngủ.
Đêm nọ chánh là đêm 14 tháng 10, thằng Được nằm trên một cái băng trong vườn Bồ-Rô mà ngủ. Bóng trăng chói mấy ngọn cây sáng rở, tiếng dế kêu trong đám cỏ rù-rì; gió lao-rao mát mẻ vô cùng, vườn rậm rợp im-lìm vắn-vẻ. Nó nằm nhớ mẹ nuôi, thương thầy dạy, rồi lại nhớ tới con Liên, thì ứa nước mắt, lạnh trong lòng. Nó nhớ đủ hết rồi lại nghĩ tới thân phận của nó bây giờ trong lưng còn có vài cắt bạc, mà lưu linh ở đất kinh-thành Saigon là chỗ không quen với ai, thoản như hết tiền rồi mới liệu thể nào. Nó đương suy nghĩ bổng nghe đồng-hồ ở Nhà-thờ đổ 10 giờ, nó lật đật móc túi lấy cái đồng hồ của thầy di tích mà xem coi có đúng hay không. Nó thấy đồng hồ của nó đã 10 giờ 5 phút, nó vừa muốn vặn cây kim trở lại cho đúng 10 giờ, rồi nó lại nghĩ rằng: « Ủa, mà không chừng hay là đồng-hồ ở Nhà-thờ đi trễ. Có cái chi làm chứng rằng cái đồng-hồ treo trên một tòa nhà lớn đó đi đúng, còn cái đồng hồ nhỏ ở trong túi nhà nghèo nầy đi sai đâu. » Nghĩ như vậy rồi bỏ đồng-hồ vào túi mà nằm không chịu sửa theo đồng-hồ lớn.
Thằng Được vừa mới nằm một lác thì lại nghe có tiếng kèn thổi nho nhỏ phía trước đầu nó.
Nó lồm cồm ngồi dậy ngó coi thì thấy có một đứa con trai mặc quần đen đương ngồi trên một cái băng gần đó lấy tay bụm miệng mà sao lại nghe ra tiếng kèn thổi. Nó lấy làm kỳ bèn ngồi mà nghe một hồi thì tiếng kèn lảnh lót mà nhiệp nhàn lại chắc lắm. Nó bèn xách hai cây đờn đi lại cái băng đó đứng mà nghe cho tường tận. Nó thấy thằng con trai ấy vóc vạt to lớn, tay cầm một lá cây mà thổi chớ không phải là kèn. Nó để hai cây đờn dưới đất rồi ngồi mà nghe, tính làm quen đặng hỏi thữ coi vì phép nào có một lá cây mà thổi ra hơi kèn được. Thằng con trai ấy cứ ngồi thổi hoài không thèm nói tới nó. Nó tức giận mà cũng muốn khoe nghề nên lấy cây kìm mà đờn theo, rồi hai đứa hòa với nhau luôn cho hết hai bản mới chịu nghĩ. Có hai thầy thông ngồi hai cái xe-kéo chạy ngang thấy hai đứa hòa với nhau thì thích ý lắm nên ngừng lại mà nghe, chừng chúng nó dứt rồi hai thầy mới khen chúng nó và cho mỗi đứa một cắt bạc.
Thằng Được mới làm quen với thằng nọ, hỏi cách thế làm sao mà thổi lá cây ra tiếng kèn được, lần lần rồi mới hỏi tới tên họ nhà cữa. Thằng nọ thì nói ngọng nên nói khó nghe một chút, song nó cũng ráng cắc nghĩa cách thổi kèn cho thằng Được nghe. Nó lại nói nó tên Bĩ, 16 tuổi, gốc ở
Bình-Định. Khi nó vừa được 10 tuổi thì cha mẹ chết hết, chú nó mới đem nó về nhà mà nuôi. Ở gần nhà chú nó có một người đờn hay thấy nó nói ngọng thì thương nên ra công dạy nó học đờn. Chừng nó được 12 tuổi nó biết cây đờn cò rồi, chú nó mới chở hết vợ con đem vào Saigon ở mà làm mướn. Mấy đứa con của chú nó đều khôn lớn hết mà không có chút lòng nào yêu thương nó, nên cứ theo xéo xắc dọi đầu bạt tai nó hoài. Nó tưởng vào Saigon làm ăn nghề gì, chẳng dè chú nó tới Saigon mướn một căn phố là ở phía trong cầu Rạch-Bần mà ở, rồi dạy mấy đứa con và dạy nó cách móc túi thiên hạ mà lấy tiền. Mỗi ngày nó phải đi với mấy đứa con của chú nó ra chợ Bến-thành rồi xẩn bẩn trong chợ hoặc mấy nhà giấy xe-lửa rình mà móc túi. Nó có tánh nhát, sợ móc túi họ bắt được họ đánh rồi họ đem đến bót phải ở tù, nên bữa nào nó đi tay không về cũng tay không hoài. Chú nó đánh khảo và bỏ đói mà nó cũng không chịu làm cái nghề hiểm nghèo và nhơ-nhuốt ấy. Nhưng vậy mà nó cũng muốn làm cho vừa lòng chú nó, nên bữa nọ nó ra nhà giấy xe-lửa Mytho nó thấy có một cái gói với một cây đờn cò để dựa vách tường mà không có ai coi chừng hết; nó cà rà một hồi rồi lén núm cây đờn cò mà đi. Nó nhờ cây đờn ấy và nhờ biết thổi kèn lá nên nó kéo đờn thổi kèn cho họ nghe mà xin tiền. Mỗi ngày nó kiếm được đôi ba cắt đem hết về cho chú nó thì khỏi bị đòn, còn bữa nào năm bảy su thì phải bị ít nữa cũng vài bạt tai. Cách ba bữa trước, lúc 8 giờ tối, nó mắc đi ra cầu Rạch-Bần ngồi chơi, ở nhà lính-kín đến vây nhà rồi bắt chú thiếm nó và mấy đứa con dắc hết đi xuống bót. Chừng nó trở về thấy đương lụi hụi trước nhà nó sợ bị bắt luôn nên ẩn mặt. Hồi chiều nó đi hỏi thăm thì họ nói Tòa đã giam hết hai vợ chồng và mấy đứa con đợi tra xét xong xuôi rồi sẽ xữ tội. Hổm nay nó lưu linh chớ không dám léo về nhà, nó bỏ cây đờn cò trong nhà mà cũng không dám trở về mà lấy.
