Trang chủ Viện

Cay đắng mùi đời — Hồ Biểu Chánh

Cay đắng mùi đời (phần 2)

Chương 3 / 8

Ba Thời nghe chồng nói xeo mình thì ứa nước mắt, song vì thương con nên ráng gượng gạo kiếm cớ mà cải rằng:

— Tôi đã có nói với mình rằng tôi chắc thằng Được là con nhà giàu sang; áo mền giày nón nó mặc hồi tôi xí được nó đó với mặt mủi nó bảnh bao, tay chơn nó diệu nhiểu đó mình không thấy hay sao? Bây giờ mình bán nó mình lấy một hai chục đồng bạc có phải là nhiều ở đâu, chi bằng mình để mình nuôi nó họa may ngày sau cha mẹ nó tìm mà nhìn nó mình xin một đôi trăm đồng bạc mới khá chớ.

— Mầy cãn đản để mầy nuôi có bữa tao dóa tao đập nó chết đây mầy mang họa đa, nói cho mầy biết. Đi coi nấu nước uống, tao tính thế nào tại nơi ý tao, mầy không được phép nói.

Ba Thời thấy chồng trộ trạo thì chảy nước mắt, rồi riu-ríu đi vô bếp, không dám nói chi nữa hết. Lúc hai vợ chồng đương đôi co với nhau thì ông già kéo gối mà nằm. Tuy ổng không rõ gia đạo của tên Hữu ra thể nào, song ổng nghe hơi tên Hữu nói đó thì ổng biết anh ta khắc thằng nhỏ lắm, nếu ổng mua nó ổng nuôi thì chắc là tội nghiệp cho vợ tên Hữu mà cũng là làm phước giùm cho thằng nhỏ. Chừng ba Thời bước vô bếp ổng mới nói với tên Hữu rằng:

— Tôi coi ý thím nó triếu mến thằng nhỏ lắm; vậy thôi chú nó để mà nuôi, giao cho tôi làm chi rồi thím nó buồn rầu tội nghiệp.

— Không mà! Hễ tôi nhứt định thì tôi cho, cha nó cản tôi không được lựa là nó. Chẳng giấu chi thầy, tôi nghèo nên trôi nổi xuống Cầnthơ mà làm ruộng. Ở nhà vợ tôi lên trên Chợlớn ở đậu nhà người ta mà làm mướn, cách vài năm sau nó trở về nó có bồng về một đứa con, nó nói đứa nhỏ đó là con của họ nó xí được nó để nó nuôi. Thầy nghĩ đó mà coi theo thầy vậy thầy có nghi hay không. Mấy tháng nay tôi về tôi thấy thằng nhỏ tôi gay con mắt nên sanh giặc trong nhà hoài, bỡi vậy tôi tính kiếm người đặng cho phức nó đi cho rồi, thì trong nhà mới an ổn mà lo làm ăn được. »

Ba Thời trong bếp chạy ra nước mắt nước mũi chàm-ngoàm và khóc và thề rằng: « Nếu không phải con tôi xí được mà tôi nói dối đặng gạt mình, thì xin ông thần trong làng nầy bẻ cổ vặn họng tôi đi. »

Ông già thấy ba Thời khóc lóc thề thốt như vậy, thì lồm-cồm ngồi dậy mà can rằng: « Thôi, hai vợ chồng cũng chẳng nên rầy-rà mà làm gì. Tôi là người ở xứ lạ, tình cờ đến đây chớ không phải là bà con quen biết chi với hai vợ chồng. Nảy giờ tôi nằm lòng tai nghe thì tôi đã rõ gia đạo của hai vợ chồng hết rồi. Thím em nó xí được con của họ bỏ rơi thím em nó bồng về mà nuôi phải hôn, chú em nó đi làm ăn lâu ngày về thấy khi đi thì vợ không có nghén mà khi về thì vợ lại có con, nên để lòng nghi thím em nó ở nhà có ngoại tình, rồi vợ chồng sằn-sặt với nhau hoài. Làm đàn-ông mà nghi như chú em nó đó cũng chẳng phải lạ gì. Mà nảy giờ tôi nghe hơi thím em nó tức tối trong lòng lắm, thì tôi biết chắc thím em nó thiệt tình chớ không có gian-dối. Tôi tuổi đã trộng rồi, cũng đáng bực huynh trưởng của hai vợ chồng, tôi đến đây thấy hai vợ chồng cắn-đắn với nhau như vậy tôi cũng buồn. Vậy tôi xin thím nó vui lòng để cho tôi nuôi giùm thằng nhỏ cho, làm như vậy chú em nó mới hết nghi, vợ chồng mới hòa thuận mà lo làm lo ăn với người ta. Tôi vẫn biết thím em nó nuôi thằng nhỏ từ hồi còn đỏ lắm-lói cho đến bây giờ kể đã tám chín năm trường sao lại không thương, bây giờ thím em nó giao cho tôi dắc đi thì thím em nó chắc là thương nhớ buồn rầu lắm chớ. Mà thím em nó nên nghĩ đều nầy: Thằng nhỏ thì mặt mày sáng-láng lắm, nếu thím em nó để mà nuôi thì bất quá một vài năm nữa thím em nó bắt đi chăn trâu, bắt đi mót lúa, rồi chừng nó lớn thì cầm cày đánh xe càng tội nghiệp cho thân nó. Chớ còn thím em nó bằng lòng để lại cho tôi nuôi thì tôi dạy nó học chữ học đờn, họa may ngày sau thân nó khỏi cực khổ, coi có phải là tốt hơn hay không? Chú em nó đòi 20 chục đồng bạc, thôi tôi cũng chịu cho đủ 20 đồng bạc, tôi nuôi nó trước là làm phước giùm cho nó, sau nữa giúp cho hai vợ chồng hòa thuận mà ở đời với nhau, dầu mắc rẻ cũng chẳng nệ gì. »

Tên Hữu nghe ông già chịu trả 20 đồng thì mặt mày hớn hở, còn ba Thời nghe lời hơn thiệt thì động lòng nên ngồi khóc dầm dề. Chừng ông già nói dứt lời ba Thời mới nói rằng: « Thầy thấy thân tôi thầy thương nên thầy tính như vậy thiệt tôi đội ơn thầy lung lắm. Ngặt vì tôi nuôi nó đã mến tay mến chơn, nếu rứt mà giao cho thầy thì chắc tôi chết, chớ chịu không nổi. » Ông già day lại ngó ngay ba Thời rồi nói rất nghiêm nghị rằng: « Thím nói thím thương nó, nếu thiệt thương thì phải tính làm thế nào đặng ngày sau nó trở nên một người biết nhơn, biết nghĩa, biết hiếu, biết trung, đủ tài, đủ lực, mà ở đời cho khỏi người ta khinh bỉ, chớ thương mà tính làm cho nó chăn trâu, cầm cày, cạo heo, pha nước, thương như vậy thì là cố ý làm hại cho nó chớ có phải là thiệt thương đâu. »

Ba Thời cúi đầu lặn thinh không nói chi hết. Tên Hữu đứng dậy ăn trầu rồi nói rằng: « Nếu nay tôi giao nó cho thầy, thoản như ngày sau cha mẹ nó nhìn có cho tiền bạc thì ai lãnh tiền bạc ấy? » Ông già trề môi đáp rằng: « Ối! tôi có cần gì tiền bạc ấy đâu! Nếu ai có nhìn thì tôi chỉ cho họ đến nhà chú em nó rồi họ tính sao họ tính ».

Thằng Được tay cầm một gói trà ở trong nhà cậu hai nó, nó đi về bước đến sân nó sợ rầy nên không dám vô cữa, nó đi dọc theo hè rồi vô phía cữa sau. Đi lại bếp thì thấy siêu nước sôi hơi lên ngui-ngúc mà không có má nó ở đó, nó mới đi nhè nhẹ lại núp dựa cữa buồng mà dòm ra ngoài. Nó thấy dạng má nó ngồi trên cái chỏng gần đó nó mới kêu nho nhỏ: « Má má, trà đây nè ». Ba Thời nghe kêu liền đứng dậy đi vô bếp. Thằng Được chạy theo tay đưa gói trà miệng thì nói rằng: « Mợ hai mở nói mượn trà sao mượn hoài, mở biểu lại quán mua mà uống chớ mở không có trà mà cho mượn nữa. May có cậu hai ở nhà cẩu nghe nói cẩu rầy rồi cẩu lấy cẩu cho mượn đó đa ».