Thằng Được thân đã lao-đao lận-đận, mà gặp thằng Bĩ nầy thân cũng chẳng sung-sướng gì hơn thân nó, bỡi vậy cho nên nghe hết đầu đuôi rồi thì trong lòng cảm động vô cùng. Nó kể hết chuyện của nó cho thằng Bĩ nghe rồi hai đứa nằm chung trên cái băng mà ngủ.
Trời hừng sáng thiên-hạ kẻ lại người qua nói chuyện om-sòm. Thằng Được dực mình thức dậy thấy thằng Bĩ còn ngủ ngáy pho-pho, bèn lấy tay lúc-lắc đầu nó mà kêu nó dậy. Nó thấy thằng Bĩ ngồi sật-sừ nó tức cười rồi hỏi rằng:
— Mầy ngủ từ hồi hôm đến bây giờ chưa đã thèm sao mậy?
— Tao ưa ngủ lắm. Mà mầy kêu tao thức dậy làm giống gì bây giờ?
— Mầy ngủ hoài cơm đâu mầy ăn?
— Vậy chớ thức lại có cơm ăn hay sao mậy?
— Thức đặng lo tính mới có cơm mà ăn chớ.
— Lo giống gì? Vậy chớ thuở nay tao có lo hồi nào đâu mà tao có đói bữa nào. Tao bứt một lá cây tao để vô miệng cũng no bụng cần gì phải lo.
— Mầy ỷ tài quá! Ví như mầy lành mạnh không nói gì thoản như mầy đau ốm bứt một lá cây cũng không nổi thì mầy lấy chi mà làm cho no bụng. Mà ở đời phải lo liệu thế nào dầu không hơn được thì ít nữa cũng phải bằng người ta, chớ mầy tính ăn ngoài chợ ngủ trong vườn hoài như vầy hay sao?
— Tao không cần hơn ai, mà tao cũng không sợ thua ai. Tao muốn có một đều là được thong thả tấm thân thì thôi.
Thằng Được liếc ngó thằng Bỉ một hồi rồi nói tiếp rằng:
— Nảy giờ nói chuyện tao biết tánh mầy ưa tự-do. Tánh ấy hiệp với tánh tao lắm. Mà tao coi bộ tướng mầy cũng là một đứa trung hậu. Mầy không cha, không mẹ, không anh không em, tao đây cũng tròi trọi một thân không biết ai mà nhờ cậy. Tao muốn hai đứa mình kết làm anh em nương đỡ diều dắc nhau mà ở đời, không biết mầy có chịu hay không?
— Được lắm chớ.
— Mầy mắc có chú mầy đó thì làm sao mà đi với nhau cho được?
— Hại gì! Tao trốn luôn, tao không dám theo chú nữa đâu.
— Nếu vậy thì được. Thôi, để tao tính với mầy như vầy: không biết mầy có tiền bạc chi hay không, chớ thiệt tao có một cắt mà thôi, nhờ hai thầy hồi hôm cho một cắt nữa là 2 cắt. Hai đứa mình ăn cơm một ngày nữa thì tiêu hết. Vậy tao muốn hai đứa mình đi dài theo mấy dảy phố có mấy thầy ở mình đờn cho họ nghe đặng kiếm tiền mà nuôi nhau. Mầy thổi kèn lá hay, mà lại biết đờn cò. Tao biết đờn hai ba thứ mà lại biết ca. Nếu hai đứa mình hiệp nhau mà đờn ca hoặc thổi kèn kiếm tiền thì dễ lắm.
— Ừ, được.
— Tao còn lo một đều....
— Lo giống gì?
— Ăn cơm thì mình vào quán ăn quấy quá cũng xong, còn chỗ ngủ không biết tính làm sao....
— Vậy chớ cái vườn nầy để chi đó. Nếu thiên-hạ có áp vô giành chật chỗ hết thì còn sở vườn thú nữa chi. Nói cùng mà nghe như vườn thú có chật nữa thì mình lên trên trường đua, hoặc vô trong lăng ông Thượng cũng được, cần gì phải lo cho mệt.
Thằng Được nghe nói miệng chúm-chím cười rồi hai đứa đứng dậy, mỗi đứa xách một cây đờn, nắm tay nhau mà dắc đi xuống chợ. Lại tới nhà giấy xe-lửa nhỏ thằng Bĩ lấy cây đờn cò lên dây rồi ngồi đờn vài bản. Thằng Được đứng nghe ngón thì tươi song nhiệp không được chắc, tuy vậy mà nó cũng lấy làm vừa ý lắm, tính dạy giùm cho thằng Bĩ trúng nhiệp thì ngón đờn của nó đó chắc cũng ít ai bằng.
Hai đứa nó dắc nhau đi rảo khắp Saigon mà đờn ca. Mấy thầy mấy cô giành nhau mà rước, người cho ăn cơm, kẻ cho ngủ đậu, mà ai ai cũng cho tiền, không có đêm nào mà hai đứa nó không kiếm được một đồng bạc, mấy đêm thứ bảy lại kiếm tới hai ba đồng. Tiền kiếm được bao nhiêu thì thằng Bĩ biểu thằng Được cất lấy, chớ nó không thèm giữ. Thằng Được thấy tiền dư nhiều mới đặt may mỗi đứa một cái áo bành-tô vàng với một cái quần vãi đen, và mua cho thằng Bĩ một cái nón trắng đặng nó đội cho giống cái nón của mình.
Bữa nọ có một thầy thông làm việc tại Tòa-án rước chúng nó đến đờn chơi. Thằng Bĩ thừa dịp hỏi thăm mới hay chú thiếm nó với mấy đứa con đã bị Tòa kêu án 6 tháng tù và trong án có định cấm không cho ở Nam-kỳ nữa. — Bước qua đầu tháng chạp thằng Được đếm thử thì trong lưng nó đã có hơn 40 đồng bạc. Bữa nọ hai đứa nó ngủ đậu trước hàng tư nhà thầy thông ở đường Bạc-hà, thằng Được mới nói với thằng Bĩ rằng ở Saigon thiệt là vui mà lại dễ kiếm tiền, song nó nhớ má nuôi nó với con Liên lung quá, nên nó muốn về chợ Mỷ-lợi thăm má nuôi nó ít ngày rồi đi Cần-thơ kiếm con Liên. Thằng Bĩ nghe nói lấy làm mừng vì nó muốn đi xuống dưới mấy tĩnh ở đặng cho biết ruộng vườn chơi, song
nó khuyên thằng Được ở nán ít ngày đợi lối rầm tháng chạp sẽ đi, đặng về Mỷ-lợi ở ăn Tết luôn thể. Thằng Được bằng lòng ở Saigon thêm vài tuần nữa. Đúng ngày 16 tháng chạp hai đứa nó mới dắc nhau mà đi, trong lưng thằng Được có 43 đồng bạc. Chúng nó đi xe-lửa xuống Phú-lâm cho thằng Được trả đồng bạc lại cho thầy xếp-ga.
Vợ chồng thầy xếp-ga thấy thằng Được mừng rở vô cùng; nó trả đồng bạc thầy không chịu lấy, mà lại cầm nó ở lại chơi với thầy ít bữa. Ăn cơm rồi nó thì đờn, còn thằng Bĩ thì thổi kèn cho thầy nghe chơi. Thằng Được nhơn lúc ấy mới dắc thằng Bĩ ra thăm mộ thầy Đàng. Nó ngồi khóc kể nghe thảm thiết, làm cho thằng Bĩ là một đứa khờ khạo ngọng liệu mà nó cũng phải động lòng rưng rưng nước mắt.
Qua ngày 18 hai đứa nó muốn từ mà đi. Vợ thầy xếp-ga không cho, nói ngày 18 là ngày xấu, nên hai đứa nó ở nán lại một bữa nữa. Khuya 19 vợ thầy xếp-ga nấu cho hai đứa nó một nồi cơm ăn rồi trời hừng sáng chúng nó mới lấy hai cây đờn, cái hoa-ly và cây dù mà đi trở lên Cholon đặng đi ngả Cần-Giuộc mà xuống Cầu-nổi.
Mặt trời mọc lên cao vừa được vài sào thì hai đứa nhỏ đã qua khỏi Xóm-Củi rồi hỏi thăm đường Cần-Giuộc mà đi. Thằng Bĩ mạnh mẻ nên lảnh xách cái hoa-ly với cây đờn cò, còn thằng Được ốm yếu nên xách cây đờn kìm với cây dù. Mặt trời càng lên cao nắng càng thêm gắt. Thằng Được giương cây dù ra rồi biểu thằng Bĩ đi khích một bên nó đặng núp bóng dù.
Thằng Bĩ lắc đầu mà nói rằng: « Tao không sợ nắng đâu. Mầy che dù một mình mầy cho dễ, để tao đi ngoài nắng cho thong thả. » Nói như vậy rồi thấy thằng Được ôm cây đờn kìm kình càn nên che dù bất tiện, nó lại đổi cho thằng Được xách cây đờn cò cho nhẹ. Thằng Được sợ bắt nó xách hết đồ nặng thì tội nghiệp cho nó nên dục dặc không muốn đổi mà nó không chịu, cứ giành ôm cây đờn kìm cho thằng Được hoài.
Vã thằng Bĩ tuy mạnh mẻ và lớn hơn thằng Được hai tuổi, song trí nó tối tâm, mà tánh nó cũng thiệt thà hơn, bỡi vậy cho nên mấy tháng nay hai đứa nó kết làm anh em với nhau thì thằng Bĩ thường kính nhường thằng Được luôn luôn, thằng Được muốn việc nào thì nó làm theo việc nấy, chẳng hề khi nào nó cải lẩy bao giờ. Đã vậy mà nó thấy thằng Được nhỏ nhít nó lại thương, nên mọi việc cực nhọc như giặt áo, giặt quần, mua cơm, xách đờn, nó giành mà làm hết thảy, thậm chí ban đêm ngủ đậu nơi nhà người ta nếu có một bộ ván thì nó để cho thằng Được nằm phía trong, nếu có một cái ghế bố thì nó cũng để cho thằng Được nằm, còn nó nằm dưới đất. Thằng Được biết tánh nó trung hậu, mà lại thấy bụng nó ở như vậy nữa thì thương nó vô cùng, bỡi vậy cho nên tuy trong hai đứa thì thằng Được làm đầu, nhưng mà nó chẳng hề ỷ thế mà hún hiếp.
Hai đứa hễ đi được một khúc xa xa gặp bóng cây mát thì ngồi mà nghỉ chơn. Ngó chung quanh đồng thì lúa chín đỏ lòm, có chỗ gặt rồi buội ngã ngữa buội ngã nghiêng, có chỗ chưa gặt bông lúa cong vòng gió thổi lung-lay dường như đợi trông chủ ruộng. Có chỗ lại lao-nhao lố-nhố kẻ gặt người mót, dựa bờ có người che dù ngồi coi chừng, tuồng như sợ người ta ăn tươi nuốc sống hết đám lúa của mình. Một lát nghe tiếng kèn te-te rồi thấy có một cái xe hơi chở đầy vập người ta ở đàng xa chạy tới. Thằng Được lật đật sập dù đứng dậy nói rằng:
— Úy! may dữ! Để kêu xe hơi ngừng lại mình đi cho mau.
Thằng Bĩ nắm áo kéo ngồi xuống mà nói rằng:
— Đi xe hơi làm gì tốn tiền vô ích.
— Mình thiếu gì tiền mà sợ mậy?
— Dầu có tiền nhiều lại xài việc vô ích như vậy sao?
— Đi xe hơi khỏe cẳn, chớ sao mà vô ích.
— Phải, ngồi trên đó thì khỏe cẳn, mà tao sợ bể đầu.
— Mầy nhát quá!
— Không phải nhát.
Hai đứa đương cải với nhau thì xe-hơi đã chạy tới rồi chạy tuốc. Thằng Được mắt ngó theo còn bụng thì tiếc nên lầm bầm nói rằng:
— Mầy bậy quá! Xe chạy tuốc rồi còn gì.
— Nó chạy đi đâu thì chạy chớ. Mầy biết tại sao mà tao không chịu đi xe-hơi hay không?
— Không.
— Tại xe hơi là đồ của nhà giàu dùng, nên tao nhứt định không thèm ngồi trên đó.
— Sao mà mầy ghét nhà giàu dữ vậy?