Ba Thời mở gói trà ra bỏ vô bình rồi ngồi chồm hổm mà chế nước không nói chi hết. Thằng Được thấy má nó nước mắt nước mũi chàm-ngoàm không hiểu có việc chi nên vịnh vai má nó mà hỏi rằng: « Sao má khóc vậy má? Tía rầy nữa hay sao? » Ba Thời không trả lời, song day lại ngó con một cách thảm thiết lắm, rồi xách bình nước mà đi ra ngoài trước. Thằng Được đứng bơ vơ buồn nghiến, ngoài hè dông-gió lá đập ồ ào, rồi một lát mưa tuông như cầm tỉn mà đổ, trời gầm như súng nổ bên tai.

Ba Thời ở ngoài bước vô sập cái cữa sau cho khỏi mưa tạc ướt bếp. Thằng Được xẩn-bẩn đi theo mà hỏi rằng: « Ông già nào đó vậy má? Hồi nảy tía biểu tôi đi chơi chừng nào kêu sẽ về, bây giờ trời mưa tôi ở nhà có được hay không má? » Ba Thời sập cữa xong rồi liền day lại ôm con ngồi bẹp xuống đất và khóc và nói rằng: « Cha con nó bán con cho ông già đó rồi, con ôi! »

Thằng Được nghe nói cũng chảy nước mắt rồi nói rằng: « Tôi không chịu đâu má. Tôi ở với má hà ». Ba Thời nghe con nói mấy lời thì đứt ruột nát gan, song cũng gắn gượng mà nói với con rằng: « Con ôi! con còn nhỏ dại nên con không hiểu, chớ thân má mà nuôi con đây thiệt là thảm khổ không biết chừng nào. Mấy tháng nay tía con nó về nó cứ nghi cho má lấy trai nên đẻ con ra đó chớ không phải là xí được con mà nuôi, bỡi vậy cho nên nó ghét con, mà nó lại hành hài thân má hoài. Thiệt nếu mà cự, không chịu giao con cho ông già đó, thì không ai làm sao mà dắc con đi được, song nếu má cản trở thì tía con nó nghi con là con của má đẻ, dường ấy cái danh tiết của má còn gì, vì vậy nên má thương con mà không mở miệng ra được. »

Thằng Được ngồi khóc một hồi rồi đứng dậy mặt chừ-bự, lấy vạt áo lao nước mắt và nói rằng: « Thôi, má đừng có buồn, đừng có khóc nữa. Tía có bán con thì để tía bán đặng con đi phức cho rồi, chớ má cản trở để con ở lại đây tía rầy rà má hoài tội nghiệp má lắm. Không có sao đâu mà sợ! Con đi rồi chừng con khôn lớn con làm ăn có tiền nhiều con trở về con cho má, con không quên má đâu? »

Ba Thời nghe con nói như vậy lại càng tủi trong lòng hơn nữa, nên kéo con ngồi xuống rồi ôm nhau mẹ con khóc mước. Ngoài sân trời đã hết dông, nhưng còn mưa rĩ-rả hoài không dứt hột. Tên Hữu thấy trời gần tối mà mưa không tạnh nên cầm ông già ở lại sáng ngày sẽ đi. Ông già tính đi qua Cần-Đước mà thấy ướt-át nhắm đi cũng bất tiện, nên chịu ở nán ngủ nhờ một đêm. Tên Hữu kêu vợ biểu coi nấu cơm làm gà vịt cho khách ăn.

Cơm nước xong rồi, ông già lấy ra 20 đồng bạc mà đưa cho vợ chồng tên Hữu, và kêu thằng Được ra rồi biểu nó sửa soạn gói áo gói quần cho sẵn đặng sáng thức dậy đi cho sớm. Trời chạn vạng tối thì mưa đã dứt hột. Ba Thời mới đi vô trong nhà người anh lấy hết áo mủ giày mền và sợi dây chuyền của thằng Được mà đem về, tính khuya đưa hết cho con rồi dặn nó sau như cha mẹ ruột nó có nhìn thì đưa đồ ấy ra mà chiếu đối.

Đêm ấy ba Thời không ngủ được cứ nằm trăn trở nước mắt dầm dề. Thằng Được cũng tức tưởi trong lòng, nghĩ rằng còn có một đêm nay thì mình không còn ở với mẹ nữa, phải đi theo người ta mà không biết đi đâu, nên nằm một bên mẹ mà không dám đụng mình mẹ, cứ day mặt vô vách hoài.

Trời rựng đông gà lối xóm gáy van rân. Ông già thức dậy quẹt hộp quẹt mà đốt đèn, rồi mở cữa ra sân mà tiểu tiện. Vợ chồng tên Hữu cũng thức dậy theo. Ông già trở vô kêu đứa con gái đi với ổng đó: « Liên, Liên, dậy con, sáng rồi, dậy sửa soạn mà đi cho sớm, kẻo trưa đi nắng lắm. » Ổng lại day qua biểu tên Hữu rằng: « Kêu giùm thằng nhỏ thức dậy đặng nó đi. »

Thằng Được đã thức dậy rồi, đương đứng sau hè múc nước súc miệng rửa mặt, bổng nghe tía nó kêu liền lật đật quăn gáo chạy ra. Ông già thấy nó liền biểu: « Lấy áo quần rồi đi con. » Thằng Được trở vô buồng, ba Thời mới đưa cho nó một cái áo vải trắng với một cái quần vải trắng mới mà biểu nó bận, rồi lại kêu nó mà dặn rằng: « Con ôi! má để cho con đi đây chắc là má buồn rầu má chết gắp chớ chẳng không. Đây nè, những đồ nầy là đồ của con bận trong lúc má xí được con đó. Cái gói giấy đây là sợi dây chuyền của con. Con đừng có bỏ mất mấy món đồ nghe hôn con, bỡi vì đồ đó là dấu tích của con, nếu con bỏ mất thì sợ sau cha mẹ ruột con có nhìn không biết lấy chi mà làm tin. Má vái van cho con mạnh giỏi ăn chơi..... » Nói tới đó ba Thời khóc tấm tức tấm tưởi nên không tiếp được nữa.

Ở ngoài tên Hữu kêu lớn rằng: « Được a, rồi chưa ra mà đi chớ, làm giống gì mà lục-đục hoài ở trỏng vậy? ».

Ba Thời té ngồi trên giường tay trái thì chống giường, còn tay mặt thì lấy vạt áo tủ trên mặt mà khóc ngất. Thằng Được xách gói đồ bước ra tới cữa buồng, nghe má nó khóc, nó đứng lại ngó má nó và ứa nước mắt. Lúc ấy trời sáng mà còn mờ mờ, tên Hữu chạy vô nắm tay thằng Được kéo ra ngoài, để đứng dựa bên ông già. Ông già vổ đầu nó mà nói rằng: « Con đi với ông, không sao đâu mà sợ. » Ông già vấn thuốc hút rồi đứng dậy biểu con nhỏ đi với ổng đó xách cây đờn, còn ổng lấy dù rồi xỏ vô hai cái bao vải xanh mà mang trên lưng. Ổng vừa muốn từ mà đi thì tên Hữu hỏi thằng Được rằng: « Mầy xách gói gì mà bùm-sùm dữ vậy?
Đưa đây coi nào ».

Tên Hữu lấy cái gói của thằng Được rồi mở ra thấy có những áo mền giày mũ của nó hồi nhỏ đó liền kêu vợ mà nói rằng: « Mầy a, mầy đưa đồ nầy cho nó đem theo làm gì? » Nói rồi liền lấy đồ ấy mà bỏ ra ngoài váng, thấy có gói giấy nhỏ mở ra thấy sợi dây chuyền cũng lấy lại nữa, Tên Hữu coi kỹ thì còn có một cái áo với một cái quần vãi đen, mà hai cái tuy chưa rách song cũng đã cũ rồi nên lật đật gói lại mà đưa cho thằng Được rồi hỏi ông già rằng: « Hồi hôm thầy nói với tôi thầy qua Cần-Đước. Mà qua Cần-Đước rồi ở đó hay là còn đi đâu? Xin nói cho tôi biết đặng sau như cha mẹ nó có đến đây mà nhìn nó thì tôi biết mà kiếm thầy. »

Ông già dụ dự một chút rồi đáp rằng: « Sự ăn ở thiệt tôi chưa biết chắc ở đâu, mà không hại gì, nếu chú em có việc muốn kiếm tôi thì qua chợ Cần-Đước hỏi thăm thầy Đàng thì họ chĩ cho. » Nói dứt lời liền từ giả tên Hữu mà đi, và day mặt vô cữa buồng thấy ba Thời đứng đó thì nói rằng: « Thím em nó đừng có phiền, tôi nuôi cũng tử tế, không sao mà sợ. Thôi, tôi kiếu hai vợ chồng nghe? »