— Tại họ đã không biết thương mà họ còn muốn hại con nhà nghèo như mình vậy chớ sao.
Thằng Được lặn thinh không hỏi nữa mà bộ suy nghĩ lung lắm, rồi hai đứa mới xách đồ mà đi. Đi dọc đường thằng Được nhắc tới chuyện má nuôi nó với con Liên thì nó nói nhiều tiếng yêu thương triếu mến lắm. Thằng Bĩ mới nói rằng: « Mầy tuy không có cha mẹ mà mầy còn có người thương mầy, thảm cho thân tao cha mẹ chết hết rồi, bây giờ trên thế-gian nầy chẳng có ai thương tao nữa hết ». Thằng Được nghe lời than như vậy thì động lòng nên ứa nước mắt, đi khích lại che dù cho thằng Bỉ rồi đáp rằng: « Còn tao đây chi. » Thằng Bỉ day lại ngó thấy cập mắt ướt rược thì cũng động lòng nên để đồ dựa lộ, rồi hai đứa ngồi núp bóng cây dù, lặn thinh không nói một tiếng mà trong lòng dan-diếu với nhau không xiết kể.
Ngồi một hồi rồi thằng Bỉ mới hỏi rằng: « Mầy nói mầy thương má nuôi mầy với con Liên, mà sao về thăm mầy không tính mua vật gì đem về mà cho? »
Thằng Được nghe hỏi như vậy liền ngước mặt lên mà đáp rằng: « Mầy nói phải lắm. Tao về thăm, tao phải mua đồ đem về mà cho mới phải. Tiền mình thiếu gì, như hết mình kiếm cái khác, sợ gì. Mà mua vật gì? »
— Mua bánh trái hay là áo quần, mua vật gì thì mầy liệu lấy chớ tao có biết đâu.
— Má tao ít ưa ăn bánh lắm. Thôi, để mua một cái quần lảnh với một cái áo xuyến bông đặng má tao bận đi xóm chắc là má tao mừng lắm. Ý! mà không được. Má tao có đời nào đi chơi mà bận áo quần tốt. Nếu tao mua thì để mụt chớ không ích gì, mà lại sợ ăn trộm lấy nữa, không thì ông già nuôi tao ổng cũng bán đặng ổng nhậu rượu. Để tao nhớ coi hồi trước má tao ưa những vật gì. Ừ phải! Má tao ưa nuôi heo lắm. Tao nhớ hồi trước má tao có nuôi một con heo quắn, tía tao bắt bán cho họ làm thịt má tao tiếc nên khóc hoài. Thôi, để tao mua cho má tao một con heo khác cũng giống như con heo quắn đó cho má tao nuôi, chắc má tao chịu lắm. Cha chả! mà không xong đâu mầy.
— Sao mà không xong?
— Con heo quắn hồi trước tía tao bán tới 28 đồng bạc. Nếu mình mua con khác giống như vậy mà cho thì hết tiền còn gì.
— Hết thì mình kiếm cái khác.
— Có kiếm thì phải trở lên Saigon, chớ ở dưới ruộng mà kiếm giống gì được.
— Bây giờ mình có tới 43 đồng, nếu mình mua con heo hết 28 đồng thì mình còn 15 đồng, chớ sao mà hết đi.
— Phải để dành tiền đặng đi Cần-thơ thăm con Liên nữa chớ.
— Ví như có hết thì mình đi dọc đường mình đờn ca mình kiếm tiền mà đi. Mầy sợ kỳ quá!
Thằng Được không nói nữa, rồi hai đứa xách đồ đi lần lần tới chợ Cần-giuộc thì mặt trời đã đứng bóng. Thằng Được móc túi lấy đồng hồ ra coi thì đã 12 giờ 8 phút. Hai đứa đói bụng nên dắc nhau vào quán ăn cơm, thấy cái đồng hồ lớn treo giữa quán kim chĩ 12 giờ rưởi thì thằng Được trề môi mà nói rằng: « Lớn đó vậy mà đi bậy, có bằng nhỏ của tao đây đâu ».
Hai đứa ăn cơm rồi mới dắc nhau đi vòng theo mấy nẻo đường coi chơi cho biết chợ Cần-giuộc. Gần Tết mấy tiệm buôn bán chưng hàng hóa hực hở, nào tượng liển, nào bông giấy, nào chơn đèn, quả tữ, nào bình phong lục bình, nào quần đỏ áo xanh, nào pháo, nào nhan, nào cam hồng, dưa chuối, chẳng thiếu vật chi hết. Thằng Được thấy một tiệm có treo khăn trắng, khăn đen, khăn bông-hường để cho đàn-bà con gái đội, thứ nào coi cũng đẹp. Nó đứng trầm trồ chỉ cho thằng Bĩ coi rồi vô lựa mua một cái khăn màu bông hường với một cái khăn trắng, tính để cái khăn trắng cho má nó, còn cái khăn bông-hường thì cho con Liên. Chị chủ tiệm thách giá mỗi cái 2 đồng. Hai đứa nó ke re trả tới trả lui đến một đồng bảy một cái họ mới chịu bán. Thằng Được mở hoa-ly bỏ hai cái khăn vô rồi mới dắc nhau mà đi.
Chẳng biết đường bao xa, hai đứa nó thẩn-thơ, khỏe thì đi, mệt ngồi nghĩ, đi đến 5 giờ chiều mới xuống tới chợ Trạm. Thằng Được hỏi thăm thì họ nói từ đó xuống Cần-đước còn xa, đi tới tối sợ cũng chưa tới. Hai đứa nó tính với nhau rồi mới đem đồ vô nhà việc làng mà gởi và xin với người coi nhà việc cho ngủ đậu một đêm chờ sáng ngày mai sẽ đi. Gởi đồ rồi dắc nhau đi chơi. Đến tối hai đứa nó chưa đói bụng nên không ăn cơm, mỗi đứa ăn một tô mì rồi trở vô nhà việc tính ngủ cho sớm đặng khuya thức dậy sớm mà đi cho mát.
Người coi nhà việc thấy có hai cây đờn bèn hỏi coi hai đứa nó biết đờn hay không mà xách đờn đi đâu như vậy. Hai đứa nó nói biết, người ấy mới biểu đờn ít chập nghe chơi, Hai đứa nó thấy người ta cho mình ngủ đậu, không lẽ mình không tỏ lòng cám ơn người ta, nên ngồi lại lên dây rồi Bĩ cầm đờn cò, Được ôm đờn kìm, hòa với nhau nghe thâm trầm lắm. Cả chợ người lớn trẻ nhỏ đều tựu lại trước nhà việc mà nghe chật nức. Thầy giáo dạy tại đó, ham đờn kìm mà mới học quẹt quẹt, nghe tiếng đờn vợ chồng cũng dắc nhau lại đó đứng mà nghe.
Hai vợ chồng thầy giáo thấy hai đứa nhỏ mà đờn tươi thì trầm trồ khen hoài; chừng chúng nó nghỉ thầy bèn bước lại hỏi thăm rồi bèn rước chúng nó về nhà đờn chơi, lại biểu đem hết đồ đạt lại nhà thầy mà ngủ luôn thể. Lại nhà thầy giáo thằng Được lại còn trổ tài ca và thằng Bĩ trỗ tài thổi kèn ai nấy đi theo mà nghe thảy đều đẹp dạ. Thím giáo hối trẻ bắt gà làm thịt nấu cháo đặng khuya cho hai đứa nó giải lao. Hai đứa nó đờn đến 12 giờ khuya ăn cháo rồi mới ngủ.
Thằng Được đã tính khuya thức dậy đi cho sớm đặng khỏi nắng, mà bị ngày trước đi xa mệt mỏi, rồi lại bị thức đờn chơi nữa, bỡi vậy cho nên hai đứa ngủ quên sáng ngày sau đến 7 giờ mới thức dậy. Thằng Được đương ngồi trước cữa bưng tô nước súc miệng rửa mặt, bổng thấy trước căn phố ngang nhà thầy giáo có một con heo đen ột ệt đi lại đi qua, cũng lan mỏ, đuôi cũng bỏ qua phía tay mặt, giống hịch con heo quắn của ba Thời nuôi hồi trước vậy. Nó kêu thằng Bĩ mà chỉ con heo cho thằng Bĩ coi, rồi đứng trầm trồ hoài bụng muốn mua dắc về Mỹ-lợi mà cho má nó lắm.
Hai đứa nó đương bàn tính với nhau, thím giáo bước ra không rõ việc gì mới hỏi: « Hai em nói giống gì đó? Khoan đi đã; để qua mua đồ dọn ăn rồi sẽ đi. »
Thằng Được chỉ con heo mà hỏi thím giáo rằng:
— Thưa thím không biết con heo đó của ai vậy thím há?
— Heo của thím Chảnh đa.
— Không biết mình mua họ bán hay không thím?
— Thím Chảnh thím tính Tết nầy thím làm hàng đa. Nếu mình mua đúng giá thì thím bán, chớ để làm chi. Thím nuôi con heo thím tập nó dạn quá. Sấp con thím nó cột dây rồi dắc đi chơi tối ngày, dắc đi đâu cũng được, con heo khôn dữ lắm. Mà hai em muốn mua hay sao mà hỏi?
— Dạ, em muốn mua.
— Hai em mua làm gì?
— Dạ, mua đặng dắc về chợ Cầu-nổi mà cho má em nuôi.
— Hai em có tiền nhiều lắm hay sao mà tính mua con heo lớn như vậy?
— Không biết giá con heo đó chừng bao nhiêu thím há?
Hôm trước các chú cạo heo trên Cần-giuộc họ trả 29 đồng mà thím Chảnh thím dục dặc không chịu bán đó đa.
— Nếu mình trả 30 đồng khi họ chịu bán thím há?
— Ờ, nếu 30 chắc họ bán.
— Vậy xin thím làm ơn trả mua giùm cho em. Cha chả? Mà không biết mua rồi dắc nó đi được hay không? Chớ nếu phải khiêng, thì hai đứa tôi khiêng sao cho nổi.
— Được, con heo nầy dạn lắm, dắc đi thủng thẳng thì được, không cần gì phải khiêng.
— Vậy xin thím trả rồi mua giùm cho em.
Thím giáo qua hỏi thì thím Chảnh đòi 32 đồng, phải trả dục dặc một giây lâu mới chịu dức giá 30 đồng. Thím về nói lại cho hai đứa nó hay. Thằng Được lật đật đếm 30 đồng bạc đưa cho thím giáo rồi dắc nhau qua bắt con heo.
Thằng Được mua được con heo thì trong lòng mừng rỡ vô cùng. Nó mua một sợi dây dừa mà cột ngang nách con heo đặng có dắc đi cho dễ. Đem về cột trước nhà thầy giáo thì nó rờ rẩm hoài. Con heo thiệt là dạn, hễ gải thì nó nằm ngay, không cục cựa chi hết. Vợ chồng thầy giáo dọn cơm cho hai đứa nó ăn xong rồi, hai đứa nó mới từ giả mà dắc con heo đi. Thằng Được nắm dây đi trước, còn thằng Bĩ thì đi theo sau mà coi chừng hễ con heo có dục-dặc thì nó la chừng đặng đi cho mau. Thằng Được lấy làm đắc ý vô cùng, bỡi vậy hễ đi ít bước thì ngoái lại ngó con heo mà nói rằng: « Đi, ráng đi nghe hôn em quắn. Đi về chợ Mỷ-lợi với qua.... Bĩ ơi, hồi tao ở nhà má tao, tao ra đi với thầy tao thì tao có nói rằng chừng tao lớn khôn tao sẽ làm mà nuôi má tao. Nay tuy tao chưa lớn mà tao đã có thế cho má tao được một con heo như vầy thì tao đã khoái trong lòng rồi. Để rồi sau mầy coi, chừng tao làm giàu lớn thì tao sẽ làm cho má tao sung sướng lắm.... Chắc tao về đây má tao vui lắm. »
Thằng Được nói dứt lời rồi lại cất dọng lên mà ca hát om sòm. Thằng Bĩ thấy vậy cũng vui nên tiếp ca theo mà vì nó nói ngọng nên nó ca thì thằng Được cười ngã nghiêng ngã ngữa. Hai đứa vừa đi vừa giỡn, mà lại bị con heo dục dặc nên đi không mau. Giỡn đã thèm rồi thằng Được lại nói rằng: « Tao về thăm má tao thì tao vui thiệt, mà tao nhớ tới tía tao thì tao buồn quá. Tạo vái ông Địa về đừng có tía tao ở nhà thì tao sẽ cúng một nải chuối. »
Năm giờ chiều, hai đứa nó mới xuống tới chợ Cần-đước. Thằng Được tính ghé lại đó trước là kiếm cơm ăn và kiếm cám cho con heo ăn, sau nữa thăm vợ chồng cô ba Sự và cho cô hay việc thầy Đàng chẳng may phải bỏ mạng nơi đất khách. Nó lại nghĩ thầm rằng vì bị mua khăn, mua heo nên trong lưng bây giờ còn có 9 đồng bạc, vậy đêm nay ở tại chợ Cần-đước cũng nên đờn ca kiếm tiền thêm chút đỉnh nữa chơi.