Thầy Đàng nắm tay thằng Được mà dắc đi, con nhỏ xá hai vợ chồng tên Hữu rồi xách cây đờn đi theo sau. Ra tới sân thằng Được vùng-vằng trì đứng lại mà kêu: « Má ơi! má! » Ba Thời chạy ra cữa khóc rống lên nghe rất bi thảm. Tên Hữu trợn mắt ngó thằng Được, làm cho nó sợ khiếp vía nên dở bước đi theo thầy Đàng không dám kêu má nữa. Tên Hữu đứng coi đi ra tới đầu bờ rồi mới day lại nạt vợ rằng: « Nính đi nà! Khóc giống gì? Mầy nói không phải con mầy đẻ sao mà khóc dữ vậy.... Thứ đồ ngu! đồ của thằng nhỏ sao mầy đưa cho nó chi vậy? Nếu thiệt nó là con của họ mầy xí được thì phải để đồ đó lại đặng sau có ai họ nhìn họ mới tìm đến mình, chớ đưa hết cho nó thì mình còn bằng cớ gì mà kể công nuôi dưỡng được. » Ba Thời không trả lời, trở vô trong ván hốt hết đồ của thằng Được đó mà ôm vô buồng rồi ngồi khóc rấm-rút.

Thầy Đàng dắc thằng Được ra tới đường quan lộ rồi mới buông nó ra, biểu nó đi trước, còn thẩy với con nhỏ thì đi theo sau. Thằng Được chơn đi mà mắt ngó lại nhà hoài, nước mắt chảy ròng ròng không dứt, trong bụng thầm nghĩ mình bước tới một bước thì càng xa mẹ, xa nhà thêm một khúc đường; hồi nảy nghe ông già nói đi qua Cần-Đước mà xứ Cần-Đước ở đâu? ông già nầy là ai? Ông mua mình đem về bắt làm việc gì? Mình có thế nào trở về nhà má nữa hay không?

Thằng Được trong lòng quặn đau như dao cắt, trong trí bối rối như tơ vò, bỡi vậy cho nên chơn thì đi, mắt thì khóc, mặt thì ngó ngoái lại hoài, làm cho người đi chợ họ gặp ai thấy cũng lấy làm kỳ, có người biết nó kêu hỏi nó đi đâu nó cũng không nói. Ra đến chợ Mỷ-Lợi, thầy Đàng biểu hai đứa nhỏ đi thẳng lại cầu ngồi mà chờ đò đặng qua sông Bao-Ngược. Mặt trời ững mọc, hướng đông chói đỏ lòm. Thằng Được đứng trên cầu ngó lại Xóm-Tre thì thấy nhà má nó rõ ràng, thấy mấy buội chuối sau hè mặt trời chói vàng-vàng, thấy mái chuồng vịt dựa mé sân sùm-sụp, thấy cữa chống có người đứng đó, nhưng mà vì ở xa nên thấy người ấy mặc đồ đen chớ không rõ là ai, thấy con chó vàng đi nghểu-nghến trước sân rồi đứng chong mỏ ngó ra đường dường như tìm kiếm bạn.

Thằng Được đứng ngó hoài không mỏi mắt, mà thầy Đàng với con Liên đứng một bên thì đứng chớ cũng để cho nó ngó, chẳng hề hỏi một tiếng chi. Chiếc đò chèo qua tới, thầy Đàng xách đồ và dắc hai đứa xuống đò. Chiếc đò sớm mơi đi bảy tám người, người nầy hỏi người kia, người kia nói chuyện với người nọ om-sòm, song thằng Được cũng không khuây lảng cứ ngó về phía Xóm-Tre hoài. Đò qua tới mé sông bên kia, thằng Được leo lên bờ ngó trở lại bị dăn cây ăn khuất không thấy Xóm-Tre nữa, không biết chỗ nào là nhà mình, rồi ngó tứ hướng thì cỏ cây lạ hoắt, chẳng có xóm nào là xóm mình biết, chẳng có nhà nào là nhà mình quen thì hồi-hộp trong lòng, nên đứng khóc thúc thích. Thầy Đàng dưới đò bước lên, vổ vai biểu nó đi, thì nó đánh liều dở bước đi theo, chớ bơ-vơ cảnh lạ quê người, không biết đi đâu mà tính.

Thầy Đàng thiệt tên là Trần-cao-Đàng, người gốc sanh đẻ tại xứ Cần-Đước. Lúc còn nhỏ trong nhà cha mẹ nghèo lắm, cơm ăn không no, áo mặc không lành. Khi ấy nhà-nước mới lập trường mà dạy học chữ quốc-ngữ với chữ Tây, nhà giàu không ai chịu cho con đi học. Nhà-nước mới tống trát cho các làng dạy phải cấp học trò. Hương-chức trong làng sợ quan quở phạt nên năn-nỉ với ông thân của Đàng để cho Đàng đi học, Hương-chức với nhà giàu chung đậu với nhau mà chịu tiền cơm bánh áo quần, lại còn cấp dưỡng cho cha mẹ ở nhà được no ấm nữa. Thầy Đàng nhờ có như vậy nên mới đi học được.

Học hơn mười năm quan bổ đi làm thầy-giáo dạy tại trường Saigon. Dạy học được vài năm gặp dịp quan Tham-biện Chợlớn cần dùng một thầy thông-ngôn, thầy Đàng mới xin thôi ngạch thầy-giáo rồi xin cấp bằng làm thông-ngôn. Quan Tham-biện thấy giỏi-giắn bặc-thiệp thì đem lòng yêu thầy, bởi vậy cho nên thầy đứng thông-ngôn nhà thầy tổng làng tới lui nườm-nượp. Thầy rước cha mẹ về ở chung với thầy còn đứa em gái của thầy tên là ba Sự thì cha mẹ thầy đã gã cho người ở trong làng tên là Phan-hảo-Tâm.

Thầy vốn là con nhà nghèo, nhưng vì thầy làm việc quan đắc lộ, kẻ kính người yêu, bỡi vậy cho nên có một ông Cai-tổng giàu có ở gần làng thầy mới kêu thầy mà gã con. Thầy cưới vợ về vợ chồng ở với nhau hơn mười năm mà không có con. Lần lần cha mẹ hai bên khuất hết. Vợ thầy lảnh phần ăn của cha mỗi năm thâu huê lợi cũng được hai ba ngàn giạ lúa. Thầy làm việc quan có lương có bổng, mà tổng làng kính phục nên đi lễ vật hằng ngày; đã vậy mà vợ thầy lại có của riêng, nếu thầy thủ phận như người ta thì bước hoạn lộ của thầy chắc là rộng dài, mùi phú quí vinh huê chắc là thầy nếm đủ.

Nào dè người đời hễ có may thì có rủi, sự nên hư vinh nhục gẩm cũng như nước lớn nước ròng. Thầy Đàng làm việc quan được 12 năm rủi gặp một ông quan Tham-biện không yêu thầy như mấy ông trước, lại hễ thầy đi hầu trễ thì rầy, thầy làm việc chậm thì quở. Tổng làng dòm thấy quan không yêu thầy nữa thì coi bộ họ cũng bớt kính mến. Thầy nghĩ thế tình lạc-lẻo thì thầy buồn thầm, nên thầy gởi đơn xin quan trên đổi thầy qua tĩnh khác. Quan trên đã không nhậm lời thầy, mà quan sở tại lại càng khắc với thầy nhiều hơn nữa, thầy tức trí mới xin thôi, rồi vợ chồng dắc nhau trở về Cần-Đước cất nhà mà ở.

Mấy năm thầy làm việc quan nhà thầy khách khứa đông dầy dầy; thầy học đờn thầy đờn thiệt tươi, nên đêm nào thầy cũng qui tụ những tay đờn giỏi đến hòa chơi với thầy. Hễ đờn đến khuya thì ăn uống vui cười; vợ thầy tuy phải thức khuya coi nấu nướng mà đãi khách, song muốn vừa ý chồng nên chẳng có một tiếng chi phiền trách.