Tính như vậy nên vừa vô tới chợ nó mới biểu thằng Bĩ đưa cây đờn kìm cho nó ôm rồi bứt lá cây mà thổi kèn đặng cho người ta hay hoặc may tối người ta có rước đến đờn cho họ nghe. Thằng Bĩ nghe lời thổi kèn om-sòm. Sấp nhỏ đứa chơi ngoài đường, đứa đứng trong cữa, nghe tiếng kèn thì dòm ngó, chừng thấy hai đứa nó xách đồ kình càng mà lại còn dắc theo một con heo thì lấy làm kỳ nên áp chạy theo la om-sòm rằng: « Á! họ hát heo bây à! ngộ quá! ngộ quá! » Con heo thấy sấp nhỏ chạy rần-rần mà lại la van-rân thì kinh hải nên vụt chạy. Thằng Được tình cờ nắm mối dây không chắc nên con heo sút chạy tuốc. Thằng Được với thằng Bĩ chạy theo, sấp nhỏ thấy vậy càng vổ tay la lớn hơn nữa. Con heo chun tuốc vô tiệm bán hàng xén đụng mấy chồng tộ chén để dưới đất ngã bể hết bộn.
Hai đứa nó chạy tới áp vô tiệm nắm dây dắc con heo ra. Chủ tiệm cản lại, biểu phải thường tộ chén bể rồi mới được dắc con heo đi.
Lúc hai đàng dan ca với nhau, sấp nhỏ ở chợ càng tựu tới đông hơn nữa. Lính gát chợ thấy vậy không biết chuyện gì, lật đật chạy lại vẹt sấp nhỏ bước vô tiệm mà hỏi. Chủ tiệm chỉ đồ bể cho chú lính coi rồi xin chú dạy hai đứa nó phải bồi thường hư hại. Chú lính thấy hai đứa nó lạ mà lại có dắc con heo thì lấy làm kỳ nên bắt đem về quận cho quan Chủ-quận tra vấn. Quan Chủ-quận hỏi thì thằng Được thưa hết sự tình, nói rằng nó mua con heo của thím Chảnh ở chợ Trạm có hai vợ chồng thầy giáo ngó thấy và nó tính dắc về Mỷ-lợi mà cho má nó nuôi; nó ghé Cần-đước là vì muốn thăm cô ba Sự, rủi con heo làm bể đồ của người ta thì nó cũng chịu thường, chớ không dám cải.
Quan Chủ-quận cho đòi ba Sự đến nhìn coi có quen với hai đứa đó hay không và sai lính cởi ngựa lên chợ Trạm mà hỏi thím Chảnh với vợ thầy giáo coi thiệt hai đứa nó mua con heo ấy hay là bắt trộm của người ta. Ba Sự đến quận thấy thằng Được liền hỏi: « Ủa! mấy năm nay anh hai tao ở đâu? Sao mầy lại về đây? Còn anh hai tao bây giờ ở đâu? » Thằng Được nghe hỏi thì buồn nghiến nên đáp nho nhỏ rằng:
— Thầy chết rồi.
— Húy! chết hồi nào?
— Chết đã 3 tháng nay.
Ba Sự nghe nói tới đó liền la khóc om-sòm làm cho thằng Được động lòng cũng khóc theo, còn ông Quận ngồi ngó trân trân không biết chi hết. Ba Sự hỏi thằng Được vì làm sao mà bị bắt. Thằng Được thuật sơ chuyện heo làm bể tộ chén. Ba Sự mới xin ông Quận cho phép chị ta lãnh hai đứa nó về mà hỏi thăm chuyện riêng của anh. Thằng Được lấy ra một đồng bạc mà xin thường đồ bể cho chủ tiệm. Ông Quận đòi chủ tiệm vô thì chủ tiệm nói đồ bể giá đáng một đồng hai, mà vì sự rủi ro nên bằng lòng lấy một đồng không đòi thêm làm chi nữa.
Hai đứa mới xách đồ và dắc con heo đi theo ba Sự mà về nhà. Thằng Được thuật hết đầu đuôi mọi việc từ ngày thầy nó ở Cần-đước đi ra cho đến ngày chết cho Phan-hảo-Tâm với ba Sự nghe. Vợ chồng Hảo-Tâm nghe anh gặp hoạn nạn cho đến ngày chết mà cũng không ấm thân thì tức tửi trong lòng nên khóc kể thảm thiết: « Trời ôi! người có văn học, biết xa lánh cái đường cong nẻo vạy, đặng giữ lấy chút thanh-liêm, quyết chừa cai những bại tục phong đồi đặng tập tành nam-nhi khẳn khái, người vậy mà trời chẳng biết thương, bắt thân phải lăn buội vùi tro, xô thân cho mưa sa gió táp, khiến cho đến giờ nhắm mắt cũng không thấy được quê quán, gặp anh em, trời ôi, trời làm như thế thì còn ai dám giữ bụng thanh liêm, còn ai dám gìn lòng chánh trực? Ví dầu trong 10 năm anh tôi có quyền có thế mà có bức thiết hiếp đáp người ta đi nữa thì mười mấy năm sau chịu nghèo chịu cực đó há chuộc tội chẳng rồi sao? »
Ba Sự muốn sai đưa ở lên nhà báo tin cho vợ thầy Đàng hay, mà chồng không cho lại nói rằng: « Chị đó mà kể gì ai! Chớ chi mà chỉ biết tam tùng tứ đức thì anh hai có đâu ra thân thể như vậy. Nay có cho chỉ hay thì bất quá chỉ làm bộ khóc nhếu nháo đặng che miệng thế-gian, chớ chỉ có tình có nghĩa gì đó mà cho hay ».
Tên lính ông Quận sai đi chợ Trạm về nói rằng thiệt thím giáo có mua con heo của thím Chảnh giùm cho thằng Được, nên sáng ngày ông Quận cho đòi hai đứa ra rồi nói rằng: « Tao đã có cho lính đi dọ thì thiệt là heo của bây mua, vậy thì bây thong thả muốn đi đâu tự ý. Mà bây giờ bây tính đi đâu? » Thằng Được thưa rằng: « Bẩm ông, hai đứa tôi đi về chọ Mỷ-lợi ». Ông Quận nói: « Bộ tướng bây đã dị kỳ mà lại còn dắc một con heo đi, ai thấy cũng phải nghi. Nay bây tính đi qua tĩnh khác, vậy để tao cho một cái giấy đặng bây cầm mà đi khỏi ai nghi ngờ nữa. »
Ông Quận viết một cái giấy chứng rằng con heo đó là heo của hai đứa nó mua trên chợ Trạm, ký tên đóng con dấu rồi mới trao cho thằng Được cầm. Hai đứa nó thường nghe nói mấy ông quan hay lấy nước lả mà khuấy ra hồ, mà thấy ông Quận nầy lại tử-tế như vậy thì lấy làm kỳ mà có ý mến thầm nên vòng tay cuối đầu xá hai ba xá rồi lui ra.
Ra đường thằng Bĩ cười mà nói với thằng Được rằng:
— Mầy tính ghé Cần-đước kiếm tiền té ra không kiếm được thêm mà lại tốn của mình hết một đồng bạc.
— Mầy đừng có tiếc. May lắm đa mầy. Hồi bị lính bắt tao tưởng 9 đồng bạc với con heo tiêu hết kìa chớ.
Trở về nhà ba Sự thằng Được mới giao hoa-ly với cây dù của thầy Đàng lại cho ba Sự, còn cái đồng hồ với mấy cây đờn thì nó xin đặng để làm dấu tích, thấy đồ đó cũng như thấy thầy. Đến trưa nước lớn đầy có người ở lối xóm chèo ghe qua chợ Mỷ-lợi mà thăm bà con. Thằng Được hỏi xin cho quá giang. Người ấy chịu, nó mới cậy họ khiêng giùm con heo bỏ xuống ghe rồi từ giả vợ chồng Hảo-Tâm ôm mấy cây đờn mà qua sông Bao-Ngược.
Lối 5 giờ chiều, gió thổi hiu hiu, hai hàng dương trồng hai bên đường từ chợ Mỷ-lợi vô Gò-công nhánh oặc hòa oặc hoại dường như ngoắc khách qua đường tỏ niềm tâm sự, hay là hỏi người lạ mặt coi bươn bả đi đâu? Ai hữu tình háo cảnh đến lúc ấy mà đi qua khúc đường đó thì cũng đều cám cảnh mà hớn hở trong lòng. Thằng Bĩ tuy là đứa ngọng liệu lờ khờ mà nó đi đến đó nó cũng vui thầm nên miệng thì ngậm một lá cây mà thổi tò le, tay ôm cây đờn kìm cũng khải tồn-tên, còn hai chưn thì nhảy lăn ba làm cho con heo thằng Được dắc đi trước dực mình nên chạy lom xom không dám dục-dặc.
Thằng Được hồi qua tới chợ Mỷ-lợi nó hỏi thăm thì họ nói tía nó đã bỏ vợ mà đi mất mấy năm nay, nên trong lòng nó mầng thầm, lật đật đi riết về Xóm-Tre đặng mẫu tử đoàn viên mà kể hết những lúc gian truân, những hồi thương nhớ. Nó lầm luổi mà đi, trong bụng tính thầm coi phãi liệu thế nào mà dắc con heo vô nhà má đừng ngó thấy rồi thình lình con heo kêu ột ột cho má dực mình chơi. Nó đương suy tới nghĩ lui rồi lại châm mắt mà ngó vào Xóm-Tre coi nhà má nó ở chỗ nào, bổng nghe thằng Bĩ đi sau thổi kèn khảy đờn, nó day lại bắt tức cười rồi kêu mà chỉ rằng: « Bĩ, kia kìa, nhà má tao đó, thấy hôn? Đó, cái nhà ở đầu xóm, phía ngoài ló nóc mình ngó thấy đó đa. » Hai đứa cúi xuống khỏi nhánh dương mà dòm rồi cười với nhau cấm cắc như đứa điên với đứa khùng trửng giỡn.
Đi tới đầu bờ nhỏ vô xóm, thằng Được khắp khởi trong lòng đi không vửng bước, mà lại hai con mắt cứ châm chỉ ngó chừng nhà hoài không coi dưới chưn, nên lán chán vấp lỗ chưn trâu té lăn cù, văng nón dưới ruộng, mà may cây đờn cò khỏi gãy. Vô gần tới sân nó mới nắm con heo mà ngồi núp dưới bụi cây trâm-bầu, rồi biểu thằng Bĩ đi thẳng vô nhà nói với má nó rằng: « Có một người giàu lớn nghe thím nghèo nên đem bạc tiền đến cho thím, vậy thím phải đi ra mà rước. »
Thằng Bĩ nghe lời đi thẳng vô nhà kêu om sòm mà không nghe tiếng trả lời. Nó đi tuốc vô buồng thấy vắn hoe, đi thẳng xuống bếp rồi trở ra cữa sau cũng không thấy ai hết. Nó lật đật chạy ra sân mà kêu: « Được ơi! Được! không có ai ở nhà hết mầy à! » Thằng Được dắc con heo đi vô trong bụng lấy làm kỳ, không hiểu má nó bỏ nhà mà đi đâu. Nó ngó quanh quất thì thấy cái chuồng vịt cũng còn đó, trong chuồng lại nghe tiếng vịt kêu lạp cạp như năm trước, hồi nó còn ở nhà. Vô nhà nó coi thì đồ đạt cũng như cũ, duy có thêm một cái cối dả gạo với một cái võng mà thôi. Nó ra sau bếp thì thấy có om cơm còn ở trên đầu 3 ông táo, lửa đã tắt mà thang còn ngún nóng hổi.