Từ ngày thầy về ở trong làng thì chẳng có ai tới chơi nữa, ban đêm vắng-vẻ thầy có buồn thì lấy đờn ra rồi đờn một mình mà thôi, đờn cây nầy đã thèm rồi đờn qua cây khác. Vợ thầy chẳng có chi cực nhọc như khi trước, nhưng mà coi ý lại bớt trọng thầy. Nhiều khi vợ thầy nghe những bạn đồng-liêu của thầy khi trước kẻ làm Huyện, người làm Phủ, thì thường hay cằng-rằn, hay trách thầy nói rằng tại thầy ngang tàn chớ chi thầy nhịn nhục mà theo làm việc quan, thì chắc ngày nay cũng được rở-ràng như người vậy.

Thầy Đàng bước ra khỏi vòng hoạn lộ thì trong lòng phơi phới, chẳng hề có ý tiếc một chút gì. Thầy tính nghỉ chơi thong thả một vài năm rồi sẽ liệu chước hoặc kinh dinh công thương, hoặc khai sán nông nghiệp. Chẳng dè vợ chồng về trong làng ở chưa đầy nữa năm mà thầy dòm coi vợ thầy ỷ có của riêng nên có ý khinh thị thầy, hễ tính tới chuyện làm ăn thì nó cứ tiếc chức thông-ngôn, ký-lục, cứ ham làm bà Phủ bà Huyện hoài; thầy thấy lòng dạ của đàn-bà như vậy thì thầy buồn thầm, bỡi vậy cho nên thầy cứ bỏ nhà mà đi chơi cho khuây lản. Thầy đi thì thôi, chớ hễ về đến nhà thì vợ kiếm chuyện mà rầy-rà. Thầy dọ chắc vợ thầy ngày trước mà yêu mến thầy đó là vì cái chức thông-ngôn của thầy nên mới yêu; nay thầy không có oai quyền nữa nên vợ mới bạc đải như vậy.

Ngày nọ vợ chồng rầy với nhau, vợ nói nhiều lời phi nghĩa thầy giận bèn viết tờ để mà giao cho vợ, rồi biểu như nói thầy là người không xứng đáng thì lấy chồng khác cho xứng đáng hơn thầy. Người vợ cũng vui lòng mà lãnh tờ để, coi chẳng có chút chi triếu mến hết.

Thầy Đàng thấy thế tình như vậy thì trong bụng cười thầm, bên giao hết cữa nhà cho vợ, chỉ lấy có áo, quần, đờn sách mà thôi. Mà tưởng dầu thầy muốn lấy tiền của thầy cũng khó mà lấy cho đặng, bỡi vì thầy làm việc quan hơn mười năm, tuy tiền bạc vô nhiều, song vô bao nhiêu thầy xài hết bấy nhiêu, đến ngày xin thôi đi về làng, thầy phải lấy huê lợi của vợ mà cất nhà và mua đồ đạt.

Nay vợ chồng xa nhau đồ đạt cữa nhà ấy có phải của thầy đâu mà thầy dám đòi. May khi trước thầy có cho ít người bằng hữu mượn mỗi người một đôi trăm đồng bạc. Vậy thầy dọn áo quần đờn sách qua nhà em rễ là Phan-hão-Tâm mà gởi, rồi tính đi đòi nợ mà xài đỡ.

Thầy lên ở Saigon, Chợlớn chơi mấy tháng, anh em bạn kẻ thì khuyên thầy xin trở vô làm việc quan lại, người thì biểu thầy xin vô mấy hảng mà làm. Thầy nghĩ rằng mình đi trong hoạn lộ hơn 10 năm đã chán rồi, nay mình được thong thả còn xin trở vô chi nữa. Còn bây giờ mình xin giúp việc cho mấy hảng thì cũng được, mà nếu tránh đường nầy rồi đi đường nọ, đường nào mình cũng không được làm chủ, như vậy thì ngày trước mình xin thôi làm việc chẳng là dại lắm sao?

Thầy suy đi nghĩ lại chín-chắn rồi thầy mới nhứt định nếu không có nghề nào mà thầy làm chủ thầy được thì thà thầy đi dạy đờn mà chơi, dầu nghèo hèn thì thầy cam phận nghèo hèn, chớ thầy không chịu huật hạ ai hết. Có một thầy Hội-đồng ở Bến-lức, vốn là người giàu lớn, khi trước có mang ơn thầy, ngày nọ gặp thầy tại Saigon thì mừng rở hết sức, mời thầy đi ra nhà hàng ăn cơm nói chuyện chơi. Lúc ăn uống thầy tỏ hết tâm-sự của thầy cho thầy Hội-đồng nghe. Thầy Hội-đồng nghe hết đầu đuôi rồi nói rằng: « Không hại gì, thầy tính buôn bán làm ăn, nếu thầy cần dùng vốn liến bao nhiêu tôi sẽ giúp giùm cho, không sao đâu mà sợ. »

Thầy Đàng nghe mấy lời trong bụng mừng thầm, nên đi rủ anh em quen hùn hiệp với mình đặng lập tiệm trử bắp trử đậu mà bán. Anh em ai cũng thương, ai cũng muốn giúp cho thầy làm ăn, song làm việc tại Saigon Chợlớn không ai dư tiền nhiều, bỡi vậy cho nên mỗi người chịu hùn năm bảy chục hoặc một trăm mà thôi. Thầy Đàng thấy anh em hứa hùn, tuy vốn không nhiều, nhưng mà số hùn đông, thì lật đật đi Bến-lức tìm đến nhà thầy Hội-đồng nói chuyện lại cho thẩy nghe, rồi cậy thẩy giúp một đôi ngàn đặng có đủ tiền mà lập tiệm. Thầy Hội-đồng nói không có bạc sẵn, biểu đợi ít ngày rồi thẩy sẽ đem lên Saigon mà giúp cho. Đợi gần trót tháng mà không thấy chi hết, thầy Đàng túng thế phải xuống Bến-lức nữa, chẳng dè xuống đó lại không có thầy Hội-đồng ở nhà. Thầy bền chí xuống luôn năm sáu lần nữa, mà không gặp mặt; thầy biết thầy Hội-đồng nói không thiệt thì thầy tức cười thầm, rồi về nhứt định đi dạy đờn mà chơi, không thèm làm nghề chi hết.

Thầy đi trót năm tháng mới trở về nhà em rễ. Thầy nghe nói có thầy Phó-tổng sở tại vợ chết nên gấm ghé muốn cậy mai đến nói vợ thầy, mà ý vợ thầy cũng thuận rồi nên thầy Phó tới lui hoài. Thầy biết vợ thầy là người tham bạc tham tiền, trọng quyền trọng tước, thì thầy đã khinh bĩ rồi, mà thầy nghe nói mất tiết mất trinh thì thầy lại càng khinh-bĩ nhiều hơn nữa.

Từ ấy về sau thầy mang mấy tuối đờn lưu-linh trong lục-tĩnh, trót 15 năm trường khi thì lên Châu-đốc, khi thì xuống Bắc-liêu, khi thì lại Tây-ninh, khi thì qua Bà-rịa. Tuy có lúc thầy cũng xây xài bẩn chật, nhưng mà dầu khi nghèo cực thầy cũng giữ gìn danh dự, chẳng hề làm cho thấp cái phẩm giá của thầy. Lúc sau đây thầy thấy thiên-hạ lại ưa nghe ca, thầy nghĩ dầu thầy đờn hay mà không có ai ca thì chắc thiên-hạ cũng ít chuộng, bỡi vậy cho nên ra Bà-rịa thầy thấy con Đoàn-kim-Liên mặt mày sáng-sủa, mà tiếng nói lại thanh tao, thầy mới xin đặng thầy dạy ca, rồi dắc nhau mà đi đờn ca cho thiên-hạ nghe chơi mà lấy tiền. Thầy nuôi con Liên hơn một năm thầy dạy nó đã biết đủ điệu, mà lại biết được ít bản đờn-tranh nữa. Vì nó mới có 8 tuổi nên đờn ngón chưa được tươi, chớ còn ca thì ai cũng phải khen, bỡi vì tiếng nó đã tốt mà nó ca lại chắc nhiệp nữa. Thầy trở vô Sai-gon ở đờn mấy tháng thầy gặp một ông bầu gánh hát cải-lương, người thấy thầy đờn tươi, đặt bài ca hay, mà con Liên lại có thinh có sắc thì ái mộ, nên cứ theo năn-nỉ với thầy hoài, xin thầy theo giúp giùm, thầy thì làm thầy-tuồn, còn con Liên thì đứng rạp. Thầy nghe lời khuyến dụ thì cười ngất, rồi dắc con Liên đi xuống Gò-công, không thèm trả lời chi hết. Thầy ở Gò-công chơi ít ngày rồi tính đi lần lần về Cần-Đước mà thăm em, nào dè ra tới Mỷ-lợi lại gặp tên Hữu rồi xin thêm thằng Được mà nuôi nữa đó.

Trong 15 năm nay thầy ít hay về tổ quán, là vì vơ thầy đã cải giá, thầy sợ về vợ chồng gặp nhau tuy thầy không hờn giận, song vợ thầy cũng ngở-ngàng. Nay thầy dắc hai đứa nhỏ về thì thầy cũng tính về thăm em vài ngày rồi đi, chớ không phải tính về mà ở đó.

Thầy Đàng bước vô cữa thì vợ chồng Phan-hảo-Tâm mừng rở hết sức, hỏi căn nguyên con Liên với thằng Được rồi mới lật đật làm gà dọn cơm cho thầy ăn. Phan-hảo-Tâm là người cần kiệm, làm ruộng không lớn, song nhờ làm thầy thuốc tỏ dải nên trong nhà có dư-giã chút đỉnh; vợ chồng có hai đứa con, đứa con gái lớn đã có chồng về trên Rạch-Đào, còn đứa con trai nhỏ thì còn học tại trường Chasse-loup-Laubat.

Thầy Đàng thấy em trong nhà thong thả thì mừng; thầy hỏi thăm mọi việc ở nhà, song chẳng hề khi nào hỏi tới vợ. Lúc thầy ngồi ăn cơm với hai đứa nhỏ, em gái thầy mới thỏ-thẻ mà tỏ rằng vợ thầy đụng thầy Phó-tổng xưa nay không có con, mà năm ngoái thầy Phó lại tỵ trần, vợ thầy bị sấp con ghẻ rầy-rà nên đã trở về nhà cũ mà ở. Thầy Đàng nghe nói tới chuyện vợ thì châu mày coi có sắc buồn, chẳng hiểu là tại thầy nhớ đến sự bất nghĩa của người xưa, hay là tại thầy động lòng thương bạn cũ, mà thầy không nói chi hết.

Thầy ở Cần-Đước mấy bữa thầy đến nhà thăm bà con cùng hết, nhưng mà thầy lánh không chịu đi lại gần nhà cũ của thầy. Thầy vừa tính từ tạ em rồi dắc hai đứa nhỏ mà đi, chẳng dè thầy nhuốm bịnh thình lình nên thầy phải nấn-ná ở lại mà dưỡng bịnh.

Phan-hão-Tâm lo hốt thuốc cho thầy uống, tuy bịnh thầy không thêm, những mà cũng không giảm chút nào. Phan-hảo-Tâm coi mạch rất kỷ rồi nói thầy đau thận, nên cho thầy ăn cơm lạt với chuối hoặc với đường mà thôi, chớ không cho ăn đồ mặn, lại khuyên thầy phải nương náu mà uống thuốc đôi ba tháng thì bịnh mới dứt được. Thiệt thầy cũng chẳng đau chi cho lắm, chỉ đau lưng, nhức tay, mỏi cẳn và có khi lại ran cái ngực mà thôi, song vì bỡi thầy ăn không được, nên nằm mới mấy bữa mà trong mình thầy yếu lắm.

Thằng Được với con Liên ở đó cứ ăn rồi chơi, chớ không làm việc chi; chúng nó buồn, con Liên mới bày ra dạy thằng Được ca. Dạy đúng một tháng thằng Được đã biết ca đủ bản hết. Thầy Đàng bịnh mười phần đã giảm được năm phần rồi, mới biểu em mua hai cuốn vần quốc-ngữ, ban ngày thì dạy hai đứa nhỏ học chữ còn ban đêm thì dạy chúng nó học đờn. Con nhà giàu trong làng thấy thầy dạy hai đứa nầy học đờn, thì thừa dịp nên áp tới mà xin thầy dạy giùm. Thầy nghĩ mình còn bịnh chưa đi đâu được mà ở không cũng chẳng ích gì, nên thầy chịu dạy đặng cho hai đứa nhỏ trong nhà học theo cho dễ.

Người vợ cũ thầy bỏ thầy mà lấy Phó-tổng gần 15 năm nay, nhà cữa phải giao cho một đứa cháu ở giữ giùm, lúa ruộng năm nào góp xong rồi cũng phải nhập với lúa của thầy Phó để mà xài chung. Tuy ở trong nhà thì tôi tớ, ra ngoài đường thì làng dân, ai cũng thưa, cũng dạ, cũng kêu là bà Phó, nhưng mà có một chút đó mà phải ra công xem xét việc nhà cho người ta, rồi mỗi năm lại phải giao cho người ta hơn hai ngàn giạ lúa nữa, nghĩ thiệt là mắc quá. Đã vậy mà lúc thầy Phó tỵ trần sấp con ghẻ lại nói nhiều lời sĩ-nhục, đứa thì nói mình thấy thầy Phó giàu nên bỏ chồng mà ám xát đặng giựt của, đứa thì nói vì mình nên thầy Phó mới mang bịnh mà tỵ trần.

Cô trở về nhà cũ mà ở, nghĩ đến việc chồng thì hổ thẹn trăm bề, mang chi cái thói ham tước ham quyền mà mười mấy năm nay hao tiền tốn của không biết bao nhiêu, lại còn phải mang tiếng lộn chồng, mang đều bạc nghĩa. Cô đương buồn rầu bổng nghe chồng cũ trở về, tuy cô không dám để lòng trông cho con chim cũ vào cái lồng xưa, nhưng mà cô nằm ngồi không an, coi ra tuồng như cô thương nhớ thầy lắm vậy.

Đêm nào cô cũng chong đèn ngồi mà suy nghĩ, nếu thầy Đàng kêu cữa thì chắc là cô bỏ giày chạy ra ôm khóc rồi năn-nĩ ỷ-ôi cho thầy dung thứ cái tội ngày xưa, mà cô ngồi đợi hoài không nghe ai kêu, duy nghe canh tàng gà gáy van rân, duy thấy chích bóng trong phòng hiu quạnh. Cách ít ngày cô lại nghe thầy nhuốm bịnh, cô mới lần đến mấy nhà ở gần Phan-hảo-Tâm mà chơi. Tuy là cô giả bộ đi chơi, song trong lòng cô thì cô quyết hỏi thăm coi bịnh chứng của thầy nặng nhẹ thể nào, và thầy về có tỏ dấu đoái tưởng đến cô chút nào hay không. Người trong xóm thuật chuyện thầy về có hai đứa nhỏ cho cô nghe, lại nói bịnh thầy nặng lắm có lẽ thầy phải ở uống thuốc lâu lâu mới mạnh được.

Ngày nào cô cũng đi qua đi lại ngang trước nhà Hảo-Tâm, rồi ghé mấy nhà ở gần đó khi thì hỏi mua trứng gà, khi thì mướn người đấp đất. Một bữa nọ cô đương ngồi trong nhà bà Cẫn, bổng thấy thằng Được với con Liên đi lại đó chơi. Cô lấy làm mừng mới hỏi thăm chuyện thầy, lại thấy hai đứa nhỏ ngộ-nghỉnh cố đem lòng thương nên cô biểu chúng nó đi theo cô lên nhà cô chơi. Thằng Được với con Liên bước vô nhà thấy nhà cữa kinh-dinh, ghế tủ hực-hở thì ké-né không dám ngồi. Cô hối đứa ở trong nhà chạy đi mua bánh đem về cho hai đứa nhỏ ăn, rồi cô mới hỏi rằng: « Hai cháu kêu ông thầy đó bằng giống gì? »

Hai đứa ngó nhau rồi thưa rằng: « Thưa, con kêu bằng thầy. »

Cô cười rồi nói rằng: « Hai cháu biết hôn? Qua đây là vợ của thầy đó đa. Thầy giận qua rồi bỏ đi hơn 15 năm nay không chịu về nhà. Hai cháu muốn ở đây với qua hay không? Như muốn thì biểu thầy về đây mà ở, đặng hai cháu sung sướng tấm thân. Ở với qua, qua may áo tốt quần tốt cho mà bận. »

Hai đứa ngồi lặn thinh không nói đi nói lại chi hết. Chơi một hồi rồi thưa với cô mà về, vì sợ đi chơi lâu thầy rầy. Cô cho mỗi đứa một cắt bạc rồi dặn mỗi bữa lên cô cho ăn bánh. Hai đứa nhỏ ra đường lấy làm đắc ý, nói nói cười cười, hỏi với nhau tại sao thầy có nhà tốt, có vợ yêu như vậy mà lại không chịu về nhà lại trôi-nổi dạy đờn làm chi cho cực thân nhọc trí. Tuy cô dặn, song hai đứa nhỏ về không dám nói ra, mà hễ năm ba bữa thì giả bộ đi chơi rồi lên nhà cô mà ăn bánh.

Ngày nọ cô thấy cô ba Sự là em thầy Đàng đi ngang qua nhà, cô liền mời vô rồi khóc lóc mà tỏ lòng ăn năn lỗi ngày trước, và xin cô ba Sự làm phước nói giùm cho thầy hết giận đặng trở về cho cô nuôi dưỡng cho thong thả tấm thân. Cô ba Sự thấy vậy cũng động lòng, nên hứa để đợi anh lành mạnh rồi sẽ kiếm lời mà dọ ý.

Thầy Đàng uống thuốc hơn 7 tháng mới thiệt mạnh. Con Liên học đờn tranh đờn kiềm đã lảo thông; còn thằng Được thì đờn kiềm với đờn cò cây nào cũng đờn gần đủ bản. Hai đứa lại biết đọc biết viết chữ quốc-ngữ rồi hết. Ăn Tết xong rồi thầy mới cột đờn gói sách sửa soạn muốn dắc hai đứa nhỏ mà đi. Tối bữa ấy thầy đương nằm nói chuyện với em rễ, thì em gái thầy trong buồng bước ra ngồi bộ ván bên kia têm trầu ăn rồi hỏi thầy rằng:

— Anh hai, anh tính đi đâu nữa hay sao mà ngày nay anh thâu xếp đồ đạt đó vậy?

— Ừ, qua tính sáng mai qua đi Bến-tre, Mỏ-cày chơi.

— Ý anh muốn em không dám cải, chớ thiệt em thấy anh đi em buồn quá.

— Vậy chớ thuở nay đó sao?

— Thuở nay anh mạnh giỏi chẳng nói làm chi. Nay anh đã hơn 50 tuổi rồi, anh đã già yếu mà trong mình lại có bịnh nữa. Anh đi xa như anh mạnh giỏi chẳng nói gì, còn khi ương yếu thì có ai đâu mà nhờ cậy.

— Chí qua muốn thong thả, ở một chỗ tù túng qua chịu không được. Mà em biểu qua đừng có đi thì tiền đâu có cho qua xài, cơm đâu có cho qua ăn.

Hảo-Tâm nghe nói tới đó liền ngồi dậy mà trả lời rằng:

— Anh ăn xài bao nhiêu đó mà anh lo dữ vậy. Anh ở nhà đây vợ chồng tôi nuôi cho.

— Dượng có bụng tốt thì tôi cám ơn lắm. Song tôi biết dượng đủ ăn chớ không phải giàu có chi. Mấy tháng nay tôi về đây làm tốn cơm nước mà lại còn tốn thuốc men của dượng nữa, tôi nghĩ thì tôi ái ngại vô cùn. Tôi chưa đền ơn cho dượng được, nay lành mạnh rồi lẽ nào tôi còn theo mà làm nhọc cho vợ chồng dượng nữa hay sao.

— Anh em mà đền ơn báo nghĩa nỗi gì.

Ba Sự xen vô mà hỏi rằng:

— Mà bây giờ anh tính đi làm việc gì ở đâu anh nói nghe thữ coi.

— Đi ra trước dạy đờn kiếm tiền xài, sau chơi luôn thể.

— Dạy đờn vậy chớ ở nhà đây lại dạy không được hay sao? Con nhà giàu họ học hiếm đó, anh dạy họ mà ăn tiền, cần gì phải đi đâu cho mệt.

— Ở nhà buồn lắm, dạy giống gì được.

— Cần-Đước là chỗ nhau rún của mình, về đây sao anh lại buồn? Hay là về ở đây anh nhớ chuyện cũ, anh xét phận anh bây giờ nghèo hèn, còn phận chị hai thì giàu có, nên anh hổ thầm, rồi anh buồn phải không?

— Qua có hổ thẹn việc chi đâu, qua đắc ý lắm chớ! Cái nghèo của qua đây gia tài của họ đó dầu bán cho hết đi nữa mua cũng không nổi đâu; em đừng có tưởng qua thấy họ giàu còn qua nghèo mà hổ thẹn.

— Hứ! anh khinh khi người ta quá!... Đời nầy có cái chi quí hơn đồng tiền. Phải hồi trước anh chịu nhịn nhục mà làm việc quan, thì ngày nay có lẽ anh đã làm tới Đốc-Phủ rồi. Mà nếu anh không chịu làm việc quan, thì anh nương theo chỉ có lẽ trọn đời anh cũng khỏi cực khổ. Em nghĩ thiệt em tiếc quá.

— Phận em là đờn-bà, em đâu hiểu tâm chí của qua mà em nói.

— Em cũng biết làm đàn-ông ở không mà ăn chực của vợ thiệt cũng không tốt gì đó. Mà hồi còn trai tráng anh đủ tài đủ trí, đủ tay đủ chơn, anh không thèm hưởng nhờ của vợ, thôi em cũng cho là phải đi. Nay anh đã già yếu rồi nếu anh cứ cứng cỏi hoài thì.....

— Em đừng có nói quấy như vậy! Con người lúc còn trẻ thì hay làm bậy, đến chừng già rồi mới sửa tánh lại. Phận anh đây, hồi nhỏ anh đã làm phải, bây giờ già rồi em lại biểu anh phải sửa lại mà làm quấy hay sao?

Thầy Đàng nói tới đó lồm cồm ngồi dậy mà ngó ngay ba Sự. Hảo-Tâm cũng ngồi dậy vấn thuốc mà hút, còn thằng Được với con Liên thì đứng dựa tủ thuốc lóng tai mà nghe. Thầy Đàng tằn hắn rồi nói tiếp:

— Thế khi em muốn qua trở lại vợ cũ qua hay sao chớ.

Ba Sự ngồi lặn thinh không trả lời. Thằng Được mấy tháng nay ăn bánh lảnh tiền của cô Phó đã nhiều, có lòng ước ao cho thầy chịu trở về ở với cô đặng ăn mặc cho sung sướng, nên nghe thầy hỏi như vậy thì trong lòng hồi hộp trông coi thầy tính lẽ nào. Cách một hồi ba Sự mới nói rằng:

— Nếu anh chịu trở về ở với chỉ thì tiện lắm. Em biết chắc hễ anh về thì chỉ mừng lắm. Chĩ thấy anh bây giờ già yếu nghèo nàn mà lại hay đau ốm thì chỉ thương, nên mấy tháng nay chỉ cậy người nầy người kia nói giùm mà không ai dám nói. Em nghĩ nếu anh trở về ở với chỉ thì xong, bỡi vì....

— Nính! Em đừng nói bậy. Em bưng chén nước em đổ rồi em hốt lại cho đầy chén được hay không?

— Ở đời có cần gì. Ở đời nầy miễn là có tiền bạc nhiều thì thôi.

— Hứ! khéo bày chuyện làm cho tôi mang nhục!

Hảo-Tâm thấy anh vợ có sắc giận liền xen vô mà nói rằng:

— Vợ tôi nó tính quấy mà cũng có chỗ phải đó anh hai. Anh xét lại đó mà coi, nếu anh về ở với chỉ, thì nằm không cũng có của cho mà ăn; thân anh đã sung sướng mà anh em lại gần-gủi với nhau được nữa.

— Té ra dượng cũng vậy nữa sao?

Thầy Đàng trả lời có mấy tiếng rồi nằm day mặt vô vách mà ngủ, không thèm nói chi nữa hết. Thằng Được với con Liên không hiểu vì cớ nào mà nhà tốt vợ đẹp mà thầy không thèm, nên ngó nhau rồi cũng dắc nhau mà đi ngủ.

Rạng ngày có lái buôn lúa ở lối xóm dọn ghe bạn đi Bến-tre mua lúa đặng chở về Chợ-lớn mà bán. Thầy Đàng thừa dịp ấy mới xin quá giang mà đi Bến-tre. Khi thầy ôm đờn dắc hai đứa nhỏ ra khỏi nhà, thầy liền nói với chúng nó rằng: « Tao không dè sấp đó là đồ tiểu-nhơn. Tao nói thiệt, đến chết tao cũng không bước chơn về đó nữa. Mà ngày nào tao có chết bây cũng đừng cho chúng nó hay làm gì ».

Đêm rằm tháng giêng, bóng trăng tỏ chói trời Nam vằn-vặt, dòng nước xanh tràng sông Trước minh-mông. Từ vàm Kỳ-hôn xuống tới mỏm Tam-lạch, trời trời nước nước ê-hề, trăng dọi, gió đùa, mặt nước lao-xao mà lại rạn-ngời coi như thể vàng trôi bạc chảy. Cách một khoản xa xa mới có một chiếc thuyền buồm trương, chèo xếp, thả giữa dòng để cho nước xuôi gió thuận đưa đi. Hai bên sông cây cỏ im lìm, một giây lâu mới nghe tiếng trống trở canh văng-vẳn.

Chiếc ghe của thầy Đàng ra khỏi vàm Kỳ-Hôn rồi thì bạn lái đều ngủ hết, duy còn có một chú đà-công ngồi phía sau tay nắm lèo, tay cập bánh, nhắm giọt nước mà thả linh đinh; đêm khuya khoản vắn, gió mát trăng trong, anh ta hứng cảnh động tình nên cất tiếng mà nói thơ Lục-vân-Tiên nghe inh ỏi. Thầy Đàng nằm trong mui lặn-lẻ đương suy đi xét lại những thế tục nhơn tình, bổng nghe tiếng đà-công nói thơ, thầy ngứa nghề, liền lồm-cồm ngồi dậy lấy cây đờn cò mà đờn theo đặng giải cơn buồn chút đĩnh. Chú lái với hai đứa nhỏ đương ngủ nghe tiếng đờn cũng dực mình thức dậy, rồi ngồi nghe chơi vui vẻ vô cùng. Chú lái muốn để cho bạn nghỉ ngơi cho yên, nên không kêu, chú mới bổn thân đốt đèn nhúm lửa rồi nấu nước trà cho thầy uống.

Đà-công nói thơ một hồi rồi nghỉ. Thầy Đàng uống nước rồi mới biểu thằng Được lấy đờn kìm mà hòa với thầy, còn con Liên thì ca theo. Chú lái tuy là người lam lụ làm ăn, xưa nay ở nhà làm ruộng thì mảng sợ mạ tiêm lúa háp, ngồi ghe đi buôn thì mảng lo bán đắt mua may, chớ chưa biết thú vị phong lưu là thể nào, nhưng mà chú ngồi nghe đờn ca một hồi rồi tâm thần bể-nghễ, mày mặt ngáo-ngơ; nếu lúc ấy ai cắc cớ hỏi chú vậy chớ đờn ca như vậy mà hay dở thể nào, thì chắc chú nói nghe thì là hay, mà sao trong lòng ngần ngại bưng-khuân, dường như thương ai nhớ ai, khó mà nói rõ ra cho được.

Con Liên ca mệt thì lấy đờn tranh mà đờn, nhường lại cho thằng Được ca đủ bài bản hết. Chú lái lấy làm đắc ý, mà chú đà-công cũng rất vui lòng. Thầy Đàng hồi đầu hôm nằm lặn lẽ nghĩ đến việc đời thì buồn thầm, mà chừng thầy đờn cho hai đứa nhỏ ca một hồi rồi thầy quên hết những chuyện xưa, sắc mặt hân hoan, tấm lòng nhàn lạc,

Ghe xuống tới Bến-tre, thầy Đàng tạ ơn chú lái rồi ôm đờn dắc hai đứa nhỏ lên bờ tìm nhà ông Phán Cầm là bạn học thuở nhỏ mà thăm. Ông Phán Cầm thấy thầy thì mừng rở vô cùng.

Thầy dòm nhà ông Phán thấy chưng dọn hực-hở, tôi tớ rần-rần, vợ con lòa-lẹt, thầy nghĩ đến cách lập nghiệp của người giúp việc quan thì thầy có ý cười thầm. Nhưng mà anh em hồi nhỏ học một trường, yêu mến nhau mà đã lâu rồi không có dịp gặp nhau, nên thầy không nỡ chiết báng nhau, thầy mới hỏi thăm gia đạo coi ông Phán làm ăn lợi hại thể nào cho biết. Ông Phán nghe hỏi đến việc nhà nên đắc ý bèn nói thiệt rằng từ khi ông đổi lại Bến-tre đến nay kể đã hơn mười năm rồi, lúc ban đầu thiệt ông chẳng được khá cho lắm, song mấy năm sau đây dân sự quen biết ông nhiều, rồi thì bạc tiền vô như nước, ngày nào ông cũng kiếm chác được năm mười đồng, mà nếu gặp mấy vụ lớn thì ông lại có tới năm ba chục. Ông Phán tỏ việc mình rồi mới hỏi thăm thầy Đàng. Thầy thấy ông Phán lấy tình thiệt mà đải mình lại có ý muốn tỏ cái lòng nhàm chán thế-tục của mình cho ông Phán biết, nên cũng không giấu giếm, bèn thuật hết các việc của mình cho ông Phán nghe.

Ông Phán nghe thầy Đàng nói hết đầu đuôi rồi, trong bụng có hơi chê thầm rằng thầy không biết thừa thế, nhưng vì anh em thương nhau, nay mình được khá còn anh em mình nghèo, nếu không giúp nhau thì sợ miệng thiên-hạ họ cười mình bất nghĩa, bỡi vậy cho nên ông Phán mới cầm thầy ở lại đó, trước là anh em sum hiệp với nhau cho vui, sau nữa ông kiếm người học đờn cho thầy dạy, khỏi đi đâu cực khổ.

Cô Phán là một người đàn-bà hay chìu theo ý chồng, mà cô lại có tánh ham nghe đờn nghe ca, có bạn hát cải-lương nào lại hát tại Bến-tre, hễ hát mấy đêm thì cô đi coi đủ mấy đêm, dầu ca hay ca dở, dầu tuồn trưng lớp luân-thường thuần mỷ, hay là diển hồi phong-tục suy đồi, cô cũng chẳng cần miễn là nghe tiếng đờn dọng ca thì cô vui chẳng kể chi lớp lan tuồn tập. Cô nghe ông Phán nói thầy Đàng đờn cây nào cũng tươi, còn hai đứa nhỏ đứa nào ca cũng giỏi thì cô có ý mừng thầm, chừng nghe nói thầy Đàng chịu ở mà dạy đờn thì cô lấy làm đắc ý lắm. Cô sợ thầy Đàng ngại ngùn không ở lâu, nên ông Phán đi hầu thì cô ở nhà bải buôi tiếp đải thầy rất ân cần.

Chiều thứ bảy ông Phán dọn tiệc mời mấy ông mấy thầy trong tĩnh đến ăn uống chơi, rồi thầy Đàng với hai đứa nhỏ đờn ca, thì khách ngồi nghe chẳng ai mà chẳng khen ngợi. Bữa sau có năm sáu thầy đến xin học đờn, lần lần rồi con nhà giàu rải rát cũng đến xin học. Thầy Đàng ban đêm thì dạy đờn, còn ban ngày hễ ông Phán đi hầu rồi thì ở nhà thầy dạy con Liên với thằng Được học chữ, lại dạy cách cư xử với người đời, nhứt là thầy khuyên hai trẻ ở đời phải giữ gìn danh-dự cho vẹn toàn, thà làm người nghèo hèn mà phẩm-giá được cao, chớ đừng có làm người giàu sang mà chịu chúng vày bừa khinh bỉ.

Thầy Đàng ở tại nhà ông Phán Cầm trót ba năm, vợ chồng ông Phán cũng vui vẽ luôn luôn như ngày mới đến. Thằng Được tuy ăn no mặc ấm, lại mấy thầy thấy nó bặt thiệp thường hay cho nó tiền mà xài chơi, nhưng mà có đêm nó nằm nhớ đến ba Thời thì nó chứa chan giọt lụy. Ông Phán có một đứa con trai còn học ngoài Hà-nội, nên trong nhà chăng có trẻ nhỏ đặng bậu bạn cho vui, túng thế nó phải chơi với con Liên, tuy con gái chơi không được vui, song gần gủi nhau nhiều ngày rồi lần lần yêu mến nhau cũng như anh em ruột.

Bữa nọ ông Phán xin phép nghĩ 10 ngày đặng về Biên-hòa mà thăm cố hương. Cô Phán ở nhà với thầy Đàng câu chuyện vản, cách đứng ngồi coi có ý lả-lơi, thầy lấy làm bất bình bèn giả chước đi Mỏ-cày thăm bà con, thầy để hai đứa nhỏ ở lại, còn thầy xách hoa-ly xuống tàu đi mất. Ông Phán đi Biên-hòa về hai ba ngày rồi thầy mới trở về. Thầy ở đó được nửa tháng nữa rồi thầy mới nói với ông Phán để cho thầy qua Trà-vinh chơi ít bữa. Ông Phán tưởng thầy đi ít bữa rồi trở lại nên không cầm cọng làm gì. Thầy Đàng đi từ giả mấy người học đờn thì họ tiển hành mỗi người đôi ba chục đồng, trong túi thầy cọng cũng được hơn một trăm rưởi.

Thầy Đàng sợ vợ chồng ông Phán nghi thẫy đi luôn không trở lại, rồi cầm thầy thì khó cho thầy thoát thân, bỡi vậy thầy đem theo có vài cái áo, vài cái quần, với ba cây đờn mà thôi, còn bao nhiêu thầy gói mà gởi lại hết. Thầy từ tạ vợ chồng ông Phán rồi dắc hai đứa nhỏ xuống tàu đi Trà-vinh, những người học đờn với người quen biết theo đưa thầy chật nức.

Khi tàu mở dây lui ra khỏi bến rồi thì thầy ngồi chống tay ngó vô mé sông mà suy nghĩ việc đời. Cách một hồi thằng Được với con Liên xẩn bẩn lại ngồi một bên thầy, thầy bèn day lại mà nói với thằng Được rằng: « Nầy con, xưa nay thiên-hạ họ thường khinh bỉ mấy thầy đờn, họ kêu thầy đờn là bợm bải. Thầy không hiểu vì cớ nào mà thầy đờn lại chịu tiếng nhơ như vậy. Nay thầy mới hiểu nếu thầy đờn mà không biết giữ danh giá ắc chẳng khỏi mang nhơ đó con ».

Thằng Được nghe nói không hiểu ý thầy bèn hỏi rằng: « Thưa thầy, tại sao mà thầy nói vậy? »

Thầy Đàng vấn thuốc hút rồi nói tiếp rằng: « Phàm đàn-bà con gái phần nhiều đều ưa nghe đờn. Mà tiếng đờn của Annam thì là déo-dắc rỉ-rả, nghe ra bắt thương, bắt nhớ, bắt cảm, bắt động tình, bỡi vậy cho nên ngón đờn tươi chừng nào thì càng làm cho đàn-bà con gái dễ mê chừng nấy. Nếu làm thầy đờn mà không chánh tâm, không trọng nghĩa, thì thiếu chi dịp làm cho bọn quần-xoa mất tiết mất trinh. Mà xưa nay bọn thầy đờn có bao nhiêu người được chánh tâm, biết trọng nghĩa? bỡi vậy cho nên mang tiếng bợm bải cũng phải chớ nào không. Thầy coi con còn nhỏ mà ngón đờn đã tươi rồi, chắc chừng con khôn lớn cây cò với cây kìm của con chẳng ai ăn được. Vậy con phải nhớ lời thầy dặn, nếu ngày sau con có nghề nghiệp nào khác thì con đừng có dạy đờn; ví bằng con không có nghề, con phải ra làm thầy đờn thì con phải ráng mà chánh tâm trọng nghĩa cho lắm mới được?

Thằng Được ngó con Liên mà cười chúm chím rồi day lại hỏi thầy Đàng:

— Mình đi Trà-vinh đây rồi chừng nào trở về nhà ông Phán vậy thầy?

— Đi luôn chớ không trở về nữa.

— Sao vậy thầy?

— Nếu trở về đó sợ có ngày tao phải mang nhục.

— Nếu vậy sách với áo quần thầy còn để lại đó thầy bỏ hết sao?

— Để kiếm chỗ ở yên rồi tao sẽ viết thơ mượn ông Phán gởi qua.

Đến hai giờ chiều tàu súp-lê nghe inh ỏi. Trên cầu tàu Trà-vinh thiên-hạ lao xao, kẻ chực rước bà con, người hỏi thăm bậu bạn. Phía trong xe-kéo đậu sấp hàng ngay bót, bọn xa-phu chạy lăn xăn mời khách lên xe. Chú bếp đứng giữa cầu tay cầm roi mây, miệng hỏi giấy thuế thân, vinh mặt châu mày, coi oai nghi lẩm liệt.

Thầy Đàng xách hoa-ly bước lên cầu, ngoắc một tên xa-phu lại mà trao cho nó, biểu xách đem để trên xe, rồi thầy vói xuống tàu mà lấy mấy túi đờn và vịnh cho hai đứa nhỏ leo lên. Thầy bịch khăn đen mặc áo dài lược-bược, mà lại gặp dịp lộn xộn, nên rủi sút rớt hết một chiếc giày hàm-ếch xuống dưới kinh. Lúc thầy đương lụi-đụi đó chú bếp đứng giữa cầu lại kêu: « Ê! ông già kia, trình giấy thuế thân ra coi nào! » Thầy nghe, nhưng mà mắc lộn xộn với chiếc giày nên không trả lời. Chừng hai đứa nhỏ lên xong rồi, thầy rút chiếc giày còn lại đó trao cho con Liên cầm, rồi dắc nhau đi lại xe. Lúc đi ngang qua chú bếp thì thấy chú đương xét giấy thuế thân một người Khách-trú thầy mới đi luôn. Chú bếp dòm thấy bèn kêu trở lại mà hỏi rằng: « Sao không trình giấy thuế thân, trốn đi đâu đó? » Thầy nghe dọng vô lễ thì giận lắm, nhưng vì thầy biết luật-phép, thầy sợ trái phép nước, nên không dám đôi co. Thầy mở bốp lấy giấy thuế thân đưa cho chú bếp xem; chú bếp trợn mắt ngó thầy lườm-lườm, còn thầy thì liếc ngó ngang, bộ khinh bỉ lắm. Chú bếp mở ra coi rồi trả giấy lại cho thầy, mà khoát tay biểu đi, bộ tịch thiệt là xấc xược.

Thầy đương giận trong lòng, mà chừng đi lại gần tới xe, thầy lại nghe tiếng la hét om-sòm. Thầy day lại thì thấy chú bếp lại cầm roi mà đánh bổ trên đầu một người trai chừng 25. 26 tuổi, mặc quần vải đen cũ, áo vải trắng cực, coi bộ thì biết là một nông-phu quê-mùa dốt nát ở trong làng. Thầy thấy vậy lấy làm bất bình, dằn lòng không được, bèn bỏ mấy túi đờn chạy lại giựt roi mà nạt rằng: « Mầy ngan quá! Mầy có phép nào mà được đánh người ta? Như người ta có tội thì bắt giải người ta đến Toà-bố hoặc Toà-án cho quan phân xữ, chớ sao mầy được dóc roi trên đầu người ta vậy? »

Chú bếp đã ghét sẵn thầy Đàng rồi, chừng thấy thầy là người vô cang mà nhảy ra binh vực như vậy thì càng giận hơn nữa, nên bỏ tên dân quê-mùa ấy, day lại thộp ngực nắm áo thầy mà kéo đi. Thầy vùng vẫy không chịu đi, lại la om-sòm biểu chú bếp phải buông ra. Chú bếp không thèm nghe, cứ việc kéo xển thầy đi. Thằng Được thấy việc chẳng lành thì bối rối trong lòng, còn con Liên thì cập mắt ướt-rượt. Những người có mặt tại đó đều đứng ngó trân trân, không ai nói tiếng chi hết.

Thầy Đàng vùng vẩy không được, túng thế phải đi theo chú bếp. Thầy và đi và day mặt lại kêu thằng Được mà nói rằng: « Được, con để hết đồ lên xe kéo rồi dắc em đi theo đây. » Thằng Được lấy túi đờn để lên xe với cái hoa-ly rồi biểu xe kéo đi.

Chú bếp buông áo mà nắm tay thầy Đàng dắc đi trước, kế đó thì thằng Được nắm tay con Liên mà đi theo, sau nữa thì cái xe-kéo chở đồ. Đi đến cữa bót, chú bếp dắc thẳng thầy vào bót, còn con Liên thằng Được với cái xe-kéo thì ở ngoài đường. Hai đứa nhỏ ngồi dựa lề đường mà ngó chừng vô bót, không biết việc lành dữ thể nào, nên trong lòng lấy làm lo sợ, cứ nhìn nhau hoài chớ không dám hó hé. Cách một hồi bổng nghe tiếng ông Cò la hét om-sòm, rồi cũng nghe tiếng thầy Đàng trả lời, song nói tiếng Tây nên hai đứa nhỏ không hiểu. Tên xa-phu ngồi vấn thuốc mà hút, lại lầm bầm nói rằng: « Ông Cò nầy oai lắm, lôi-thôi đây đố khỏi bị ổng. » Hai đứa nhỏ nghe nói như vậy lại càng sợ hơn nữa.