Nó trở ra thấy thằng Bĩ nằm tòn ten trên võng mà gải con heo nó mới nói rằng: « Chắc là má tao chạy chơi đâu lối xóm đây. Nồi cơm nấu mới vừa chín, chắc là một lát về ăn cơm chớ không lâu đâu. Mầy nằm đó nghe hôn. Để tao trốn; như má tao về có hỏi thì mầy giả đò ngủ đừng thèm nói gì hết ». Thằng Được dắc con heo vô buộc dưới chưn giường rồi trở ra thấy dạng má nó đã vô gần tới sân. Nó lính quính không biết đâu mà trốn cho kịp, bèn núp dựa cữa chờ ba Thời vừa bước vô nó nhảy ra hù một tiếng lớn, ba Thời dực mình la bài hải. Thằng Được ôm ba Thời chặc cứng mà nói rằng: « Con về đây nè, má vui hôn? mừng hôn hử? » Rồi đó lại vổ túi mà nói: « Bây giờ con thiếu gì bạc, má không nghèo cực nữa đâu, đừng lo. »
Ba Thời ôm con và khóc và nói: « Con đi năm sáu năm nay má nhớ con hết sức, mà má cũng lo sợ không biết con mạnh giỏi thể nào. Sao con không mượn người viết thơ rồi gởi thăm má vậy con? » Thằng Được nắm tay ba Thời mà đáp rằng: « Con biết chữ giỏi lắm má à, có nhiều khi con muốn viết thơ mà ngặt không biết làng mình đây là làng gì nên không gởi thơ được.
— Làng Bình-thạnh-đông chớ làng gì?
— Trời ôi! con có biết đâu. Má nói làng nầy là làng Bình-thạnh-đông phải hôn má?
— Ừ.
Hai mẹ con lăng liếu với nhau một hồi, rồi ba Thời day lại thấy thằng Bĩ nằm trên võng không biết nó là ai mới hỏi:
— Thằng em đây ở đâu.....
— Anh em bạn của con đa má à. Nó theo con về thăm má cho biết má.
— Mấy năm nay con đi đâu, má hỏi thăm thì bên Cần-đước họ nói họ không biết. Còn con ở đâu mà về đây? Ủa! mà bộ con đói bụng, thôi để má nấu thêm cơm đặng con ăn chớ.
Ba Thời vừa xây lưng đi vô bếp thì thằng Được kêu mà nói rằng:
— Má, má, ai ở trong buồng đó vậy má?
— Ai đâu?
Ba-Thời dòm vô buồng không thấy ai hết, mà nghe tiếng heo kêu ột ột dưới giường thì lấy làm lạ mới bước vô. Con heo vùng đứng dậy, ba Thời dực mình la lớn rằng: « Húy! heo của ai đó vậy »? Thằng Được đứng ngoài vổ tay cười ngất và nói rằng: « Hồi trước tía bán con heo quắn của má, con đi kiếm mấy năm nay mới được nên dắc về cho má đó đa. Má coi có phải hay không? »
Lúc ấy trời chạn vạn tối nên trong buồng thấy mờ mờ không rõ, ba Thời mới đốt đèn rọi coi con heo thì lấy làm mừng rở vùng nói lớn rằng: « Phải rồi, heo con mua ở đâu đó vậy con? » Thằng Được lấy làm toại chí nên đứng chống nạnh vinh mặt mà đáp rằng: « Con mua bên chợ Trạm về cho má đó đa. » Ba Thời để cái đèn dưới đất ôm con mà hun trơ hun trất, rồi nói rằng: « Con tôi thiệt đáng quá! »
Ba Thời lấy cám sú cho con heo ăn rồi đi vo gạo nấu cơm. Thằng Được với thằng Bĩ chạy ví bắt một con gà giò đặng làm thịt. Thằng Được biểu thằng Bĩ phụ nấu cơm với ba Thời, còn nó chạy vô thăm cậu hai mợ hai nó. Quá nửa canh một, cơm nước xong rồi, thằng Bĩ mới leo lên vỏng nằm ngũ ngáy pho pho.
Thằng Được lấy cái khăn mua trên Cần-giuộc mà cho ba Thời, rồi mẹ con nằm tại bộ váng giữa mà kể hết những hồi hoạn nạn, những lúc nhớ thương trong mấy năm ly biệt. Ba Thời nghe thằng Được thuật đến lúc thảm là lúc thầy Đàng bị bắt giam tại Tràvinh, lúc nằm nhà thương Chợ-Rẩy và lúc linh đinh ở Saigon thì động lòng thương nên nước mắt dầm dề. Thằng Được thuật hết chuyện của nó rồi nó mới hỏi tới chuyện của má nó coi ở nhà giàu nghèo ấm lạnh thể nào, rồi lại hỏi thăm luôn tới chuyện tía nó nữa. Ba Thời nằm to nhỏ mà kể hết chuyện nhà cho con nghe, nói rằng từ khi con ra đi rồi thì chị ta ở nhà buồn rầu không xiết kể, ngày như đêm cứ nằm gát tay qua tráng mà thở ra hoài. Chồng xài hết mấy chục đồng bạc bán heo rồi 20 đồng bạc của thầy Đàng đưa cũng làm tiêu luôn nữa. Chị ta lớp thì nhớ con, lớp thì túng tiền nên theo phàn nàn với chồng hoài, biểu chồng phải lo làm ăn, mà chồng lững-đững lờ-đờ như kẻ ở một nơi mà lo một nơi, ở được vài tháng rồi vát dù mà đi nữa. Mấy năm nay chồng không về thăm lần nào. Chị ta ở nhà một mình lo củi đục làm ăn, bỡi vậy cho nên tuy trong nhà không dư dả song cũng không thốn thiếu. Năm ngoái chị ta nghe họ nói có gặp chồng ở làm ruộng dưới Cầnthơ. Hôm tháng trước chị ta có tiếp được một bức thơ của chồng gởi về, chị ta mượn thầy giáo coi giùm thì thầy giáo nói rằng chồng bây giờ ở dưới kinh Xà-No biểu chị ta như có nghèo thì bán nhà đi xuống dưới mà ở. Ba Thời nói tới đó thì ngồi dậy thò tay vào túi móc bức thơ ra đưa cho thằng Được coi. Thằng Được thấy bức thơ có mấy hàng chữ mà thôi nên đưa gần đèn mà đọc: