Trang chủ Viện

Cay đắng mùi đời — Hồ Biểu Chánh

Cay đắng mùi đời (phần 1)

Chương 2 / 8

CAY ĐẮNG MÙI ĐỜI

Ai đi đường Chợlớn xuống Gòcông, hễ qua đò Bao-Ngược rồi lên xe chạy ra khỏi chợ Mỹ-lợi, tới khúc quanh, thì sẽ thấy bên phía tay trái, cách lộ chừng ít trăm thước, có một xóm đông, kêu là Xóm-Tre, nhà ở chật, cái trở cữa lên, cái day cữa xuống, tre xanh kịch bao trùm kín-mít, ngoài vuông tre thì ruộng bằng-trang sấp liển từ dây. Qua mùa mưa cây đượm màu, ruộng nỗi nước, thì trông ra chẳng khác nào cù-lao nằm giữa sông lớn.

Đến nửa tháng năm, trời mưa dầm dề ngày nào cũng như ngày nấy. Chiều bữa nọ, trận mưa mới tạnh, bóng mặt trời chói chói phía bến đò, trong xóm nhà nhúm lửa nấu cơm chiều khói lên ngui-ngút; tre níu nhau mừng trời mát lá dủ phất phơ. Ngoài đồng náo nức nông-phu; bạn cày thá di tiếng vang vầy, công cấy hát hò hơi lảnh lót. Dưới sông Bao-Ngược ghe chài chở lúa trương buồm rồi thả trôi theo giọt nước, chiếc nào chở cũng khẩm lừ. Trên lộ Cây-Dương xe ngựa đưa người nút-ních chạy chậm xì, tiếng lục-lạc nhỏ khua xa xa nghe như tiếng nhái.

Dưới cuối xóm, phía mặt trời lặn có một cái nhà lá đã nhỏ mà lại thấp, muốn vô nhà qua cữa phải cúi đầu. Dựa bên nhà có một cái chuồng vịt, tuy xấu nhưng mà sạch, nên không hôi cho lắm. Trước sân thì ướt át, có một đám rau đắng đất không trồng mà mọc, dường như tỏ dấu người ở trong nhà chẳng biết ngọt buồi. Còn sau hè thì có hai hàng chuối xơ rơ, chớ không có một bụi tre, bỡi vậy ở một xóm mà khác mấy nhà trong xóm.

Trong nhà im-lìm vắng-vẻ, chỉ có mấy con gà giò kiếm ăn chéo chéc dưới sân, với một con chó vàng ốm, nằm dựa xó cữa lim-dim như buồn ngủ. Cách một lát con chó vùng đứng dậy ngoắt đuôi, mấy con gà dực-mình chớp cánh chạy vô buồng, còn ngoài bờ có một đứa trai nhỏ, chừng tám chín tuổi, ở truồng ở trần, thủng thẳng lùa một bầy vịt vô sân, sau lưng có một con heo đen ột ệch đi theo lấm lem lấm luốt. Vô tới sân con heo đứng dựa đám rau đắng ngoắt đuôi mà ngó vô nhà, còn đứa nhỏ thì chạy lăn xăn chận bầy vịt mà nhốt.

Lúc thằng nhỏ đương đóng cữa chuồng vịt thì con chó thủng-thẳng bước ra ngoắt đuôi mừng rồi lim cẳn lim tay, coi như hình tiếp rước. Thằng nhỏ vổ trên lưng con chó vài cái rồi đi lại chỗ khạp nước để trước cữa đứng mà kêu heo: « Quắn, quắn ột! Quắn ột, ột, ột..... » Con heo núc ních đi lại, thằng nhỏ mới lấy gáo múc nước trong khạp xối mà kỳ rửa bùn đất sạch sẽ rồi lùa vô nhà.

Lo cho heo vịt xong rồi, nó mới trở lại chỗ khạp nước nữa. Con chó chạy theo đứng xẩn bẩn bên chưn. Nó múc nước xối tắm, con chó sợ nước đổ ướt lông nên nhảy trái chạy vô nhà đứng ngó. Thằng nhỏ thấy vậy tức cười ngất rồi nói rằng: « Sao chạy đi? Ra đây tắm với tao chơi mà! »

Thăng nhỏ đứng tắm mặt mày sáng rở, da trắng, thịt săng, hai bàn tay ngón tròn mà dài, đầu cạo chừa chóp tóc xuống khỏi ót, hình dạng nhắm coi thì chẳng kém chi con nhà sang giàu, nhưng mà vì bỡi ở trong chốn lâu hạn bần cùn nên dầu ngọc cũng phải lu, dầu vàng cũng mất nước.

Con chó vàng thình lình trong nhà vụt chạy thẳng ra sân, thằng nhỏ ngó theo thì thấy ngoài bờ có một người đàn-bà xâm xâm đi vô, nó liền la lớn « má về » rồi buông gáo chạy ra nắm tay mừng rở mà dắc vô. Người đàn-bà nầy trạc chừng 34 tuổi, áo xăn ngang, ống quần vo tới đầu gối, nước da không đen không trắng, mặt tròn, chơn-mày rậm, mình mẩy ướt loi ngoi, sau lưng có giắt một cây nọc cấy, trên đần bịch trùm khăn vải trắng, ngoài đội thêm một cái nón lá dừa, đi vô vừa tới sân, mắt liếc ngó chuồng vịt rồi hỏi thằng nhỏ:

— Con cho heo ăn rồi hay chưa vậy con?

— Chưa, má à! tôi mới tắm rồi đuổi vô nhà đó đa.

— Vịt về đủ hay không, con?

— Tôi nhốt rồi mà tôi quên đếm.

Thằng nhỏ nói chưa dứt lời liền chạy lại chuồng vịt, còn người đàn-bà thì đi thẳng vô nhà thay áo quần. Một lát thằng nhỏ ở ngoài nói: « Đủ 9 con, má à. » Người đàn-bà ở trong buồng trả lời: « Được ơi! thôi con tắm rồi bận quần bận áo kẻo lạnh lắm con » Thằng nhỏ nói: « Tôi tắm rồi. »

Mẹ con bận áo quần xong rồi thì trời đã chạn vạng tối, ngoài bụi chuối nhái kêu chót chét, dựa xó hè dế đất ngâm nga. Mẹ thì đi nhúm lửa rồi vo gạo nấu cơm, còn con thì lấy cám sú cho heo ăn. Cơm chín mới đốt đèn dọn ăn, tuy có một dĩa rau với vài con cá sặc nhỏ, mà mẹ con đói bụng nên ăn coi ngon lành, cũng như người ăn chả phụng khô lân. Lúc ăn cơm người đàn-bà ấy liếc ngó thằng nhỏ hoài, coi cập con mắt thì biết trong lòng thương nó lắm, song chẳng hiểu vì cớ nào bữa ấy hễ ngó con rồi day mặt chỗ khác lại có sắc buồn. Ăn cơm rồi gài cữa tắt đèn mẹ con dắc nhau vào buồng mà ngủ.

Người đàn-bà nầy là Lê-thị-Thời, có một người anh thứ hai tên là Lê-văn-Tiết, chị ta nhằm thứ ba, nên từ khi có chồng cho đến nay trong xóm kêu là ba Thời. Chị ta mồ côi cha mẹ, lúc còn nhỏ thì ở đợ cho ông cả trong làng, đến chừng được 19 tuổi, có tên Trần-văn-Hữu ở xóm Cầu-Mống, cũng con mồ côi, ở với chú mà làm ruộng, thấy chị ta giỏi-giắn mới cậy mai đi nói mà cưới. Vợ chồng ở với nhau được 2 năm, người chú mới cất cho một cái nhà lá nhỏ tại đầu Cầu-Mống đặng ra ở riêng mà làm ăn. Tuy tên Hữu có tánh lổ mảng, ăn nói không chừng, song vợ chồng ở với nhau cũng thuận-hòa, mướn được một mẩu ruộng rồi, vợ chồng gia công mà làm, làm ruộng nhà rồi lại đi cày cấy, nhổ mạ, gặt lúa mướn cho người ta nữa, buông dầm cầm chèo, không chịu ở không, bỡi vậy cho nên năm nào trong nhà cũng có dư được năm bảy chục giạ lúa.

Vợ chồng ở với nhau đến 5 năm mới sanh được một đứa con gái. Thời chẳng may nên con nhỏ nuôi được mới 4 tháng rồi nó chết. Vợ chồng buồn rầu thối chí hết muốn làm ăn, mà nhứt là tên Hữu nhớ con khóc hoài, tính trả ruộng đặng đi làm mướn, chớ không chịu lo cày cấy nữa. Ba Thời năn-nỉ khuyên lơn hết sức mà chồng không nghe lời, làm mãn mùa rồi mới trả ruộng lại cho chủ mà đi chèo ghe mướn.

Chồng đi khỏi, ba Thời ở nhà một mình nuôi vịt nuôi gà, đi xúc đi tác, rồi đem đổi gạo mà ăn cho qua ngày. Một đôi tháng chồng về một lần, mà về thì về thăm một ngày một buổi rồi đi, chớ không cho vợ một cắt nào, mà coi bộ lại quạo-quọ nữa. Có một lần tên Hữu về ba Thời năn-nĩ khuyên chồng ở nhà, dầu nghèo nàn cực khổ đủ vợ chồng hủ-hĩ cũng vui; tên Hữu nổi cộc bèn nạt rằng: « Mầy không bằng lòng thôi thì lấy chồng khác đi, hay là về ngoài anh mầy mà ở, đừng có nói nhiều chuyện lắm vậy. » Nói rồi bận áo bỏ ra đi nữa.

Cách sáu bảy tháng sau, ba Thời nghe người ta nói chồng mình đã có vợ khác bên Cần-Đước và đã dắc nhau xuống Cầnthơ mà làm ruộng. Chị ta nghe chồng bạc-bẻo thì phiền nảo vô cùng, vào ra quạnh-quẻ hết muốn làm ăn, sớm tối thở-than khó cầm giọt lụy. Nhà một ngày một nghèo, hai mái dột hết không có tiền mua lá mà lợp lại, vô thưa với chú chồng thì ổng hiểu: « Thằng chết vầm đó nó không thương con, thôi con bỏ nhà về ngoài anh con mà ở, rồi con muốn lấy chồng khác thì lấy, chớ chú biết liệu làm sao bây giờ. »

Ba-Thời đã sẵn ý phiền chồng, nghe chú chồng nói xuôi xị như vậy lại càng buồn thêm nữa, nên giao nhà cho chú chồng rồi gói áo quần trở về Xóm-Tre mà nương-náu với anh. Tuy chồng bạc-bẻo thì phiền, nhưng mà chị ta vẩn cũng còn thương hoài, chẳng hề tính lấy chồng khác, nên về ở với vợ chồng Lê-văn-Tiết gần một năm, ngày lo làm công việc, tối nằm mảng đợi trông, thầm vái van cho chồng nghĩ bụng trở về, đặng cho cá nước sum vầy, dầu cực khổ cũng cam tâm mà chờ vận. Trông đà mỏi mắt, mà chồng chẳng thấy về, ba Thời thối chí hết muốn làm ăn nữa.

Ba Thời ở với anh được một năm, kế có chú Tích là người gốc ở Xóm-Tre, song mấy năm nay lên Chợlớn làm ăn, nay có bà con trong họ muốn bán ruộng của ông bà lưu lại nên kêu chú về đứng giấy. Nhơn dịp ấy chú dắc vợ con về thăm trong làng, tiện bước ghé thăm luôn hai anh em tên Tiết. Thím Tích thấy ba Thời thì liền hỏi thăm việc chồng con rồi khuyên ba Thời đi theo mình lên Bình-Tây ở mà vá bao cho nhà máy xay lúa. Ba Thời đương buồn chồng cuồng trí, nên nghe biểu như vậy liền nói với anh và chị dâu mà đi. Theo thế thường tình chị dâu em chồng chẳng mặn nồng chi cho lắm, nhưng mà vợ tên Tiết thấy ba Thời vô duyên bạc phận chồng bỏ bơ vơ thì đem lòng thương, nên không muốn để cho ba Thời đi, mà vì bỡi tên Tiết thấy em ngày lơ-lững tối thở-than, muốn cho em đi xa ít tháng đặng giải khuây, nên không nỡ cản.

Vợ chồng chú Tích ở một cái chòi nhỏ tại Bình-Tây, thuộc phía sau nhà-máy thổi. Ngoài mé sông đi dọc theo đường hẻm dựa nhà máy, đi mút tấm vách tường nhà-máy phải băng ngang qua một miếng đất trống, mả mồ lúp-xúp, cây-lức u-du mọc tàn-lan, lại còn phải đi vòng theo mé vũng rau muống-biển mọc đầy, rồi mới tới nhà chú Tích. Vợ chồng ở đây làm mấy năm cũng đủ ăn, chồng thì vác lúa, vợ thì vá bao, còn con gái, được 15 tuổi, tên là con Thiện, thì coi nhà nấu cơm vá áo.

Ba Thời lên ở với vợ chồng chú Tích, mỗi ngày đi theo thím Tích mà vá bao, chẳng phải là vì thấy mỗi tháng ăn uống rồi còn dư được năm ba đồng bạc mà hết buồn, thiệt là vì ở xứ lạ không thấy người quen, mà nhứt là nhờ thím Tích hay kiếm chuyện nói cho vui, nên ba Thời lần lần khuây lảng. Tuy vậy mà cũng chẳng có khi nào mà ba Thời tính tới sự cải giá, tự nguyện rằng dầu chồng chẳng tưởng
mình cũng giữ cho trọn tiết với chồng.

Có đêm trời mưa rỉ-rã, gió thổi lạnh lùng, ba Thời nằm nhớ đến chồng thì dầm-dề giọt lụy, thầm tiếc rằng chớ chi mà con còn sống, dầu chồng có bỏ thì hủ-hỉ với con, cũng còn có chỗ vui, ngặt vì chồng đã biệt mất mà con cũng không còn, nên mới đau-đớn chốn cô-phòng hiu-quạnh.

Ba Thời ở với vợ chồng chú Tích được một năm, bữa nọ vá bao đến tối, thím Tích đi về trước, còn ba Thời mắc qua chợ Bình-Tây mua ít con khô lóc đem về ăn, nên thủng-thẳng về sau. Về đến miếng đất trống ở phía sau nhà máy, lúc ấy đã 7 giờ tối, lại nhằm lúc mùng bảy mùng tám, nên trăng không được tỏ, ba Thời đương đi thình-lình nghe trong bụi lức dựa gò mã có tiếng con nít khóc. Ban đầu chị ta tưởng ma nhát nên ngực nhảy hồi-hộp, mặt mày tái xanh, muốn bỏ mà chạy. Song chị ta nghĩ trời mới tối không lẻ có ma, mà dầu có ma thiệt đi nữa, đây cũng đã gần nhà, không đủ lo sợ, nên chị ta đứng lại nghe cho chắc coi thiệt phải con nít khóc hay không.

Ba Thời đứng lóng nghe tiếng khóc một hồi rồi nín. Chị ta vừa muốn bỏ đi, lại nghe khóc nữa. Chị ta mới làm gan lần-lần đi vô chỗ bụi lức coi vì cớ nào mà có con nít khóc trong đó. Đi gần tới thì tiếng khóc lại càng lớn hơn nữa. Chị ta và đi và phập-phồng, chưn thì bước, mà mắt thì ngó chừng nhà. Tới bụi lức, thiệt quả thấy có một đứa con nít nằm ngữa mà khóc, chung quanh có bao một cái mền tua trắng. Chị ta ngó chừng nhà chú Tích thì thấy có đốt đèn, nên trong lòng bớt sợ, bèn cập mấy con khô vô nách rồi thò tay ôm hết và cái mền và đứa nhỏ mà đem về.

Ba Thời bước vô nhà, vợ chồng chú Tích thấy có bồng con nít trum-trủm trước ngực thì chưng-hững, không biết bồng con của ai. Ba Thời bèn thuật hết đầu đuôi việc mình xí được đứa nhỏ lại cho vợ chồng chú Tích nghe, rồi mới biểu thím Tích đem đèn lại đặng có dở đứa nhỏ ra coi bao lớn, con trai hay là con gái, có đau ốm chi hay không.

Ba Thời ngồi ghé phía đầu váng, thím Tích thì cầm đèn, còn chú Tích với con Thiện thì đứng ngó, ba Thời dở mền ra thì thấy một đứa con trai, chừng năm sáu tháng, da trắng, tóc đen, môi son, miệng rộng, cườm tay như ống chỉ, bắp chưn như củ cãi, đầu đội một cái mủ kết bằng lụa màu bông phấn, mình mặc một cái áo đầm cũng bằng lụa màu bông hường, ở truồng mà cẳn có mang một đôi vớ bằng chỉ-lên màu lông két, còn cổ lại có đeo một sợi dây chiền vàng nhỏ. Đứa nhỏ bị chói đèn nên nheo nheo con mắt một hồi rồi bú tay, ngó đèn không khóc la chi hết.

Ba Thời thấy nó trắng trẻo ngộ nghĩnh mà chẳng bịnh hoạn thì mừng húm, liền bồng mà hun trơ hun trấc rồi nói rằng: « Con ai như vầy mà đem đi bỏ cho đành! Mình xí được, thôi, mình để nuôi chơi. »

Chú Tích liền cảng rằng: « Không được đâu em! Qua coi tướng mạo áo mủ của thằng nhỏ nầy, qua chắc nó là con nhà giàu, có lẽ khi họ mướn vú nuôi rồi có việc chi đó vú nó bỏ lẩy. Nếu em giấu mà nuôi, qua sợ ngày sau lậu việc em mang tội chớ không chơi đâu. » Ba Thời nói: « Người ta bỏ mình xí được thì mình nuôi, như họ có biết họ đến họ đòi thì mình trả, chớ có tội gì... Ý! mà tôi nghi có lẽ khi con gái nhà giàu chữa hoang đẻ lạnh, sợ để nuôi xấu hổ nên họ đem đi bỏ đây chớ gì. Tôi tưởng tôi nuôi được mà, có sao đâu mà sợ. »

Chú Tích nghe nói ngồi ngẩm-nghĩ một hồi, rồi khuyên ba Thời có muốn nuôi, song phải đi cớ cò bót hay, làm như vậy dầu ngày sau có ai mất con họ tìm ra mối, mình mới khỏi tội. Thím Tích cho lời của chồng nói đó là hữu-lý, nên dọn cơm ăn rồi hối ba Thời qua bót mà cớ.

Lúc ngồi ăn cơm, ba Thời để thằng nhỏ nằm một bên thì nó khóc như ác-là. Ba Thời thấy tội nghiệp ngồi ăn không ngon, liền vạch áo cho nó bú thử vú da, thì nó hết khóc mà lại núc mạnh lắm. Thím Tích thấy vậy mới nói rằng: « Thằng nhỏ nầy nó khát sữa nên nó khóc chớ gì. » Ăn cơm rồi ba Thời mượn thím Tích dỗ giùm đứa nhỏ đặng đi với con Thiện ra quán mua một hộp sữa bò về khuấy cho nó uống đở. Thằng nhỏ uống sữa no-nê, nằm lật chơi một hồi rồi ngủ chẳng la khóc chi nữa.

Rạng ngày ba Thời thức dậy cho thằng nhỏ uống sữa no rồi, mới mượn thím Tích dắc đường đặng bồng nó qua bót mà cớ. Chị ta thưa hết đầu đuôi việc mình xí được đứa nhỏ cho ông cò nghe, rồi nài xin ông cò cho đứt cho mình nuôi, chớ đừng có bắt lại.

Ông cò nói không được, bỡi vì ổng không biết nó là con của ai, nên ổng không dám cho phép. Ba Thời năn nĩ hết lời, ông cò thấy vậy mới cho phép đem về nuôi, song ổng dặn nếu có ai đến nhìn, có bằng cớ đủ, thì phải trả lại cho người ta. Ba Thời nghe nói như vậy thì dụ-dự không muốn nuôi, nghĩ vì mình nghèo bây giờ có nuôi thì phải mua sữa bò mà cho bú, đã thất-công mà còn tốn của, nếu một ngày kia phải trả lại cho người ta thì nuôi có ích chi đâu. Ông cò nói rằng đứa nhỏ nầy chắc là con nhà giàu, hễ cha mẹ nó đến nhìn thì ổng sẽ biểu cho tiền mà đền công dưỡng-dục không có sao mà sợ. Ba Thời trong lòng quyết xin đứt mà nuôi, nên dục-dặc hoài, ông cò thấy vậy mới móc túi đưa cho chị ta một đồng bạc, biểu đem về mua sữa bò cho nó bú, mãn một tháng phải bồng nó qua bót rồi ổng sẽ liệu cho.

Ba Thời bồng về, ban đêm thì chị ta dỗ ngủ, còn ban ngày thì mượn con Thiện ở nhà cho uống sữa, săn sóc giùm, mỗi tháng cho nó 5 cắt bạc, đặng cho chị ta có đi vá bao mà kiếm tiền. Nuôi được ít bữa chị ta nhai cơm mà đút, tập đặng cho nó biết ăn lần lần, đêm nằm thường vái đừng có ai đến nhìn đặng cho chị ta nuôi làm con mà hủ-hỉ cho quên nỗi chồng bạc-bẻo. Trọn một tháng thằng nhỏ ăn chơi mạnh giỏi như thường, không có chún-chứn òi-ọp chi hết.

Đúng tháng ba Thời bồng nó qua bót trình cho ông cò xem, thì ổng nói ổng đã có chạy giấy ra ngoài bót-cái mà không thấy ai đến nhìn, vậy như chị ta có muốn nuôi thì đem về mà nuôi, còn như không muốn nuôi thì trả cho ổng đặng ổng gởi vô nhà mồ-côi, hoặc ổng cho nhà-phước. Ba Thời tuy không chắc nuôi có bền hay không, song thấy đứa nhỏ dễ thương nên không đành rức mà giao cho người khác, bỡi vậy đứng ngẩm nghĩ một hồi rồi xin với ông cò để cho mình nuôi. Ông cò mới viết một cái giấy, ký tên đóng con dấu hẳn hòi, rồi đưa cho ba Thời, biểu giữ cái giấy ấy, như ngày sau ai có nhìn thì đem tới bót rồi trình cho cò họ xem, khỏi ai trành tròn được.

Ba Thời được cái giấy của cò thì mừng rở vô cùng. Tối bữa ấy tính đặt tên cho thằng nhỏ mà không biết đặt tên gì, bàn luận với vợ chồng chú Tích một hồi rồi nhứt định mình xí được nó, thôi đặt tên nó là thằng Được. Nuôi thằng nhỏ hơn một năm nó biết đi và biết nói chút đỉnh rồi, chẳng may chú Tích đau không mấy ngày mà chết. Thím Tích bị chồng đau túng rồi, rồi kế chồng chết tốn hao nữa, nên trong nhà nghèo khổ phải tính lấy chồng khác mà nuôi tấm thân.

Thím Tích có chồng rồi dắc con về ở theo chồng ngoài chợ-Đuổi. Ba Thời một mình bơ vơ, nên phải bồng con dan ghe trở về Xóm-Tre mà ở với anh. Mấy năm ở Bình-Tây tiện tặn để dành được 35 đồng bạc. Lê-văn-Tiết ở nhà nhờ ruộng trúng mấy năm cũng có dư được vài ba thiên lúa, làng lại cữ làm chức Phó-thôn, thấy em về thì mừng rở, song thấy có thằng Được thì trong lòng sanh nghi. Ba Thời thuật việc thình-lình mà gặp thằng Được lại cho anh chị nghe, rồi đưa giấy của ông cò cho anh chị coi, thì Lê-văn-Tiết tin bụng em nên không hồ nghi chi nữa, nhưng mà vợ tên Tiết với xóm giềng ai thấy thằng Được nay đã được mười tám mười chín tháng, còn ba Thời bỏ làng mà đi tính đã chẳn hai năm, thì cũng đều nghi cho ba Thời đã có chửa hoang bốn năm tháng, sợ ở trong làng lậu việc, nên mới kiếm cớ mà đi, bỡi vậy cho nên ai cũng xầm-xì, ai cũng nói thằng Được là con của ba Thời đẻ.

Ba Thời chịu tiếng nhơ lấy làm oan ức, nhưng mà nghĩ vì lòng ngay dầu người không thấu chớ trời phật cũng hay, bỡi vậy chị ta giã làm tai điếc mặt ngơ quyết nuôi thằng Được sớm khuya hũ-hỉ mà lấp bớt cái mạch sầu, không màn miệng mối lưỡi lằn, chi sá hơi hành dọng tỏi. Chị ta đi thăm chú chồng thì nghe nói chồng đi biệt không thấy về; chị ta mới mượn của anh thêm vài chục đồng bạc nữa, rồi mua cây lá cất sơ-sài một cái nhà nhỏ mà ở gần với anh chị.

Ba Thời ở Xóm-Tre trọn 7 năm trời, đến mùa cấy thì đi cấy, đếm mùa gặt thì đi gặt, hết mùa làm ruộng thì xúc tôm bắt cá đem bán kiếm tiền; trong nhà lại nuôi gà, nuôi vịt, nuôi heo, nuôi đến lớn rồi đem đi bán. Mẹ con hẫm-hút, tuy là cực khổ, song cũng chẳng đói khát bữa nào. Còn người trong xóm, hồi ba Thời mới về, thì xúm-xích dị-nghị nhiều lời, đến chừng ở được đôi ba năm, việc đã nguôi-ngoai, thì cũng không còn ai chê cười chi nữa. Có người thấy chị ta tánh hiền nết tốt, lại để ý mến yêu, nên đã không cười sự chồng đi khỏi ở nhà có con, mà lại còn kiếm cớ mà nói rằng thiệt thằng Được là con nuôi, bỡi vì mặt mũi tay chơn chẳng giống chị ta chỗ nào hết. Thế tình ấm lạnh nghĩ đến ngậm ngùi, khi thương dầu ngược cũng nói xuôi, lúc ghét dầu thiệt ngọt buồi cũng cho là cay đắng.

Trót mấy năm trường, tuy nhà nghèo cực khổ, tuy chồng bỏ buồn rầu, nhưng mà ba Thời hễ thấy mặt thằng Được thì hớn hở vui cười, dường như thằng nhỏ nầy nó có phép chi mầu nhiệm, dầu buồn thấy nó thì hết buồn, dầu mệt thấy nó thì quên mệt.

Hôm nay chị ta đi cấy về ngồi ăn cơm với con sao lại ngó nó mà buồn, chừng ăn cơm rồi sao lại tắt đèn đi ngủ liền, chẳng chuyện vản chi hết? Thằng Được tuy còn thơ ngây chưa hiểu việc đời cho lắm, song nó từ nhỏ cho đến bây lớn, vào ra hôm sớm chỉ thấy có một mình ba Thời mà thôi, hồi nhỏ thì đút cơm rửa đít, khi đau thì ôm ấp ẵm bồng, lúc rảnh thì đưa vỏng hát hò, đêm lạnh thì trùm mền hun hích, mẹ thương con, con triếu mẹ, mẹ làm mệt thì con nói đỏ-đẻ cho mẹ vui lòng, con đi chơi thì mẹ chạy kiếm lăn-xăn sợ con dại dột. Thằng Được vì lòng thương mẹ nên hễ mẹ đi khỏi thì ở nhà nó ngóng trông, chừng mẹ về thì nó chạy ra mừng, rồi lại thường liếc coi ý mẹ buồn vui cho biết. Bữa ấy nó thấy mẹ nó không được vui thì nó cũng buồn thầm, nó muốn hỏi coi vì cớ nào mà mẹ nó buồn, song nó nghĩ chắc là tại đi cấy mệt, rồi lại bị trời mưa lạnh, nên biểu đi ngủ thì nó đi, nó không hỏi đến.

Thằng Được vào trong giường nằm với mẹ, chẳng hề trăn trở, mà mẹ nó cũng im-lìm. Gần hết canh một mà nó cũng chưa ngủ, trong trí cứ nhớ việc nầy, tưởng việc nọ hoài, nhớ hồi xế trời mưa ở nhà trông mẹ, rồi lại thương mẹ lạnh lùn, nhớ hồi tối đi lùa con heo về gần tới sân gặp con rắn mối chạy ngang dực mình dực mẩy. Nó đương thao-thức thình lình nghe mẹ nó cất đầu lên rồi day ra ngoài giường mà hĩ mủi. Nó biết mẹ nó chưa ngủ, song nó cũng cứ nằm im-lìm. Cách một hồi mẹ nó lại day qua ôm nó mà hun hai ba cái, nước mắt dín ướt mặt nó, nó mới hay là mẹ nó khóc. Nó làm bộ như ngủ nằm ninh luôn, song nó lấy làm buồn bực vô cùng, không hiểu có việc chi mà mẹ nó lại khóc thầm như vậy.

Thằng Được nằm buồn một hồi rồi ngủ quên. Đến hừng sáng mẹ nó kêu nó thức dậy ăn cơm rồi dặn nó coi chừng nhà đặng có đi cấy. Ngày ấy nó không vui chơi, không lấy đất liện cu-xanh, không bắt chó làm ngựa mà cởi như mấy bữa khác. Nó cứ ngồi dựa cữa mà ngó ra ngoài ruộng hoài, suy tới nghĩ lui coi tại sao mà mẹ buồn rầu đến đổi đêm nằm lụy ứa, rồi lại hỏi thằm rằng không biết tại sao mà trẻ
nhỏ trong xóm như thằng Cam, con Lụa, thằng Phát, con Tiền, đứa nào cũng có mẹ mà lại cũng có cha, còn phận mình đây sao mình có một mẹ mà thôi, còn cha đi đâu mà thuở nay không thấy mặt. Nó nhớ tới sự mẹ nó khóc thầm thì nó buồn, mà chừng nó nghĩ tới việc nó không có cha, thì trong lòng nó tại càng áy-náy, tưởng thầm rằng hay là tại không có cha nên mẹ mới buồn rầu đây chăng.

Đến trưa ba Thời nghỉ cấy, tạm về một chút mà thăm nhà, thấy con nằm chèo-queo trên váng bộ mặt buồn xo; mà thằng Được liếc coi thì thấy mẹ nó cũng chẳng vui chi đó. Ba Thời dòm heo, coi vịt, hỏi con có lấy cơm nguội mà ăn hay không, rồi bỏ ra đi, chớ không hỏi coi tại sao mà con không chạy đi chơi. Đến tối trở về thay áo thay quần rồi đi nấu cơm, thấy con cũng chẳng vui cười như trước song cũng chẳng hỏi tới. Chừng cơm chín dọn ra ăn, thằng Được ngó mẹ nó một hồi rồi hỏi rằng:

— Tại sao mà từ hôm qua đến bữa nay má buồn dữ vậy má?

— Có giống gì đâu mà buồn.

— Có việc gì đó, chớ sao lại không có.

— Có việc gì đâu?

— Không có sao hồi hôm má khóc?

Ba Thời nghe hỏi tới đó thì chưng-hững, nên ngó con rồi lặn thinh không chịu trả lời. Thằng Được thấy vậy không muốn hỏi riết tới làm chi, nên và ít miếng cơm rồi kiếm chuyện khác mà nói rằng:

— Nầy má! thằng Cam, thằng Phát, đứa nào cũng có tía nó hết, còn tía tôi là ai đâu má há?

— Tía con đi khỏi gần về đa.

— Đi đâu vậy má?

— Đi làm ruộng dưới Cầnthơ.

— Tía tôi đi hồi nào đâu mà sao từ nhỏ đến bây giờ tôi không thấy mặt lần nào hết vậy má?

— Đi lâu lắm mà! Đi hồi mới đẻ con ra lận.

— Sao má biết tía gần về?

— Có người ta nói.

— Ai nói đó má?

— Ai nói cũng vậy, con tra hạch làm chi, con.

— Tía tôi như tía thằng Cam vậy phải hôn má?

— Không. Tía con nhỏ hơn mà cao hơn.

— Sướng a! Tía tôi về đây tôi biểu tía tôi mua thép uốn lưỡi câu rồi tôi đi câu với tía tôi chơi. Nầy má, hôm trước thằng Phát đi câu với tía nó, nó câu được một con cá trê lớn quá, má à.

Ba Thời nghe con nói chừng nào thì trong lòng buồn chừng nấy, nên ngồi rưng-rưng nước mắt không nói chi hết. Ăn cơm rồi mẹ con gài cữa tắc đèn đi ngủ. Ba Thời nằm im-lìm, còn thằng Được cũng nằm ninh khe không cụt cựa. Vừa hết nửa canh một, trong ngoài đều lặn lẻ, duy có tiếng dế kêu déo-dắc với gió thổi lá lào-xào mà thôi. Thằng Được nằm, cặp mắt còn lim-dim, thình lình nghe có tiếng người đi động đất rồi bầy vịt trong chuồng la rộ, chó vàng trước cữa sủa rân, ba Thời miệng thì hỏi « ai đó? », tay thì kiếm hộp quẹt đặng đốt đèn. Ngoài có tiếng người đáp rằng: « Tao chớ ai, mở cữa chút, có thẳng nó về đây. »

Thằng Được nghe tiếng thì biết tiếng cậu hai nó là Lê-văn-Tiết, lại nghe nói « có thẳng nó về đây » tuy không biết thẳng là ai, song nó nghi là tía nó về, nên lật đật chạy ra đặng thấy mặt cha một chút. Nó vừa bước ra tới bộ váng để giữa nhà thì má nó đã mở cữa rồi. Nó đứng dựa đầu váng mà chờ thì Lê-văn-Tiết ở ngoài bước vô trước, rồi có một người lạ mặt, đầu bịch một cái khăn nhiểu trắng, mình mặc quần lảnh đen lưng xanh, áo bà-ba lụa trắng dài phủ mỗng tròn, tay cập một cây dù máy cán cong như mỏ dằn xay lúa.

Ba Thời để chông đèn trên váng giữa, rồi qua bên cái chỏng để phía tay trái mà ngồi, Lê-văn-Tiết ngồi dựa cái đèn, còn người lạ mặt ấy để cây dù trên váng rồi cũng ngồi dựa một bên đó. Thằng Được đi lần lại ngồi một bên má nó, cẳn thì thò mà gảy con heo quắn nằm dưới sàn, con mắt thì ngó người lạ mặt đó trân trân rồi day qua liếc má nó. Hai người vô nhà rồi lặn thinh không nói chi hết, một lát ba Thời mới hỏi người lạ mặt ấy rằng:

— Mình về bao giờ?

— Về mấy bữa rày.

— Về mấy bữa rày ở trong chú hay là ở đâu?

— Ở trỏng chớ ở đâu.

Hai người hỏi nhau có mấy lời kế Lê-văn-Tiết đứng dậy mà nói rằng: « Để tôi về tôi lùa trâu vô chuồng, dượng ba nó nghĩ rồi sáng mai lại nói chuyện chơi nghé. »

Lê-văn-Tiết dở cữa ra về rồi, Trần-văn-Hữu với ba Thời ngồi lặn thinh, không nói chuyện chi nữa hết. Cách một lát ba Thời vỗ đầu thằng Được rồi biểu nho nhỏ rằng: « Khuya rồi, thôi đi ngủ đi con, ngồi làm chi đó. » Thằng Được leo xuống đất mà đi vô buồng, chưn thì đi mà mắt thì ngó chừng tên Hữu, trong lòng trông coi cha có hỏi đến mình chăng, nào dè tên Hữu đã không thèm nói tới, mà lại liếc ngó theo nó, bộ mặt hầm hầm, xem thấy phát sợ. Thằng Được đi vừa khỏi cữa buồng bổng nghe cha nó hỏi má nó rằng: « Con của mầy đó phải hôn? »

Ba Thời thở dài rồi nói nho-nhỏ rằng: « Để rồi tôi nói hết chuyện đó cho mình nghe. »

Thằng được leo lên giường nằm lặn thinh, nhắm mắt giả đò ngủ, mà trong trí nó cứ tưởng tới người lạ mặt đó hoài, không biết người ấy có phải là cha nó hay không. Ban đầu nó chắc là phải, bỡi vì hồi chiều mẹ nó có nói cha nó gần về, mà người nầy ở đâu lạ, thuở nay nó không biết, nếu không phải là cha nó, sao cậu nó dắc lại, rồi má nó kêu bằng « mình » lại hỏi « về bao giờ ». Nghĩ như vậy rồi nó lại nghĩ mà nếu người đó là cha nó sao coi bộ không thương nó, mà lại ngó nó lườm-lườm dữ vậy. Nó vái thầm cho người đó đừng phải là cha nó, bỡi vì nó thấy nó sợ quá, nếu có cha mà cha như vậy chi bằng không có cha, ở một mình với má như thuở nay vậy còn vui hơn.

Ở ngoài im-lìm, một lát nó nghe có người lấy cây gài cữa, rồi lần lần đi vô buồng. Nó lén mở mắt hi hí mà dòm thì thấy má nó lấy cái gối rồi ôm đi ra ngoài nữa. Nó không hiểu vì cớ nào má nó không vô mà ngủ, còn ở ngoài cũng không nói chuyện mà thức đốt đèn làm chi cho hao dầu. Nó đương suy nghĩ như vậy liền nghe hai người nói chuyện với nhau. Ban đầu má nó hỏi:

— Mấy năm nay mình đi làm ăn khá hay không?

— Sao lại không khá.

— Khá sao không về, bỏ tôi ở nhà cực khổ hết sức vậy?

— Về làm giống gì?

— Như mình đi mình tính không về, thôi hồi đó dắc tôi đi theo, chớ sao lại bỏ tôi đi lưu dóng ở nhà vậy.

— Mầy ở nhà sướng hòng chết, còn ức nỗi gì.

— Mình đừng có nói vậy. Sướng giống gì. Tôi biết hết; mình mắc dắc con vợ bé bên Cần-Đước đi với mình, nên không chịu dắc tôi đi chớ gì.

— Ừ, tao dắc vợ bé đi đa, mầy làm sao tao?

— Nói chuyện mà nghe vậy chớ ai làm sao mình được.

— Tao đi, mầy ở nhà mầy có được một đứa con, còn ức-hiếp nổi gì nữa mà nói.

— Mình tưởng thằng nhỏ đó là con của tôi đẻ hay sao? Trời ôi, hèn chi hổm nay tôi nghe mình về trong Cầu-Mống mà mình không chịu ra kiếm mà thăm tôi. Mình đừng có nghi như vậy mà tội nghiệp cho cái thân tôi. Vậy chớ hổm nay mình ở trong nhà chú không có nói chuyện tôi xí được thằng nhỏ đó rồi tôi xin với ông Cò đặng tôi nuôi, lại cho mình nghe hay sao? Mình bỏ tôi mình đi hơn 9 năm nay tuy mình bạc bẻo chớ chẳng hề khi nào tôi dám phụ cái lòng mình bao giờ. Nay mình về nếu mình nghi quấy như vậy thì là uổng công tôi chờ đợi bấy lâu nay lắm.

— Tao về chú có nói chuyện cho tao nghe đủ hết, chú nói mầy nghèo khổ nên về ở với anh hai rồi sau đi theo vợ chồng chú Tích lên Bình-Tây mà làm mướn. Mầy xí được một đứa nhỏ mầy để mầy nuôi đặng hũ-hĩ giải buồn. Tao ra ngoài nầy từ hồi xế đến bây giờ tao ở đằng nhà anh hai, thì ảnh cũng nói y như lời của chú nói vậy, ảnh lại có đưa áo quần nón vớ của thằng nhỏ đó cho tao coi nữa.

— Phải, nhà tôi trống trải, mà tôi lại hay bỏ nhà mà đi làm ăn, nên tôi gởi đồ đó đằng nhà ảnh mượn ảnh để trong giường hộc cất giùm. Ảnh có đưa giấy của ông Cò cho mình coi hay không?

— Có.

— Nếu vậy, sao mình còn nghi nỗi gì?

— Không nghi sao được.

— Tại sao mình nghi, đâu mình nói cho tôi nghe thữ coi.

— Đàn-bà, chồng đi làm ăn xa, ở nhà khi không mà có con, làm chồng ai lại không nghi.

— Tôi nói con tôi xí được tôi để tôi nuôi chớ không phải con tôi đẻ. Trời ôi! oan ức cho tôi biết chừng nào.

— Thuở nay người ta có xí được thì xí được tiền bạc, chớ có ai mà xí được con bao giờ.

— Vậy chớ chú nói mình không đủ tin hay sao?

— Chú thương mầy còn ghét tao, nên chú nói theo mầy hơi nào mà tin.

— Mình nói chú binh tôi, vậy chớ còn anh hai đó mình cũng không tin ảnh nữa hay sao?

— Ảnh là anh ruột mầy chớ phải là anh tao hay sao. Mà chú với anh hai ở nhà còn mầy lên ở trên Bình-Tây, mầy làm giống gì mà có một đứa con đó, chú với anh hai làm sao rõ được.

— Mắc chú Tích chú chết rồi, thôi mình lên mình hỏi thữ thím Tích coi. Bây giờ thím có chồng khác ở ngoài Chợ-đuổi đó.

— Thím quen với mầy chớ có quen với tao đâu mà hỏi.

— Thiệt tức lắm! Mình nói không phải con tôi xí được, vậy mình không coi cái giấy của ông Cò đó sao?

— Giấy gì ở đâu mầy kiếm đem về mà gạt bà con, ai có biết chữ Tây đâu mà coi.

Ba Thời nghe nói nghẹn-ngùn, ngồi khóc ngay chớ không nói được nữa, khóc một hồi rồi chắc lưỡi than rằng: « Trời đất ôi! oan ức cho tôi biết chừng nào! Xin trời phật soi xét giùm cái lòng ngay của tôi, kẻo tôi chịu tiếng oan như vầy tội nghiệp lắm mà! »

Trần-văn-Hữu nằm bên váng hút thuốc không thèm nói chi hết. Thằng Được còn thức nằm nính thinh trong buồng. nghe hết đầu đuôi mọi việc, tuy nó còn thơ ngây, chưa đủ trí khôn, nên không hiểu những lời gay gắt nghi ngờ của tên Hữu làm đau đớn lòng dạ, làm nhuốt nhơ danh tiết của ba Thời là dường nào, song nó biết tên Hữu không phải là cha nó thì nó chẳng có chút chi buồn, còn nó biết ba Thời là mẹ nuôi chớ không phải là mẹ ruột, thì trong lòng nó lại xốn-xang bức-rức vô cùng, không biết ba Thời còn thương nó nữa hay không, không biết cha ruột ở đâu, tại sao mà đẻ nó rồi không chịu nuôi, lại bồng mà bỏ cho người ta xí được. Nó vừa suy nghĩ tới đó lại nghe tên Hữu tằn hắn rồi nói rằng:

— Mầy nói tao kiếm chuyện nói oan cho mầy, chớ thằng nhỏ đó không phải con của mầy đẻ; thôi thì mầy đuổi nó đi đâu nó đi đi.

— Con nít mới tám chín tuổi mình biểu đuổi nó đi, nó ra khỏi nhà biết làm giống gì cho có cơm mà ăn; làm như vậy mình không sợ tội hay sao?

— Tám chín tuổi còn nhỏ gì nữa. Đi ở với người ta coi gà giữ vịt mà ăn cơm không được hay sao? Như nó có làm biếng thì nó đi xin nó ăn, mầy tưởng nó dại nó nằm mà chịu chết đói há?

— Nuôi nó từ hồi mới sáu bảy tháng đến bây giờ mến tay mến chưn, ai nỡ lòng nào mà đuổi nó đi cho đành.

— Mầy nói nó không phải con của mầy đẻ, sao mầy thương nó dữ vậy?

— Con nít của họ đàng xóm mình thấy mình còn thương thay, huống chi là con mình nuôi.

— Nếu mầy nói đuổi nó đi thì tội nghiệp, thôi thì kiếm người ta mà cho nó cho họ nuôi, chớ mầy để nó ở trong nhà tao thấy tao ghét lắm, không biết chừng có bữa tao nổi giận đây tao đập nó chết đa.

— Thôi, để thủng-thẳng tôi nói với anh hai chị hai rồi tôi gởi nó ở đẳng.

— Tao không chịu vậy đâu. Mầy cho ai mầy cho đứt đi, đặng họ đem nó đi cho khuất con mắt tao, chớ mầy gởi đằng anh hai thì cũng như mầy để ở nhà đây vậy, gởi làm giống gì.

Ba Thời ngồi khóc tấm tức, không biết tính lẽ nào, muốn cho chồng hết nghi đặng vợ chồng sum hiệp lần gỡ mối thảm sầu, mà cũng thương thằng Được nên không nỡ phân-ly, vì công nuôi cực nhọc. Ba Thời khóc than rồi nói rằng:

— Thôi để thủng-thẳng rồi tôi sẽ tính.

— Nếu mầy muốn ở đời với tao, thì mầy phải rức thằng nhỏ đó mới được. Còn như mầy không chịu, thôi thì tao đi, để mầy ở nhà mà nuôi nó.

— Tôi nói thiệt nó là con của tôi xí được tôi nuôi, nên tôi mới đặt tên nó là thằng Được. Mình không thương tôi mình muốn tính sao mình tính lấy.

— Té ra thằng nhỏ đó mầy đặt tên Được hay sao? Mầy là một con khốn nạn thiệt! Mầy oán tao rồi mầy lấy tên ông nội tao mà đặt tên con mầy hả?

— Trời ôi! Tôi có biết tên ông nội mình là tên gì đâu! Tôi nào có oán thù mình mà mình nói vậy. Mình hỏi thăm họ mà coi, mình bỏ tôi mình đi mấy năm nay, tôi buồn rầu thì buồn rầu trong lòng, chớ có khi nào mà tôi nói nặng đến mình một tiếng chi đâu.

Tên Hữu nằm lặn thinh một hồi rồi nói rằng: « Nếu mầy thương nó mầy không nỡ đem nó mà đi cho họ, thôi để rồi tao dắc nó tao cho họ giùm cho. »

Ba Thời ngồi khóc thúc-thích, chẳng bao lâu thấy tên Hữu nằm nghiêng qua bên kia, gát tay ngang qua tráng rồi ngủ ngáy pho-pho. Ba Thời mới bưng cái đèn đem để trên ghế mà tắc rồi nằm với con. Thằng Được thấy dạng ba Thời vô liền ôm mà nói nhỏ rằng: « Má đừng có đuổi tôi đi nghe hôn má. Tôi thương má lắm, để tôi ở với, đừng đuổi tôi tội nghiệp. » Ba Thời day qua ôm con, ừ hai ba tiếng nhỏ nhỏ, rồi kề mặt mà hung, nước mắt chảy chàm-ngoàm. Mẹ con ôm nhau chặt cứng, một hồi rồi thằng Được ngủ quên

Tên Hữu về ở với vợ coi bộ không tính đi đâu nữa nhưng mà cũng không tính làm công việc chi hết, ăn rồi cứ nằm ngay mà ngủ, ngủ đã thèm thức dậy thì vát dù đi dạo xóm. Chẳng mấy ngày mùa cấy đã dứt, ba Thời không biết làm việc chi, nên mỗi bữa hễ nước ròng sát rồi thì lội xuống rạch Băng mà xúc tôm bắt cá đem về bữa nào có ít thì để ăn, bữa nào có dư thì sai con bưng lại đàng xóm mà bán.

Tên Hữu vài ngày thì biểu làm thịt một con gà luột rồi xé phay mà uống rượu, nửa tháng biểu làm thịt một con vịt đặng nấu cháo mà ăn. Ba Thời bổn tánh tiện tặn, bấy nay nuôi gà nuôi vịt thì trông cho nó lớn đặng bán lấy tiền mua gạo, chớ chẳng khi nào dám làm thịt mà ăn bao giờ, nay chồng biểu thì xót ruột bầm gan, song vì bỡi muốn làm cho vừa ý chồng, nên biểu sao nghe vậy chớ không dám cãi. Đã vậy mà mỗi lần làm gà làm vịt tên Hữu lại đòi uống rượu, ba Thời phải sai thằng Được xách ve lại quán mà mua chịu, khi năm bảy su, khi một cắt, tên Hữu về mới hơn một tháng mà và tiền rượu và tiền thuốc hút, ba Thời thiếu nợ đằng quán tính đã hơn 4 đồng bạc rồi.

Mà tên Hữu chẳng những là làm tốn hao cho vợ mà thôi, lại còn làm nhọc lòng cho vợ nhiều nỗi khác nữa. Mỗi ngày vào ra thấy mặt thằng Được thì kiếm chuyện rầy rà, hễ thấy nó ngồi chơi thì chưởi rủa van rân nói rằng: « Đồ chó, già đầu rồi mà không biết làm công việc chi hết, thứ đồ như vậy nó chết đâu thì chết cho rảnh nuôi tốn cơm chớ ích lợi gì », còn thấy nó làm công chuyện, hoặc quét nhà, hoặc cho heo ăn, thì lại mắng nhiếc rằng: « Mầy có làm thì làm cho thiệt tình nó, chớ đừng quẹt lọ, làm lấy có đó tao đánh mầy nát đầu đa, nói cho mầy biết ». Thằng Được tối ngày không dám nhích mép hễ thấy mặt cha thì sợ sệt không dám ngó ngay; kiếm công chuyện mà làm hoài, chớ không dám ở không, ăn cơm thì ăn sau chớ không dám ăn chung. Còn ba Thời tuy thương con mà không dám hở môi, vì sợ nói ra chồng nó bắt quanh bắt quẹo rồi sanh rầy rà hơn nữa.

Chẳng có bữa nào mà thằng Được khỏi bị bạt tai hai là khỏi nghe chưởi rủa, mà cũng chẳng có đêm nào ba Thời nằm ngủ mà chẳng khóc thầm. Ba Thời chẳng những là thấy chồng ăn ở khổ khắc với con nên buồn rầu mà thôi, mà nhứt là thấy chồng không tính làm việc chi cứ nằm nhà mà ăn hoài, làm cho mình phải mắc nợ mắc nần thì trong lòng lo sợ hết sức.

Bữa nọ, tên Hữu ngồi ăn cơm uống rượu coi bộ vui, ba Thời mới mở lời hỏi thữ coi chồng có tính mùa tới kiếm ruộng đặng mướn mà làm hay là tính làm việc chi khác. Tên Hữu nghe hỏi châu mày lặn thinh một hồi rồi đáp rằng:

— Tao bây giờ không muốn làm ăn chi nữa hết.

— Nếu không làm thì của đâu có mà ăn.

Tên Hữu lặn thinh không trả lời. Ba Thời mới nói tiếp rằng:

— Mấy năm nay mình đi khỏi tôi ở nhà làm lắc-lẻo, đi cấy đi gặt, nuôi vịt nuôi heo, tuy không phải là giàu có chi, song nhờ trời nuôi nên khỏi đói khát. Mà thiệt cũng vì bỡi mẹ con tôi hẩm hút, ăn cực ở khổ, nên không tốn hao bao nhiêu, nay có mình về đó thêm một miệng ăn, mà lại tốn tiền rượu trà trầu thuốc nữa; nếu mình không chịu làm việc chi hết, thì chắc là tôi nuôi không nổi. Mình mới về hổm nay mà tôi đã mắc nợ đằng quán hơn 4 đồng bạc rồi. Tôi không biết làm sao mà trả cho họ.

— Ối! mầy đừng có lo mà.

— Không lo sao được. Thuở nay tôi nghèo chớ tôi không chịu nhơ bợn của ai hết. Hồi tôi mới về cất nhà tôi có mượn của anh hai vài chục đồng bạc, tôi lo hết sức, tôi ráng nuôi một con heo tôi bán trả đủ cho ảnh rồi tôi mới hết lo. Từ hồi đó đến bây giờ tôi không dám vay hỏi của ai nữa. Hổm nay tôi thiếu mấy đồng bạc đằng quán tôi lo hoài ngủ không yên giấc.

— Mầy có con heo đó chi? Bán con heo đó không đủ trả hay sao mà sợ?

— Tôi nuôi heo đặng bán lấy tiền may áo may quần mà mặc, chớ phải tính nuôi đặng bán mà xài hay sao.

— Mầy đừng nói lộn xộn, để đó mặc tao tính cho. Tao biết rồi, trong ý mầy thấy tao về hổm nay tốn cơm của mầy nên mầy phiền chớ gì. Vậy chớ mầy nuôi thằng nhỏ đó sao mầy không sợ tốn.

Ba Thời thấy mình nói việc phải quấy mà chồng không biết nghe, lại còn kiếm chuyện nói xóc lại mình như vậy thì buồn trong lòng nên đứng dậy bỏ đi ra sau bếp ngồi mà khóc, chớ không dám nói chi nữa. Thằng Được đương đứng sau hè cho vịt ăn, ngó vô bếp thấy má nó khóc, thì nó cũng ứa nước mắt, song không dám vô mà an ủi.

Qua bữa sau tên Hữu ăn cơm sớm mai rồi liền xách dù ra đi. Ba Thời ở nhà mẹ con mới thong thả mà nói chuyện với nhau. Ba Thời kể hết đầu đuôi việc mình xí được thằng Được lại cho nó nghe; thằng Được tuy còn nhỏ, nhưng mà nuôi dưỡng theo phường lậu hạn, lam lụ nơi chốn cơ hàng, cực ăn mặc rách đã quen rồi, chẳng hề mơ ước đều chi hết, bỡi vậy cho nên nghe ba Thời thuật chuyện của nó rồi thì nó duy sợ ba Thời không nuôi nó nữa mà thôi, chớ chẳng hề để ý tính tìm kiếm mẹ cha hoặc may thân được sung sướng. Ba Thời thuật chuyện rồi liết coi thì thấy con có sắc buồn nên liền nói tiếp rằng: « Thuở nay mẹ không muốn nói chuyện đó cho con nghe là vì mẹ nghĩ con nghe con buồn chớ không có ích chi, bỡi vì mẹ thương con nên dốc lòng nuôi con như con của mẹ đẻ vậy, nếu nói ra sợ con bớt thương mẹ rồi lại sợ con nói bậy nói bạ cha mẹ ruột con hay đến mà nhìn con thì mẹ co tay còn ai đâu mà hủ hỉ. Nay mẹ nói ra đây là tại việc tình cờ làm cho con đã rõ biết ngọn ngành rồi, nên mẹ không lẽ còn giấu con nữa được. Tuy vậy mà mẹ khuyên con chớ nên buồn, ví dầu thế nào mẹ cũng thương con, dầu ngày sau con khôn lớn có tìm được cha mẹ ruột rồi con phụ bạc mẹ đi nữa, mẹ cũng cam tâm chớ không khi nào mẹ phiền trách ».

Thằng Được nghe mấy lời thì nước mắt chảy ròng ròng, trong bụng muốn tỏ rằng dầu ngày sau mình được giàu sang đến bực nào đi nữa cũng chẳng phụ phàn tình mẹ, song không biết nói làm sao cho được, chỉ nói có mấy lời nầy mà thôi: « Con không bạt má đâu mà sợ. Xin má làm sao nói giùm với tía để cho con ở đây với má hoài, chớ đừng có đuổi con tội nghiệp nghe hôn má ».

Thằng Được nói tới đó rồi day mặt ngó ra ngoài đường thì thấy tên Hữu đi xóm về, lại có dắc về một chú chệt nữa. Ba Thời thấy có khách lật đật bước trái vô trong buồng, còn thằng Được sợ ở không cha thấy cha rầy, nên cổi quần cổi áo rồi xách dỏ đi ra mé sông kiếm cá bống-kèo mà bắt. Nó bắt được vài chục con cá nhỏ nhỏ, đến mặt trời gần lặn mới xách dỏ trở về. Nó đứng ngoài sân dòm vô nhà thì thấy cha đương nằm tại bộ ván giữa mà ngủ. Nó lén đi vòng dựa hè ra phía sau xối nước mà tắm, rồi bước vô bếp thì thấy mẹ đương ngồi khoanh tay mặt mày buồn xo. Nó hỏi thăm mới hay tía nó kêu chệt tới hồi trưa đó là kêu coi con heo quắn đặng dứt giá mà bán.

Má nó nói chú chệt đã chịu mua 28 đồng, hẹn đến ngày mai thì chồng bạc mà bắt heo. Thằng Được tuy thương con heo quắn, nhưng mà nghe nói tía nó bán thì nó không dám nói chi hết, lại nghe nói bán tới 28 đồng bạc, thì chắc có tiền, khỏi lại quán mua chịu nữa, nên nó không hiểu tại sao mà má nó buồn.

Sáng ngày sau, mặt trời vừa mới mọc thì thấy chú chệt hôm qua đó đến nhà, mà bữa nay lại có dắc theo một người Annam mập ú, ở trần, tay lại có cầm một cái vòng với một cây đòn. Thằng Được rình coi thì thấy chú chệt đếm giấy bạc đưa cho tía nó rồi thò vòng giựt chưn bắt con heo quắn trói lại khiêng đi. Chệt đi rồi tía nó đưa cho má nó một xấp giấy bạc mà nói rằng: « Đây nầy, mầy lấy 10 đồng đi trả nợ nần gì thì trả đi, còn 18 đồng để tao cất đây cho. » Má nó ngồi khóc không nói chi hết.

Từ khi bán con heo quắn rồi thì tên Hữu ngày nào ăn cơm rồi cũng xách dù ra đi, chừng trở về thì mặt mày đỏ như cắt kè lửa, hơi rượu bay nực nồng. Tên Hữu đi chơi thì thằng Được trong bụng mừng thầm, còn ba Thời lại buồn rầu không muốn nói chuyện. Thằng Được không hiểu vì cớ nào mà tía nó đi chơi má nó lại buồn, đến đêm nọ nó nằm nghe vợ chồng rầy lộn với nhau, ba Thời phiền chồng bán heo lấy 18 đồng bạc bỏ vô lưng hổm nay cờ bạc rượu trà tiêu gần hết, chừng ấy nó mới biết tại như vậy nên má nó buồn bực. Thằng Được tính thầm rằng chớ chi mà mình giàu có thì mình kiếm mua một con heo khác mà cho má mình, đặng má hết buồn, để tía đi chơi, cho mình ở nhà thong thả.

Tên Hữu về nhà ở chẵn hai tháng làm khó cho thằng Được, làm rầu cho ba Thời không biết ngằn nào mà kể xiết. Bữa nọ tên Hữu đi chơi, ba Thời ở nhà lấy quần áo rách đem ra ngồi dựa cữa mà vá, thằng Được xẩn-bẩn ngồi một bên mà thỏ thẻ hỏi chuyện nầy rồi hỏi tới chuyện khác. Trước sân gà vịt vắn teo, trong nhà chỉ còn có một con heo đen nhỏ mới mua bằng bắp cẳn nằm lim-dim dưới sàn với con chó vàng ốm bày sường đi không muốn bước. Ngoài đồng lúa lên xanh kịch, có mấy đám ruộng cấy lúa sớm đà lác-đác trổ bông.

Ba Thời ngồi vá áo mà mặt thì buồn xo, thằng Được hỏi cực chẳng đã phải trả lời, chớ ý không muốn nói chuyện. Đến xế trời chuyển mưa, mây giăng đen mịt, gió thổi ồ ào; tên Hữu đi chơi về lại có dắc về một ông già chừng 50 tuổi với một đứa con gái nhỏ chừng bảy tám tuổi.

Thằng Được vừa thấy cha thì lật đật chạy vô buồng, đứng núp sau vách, rồi kề con mắt chỗ lỗ vách rách mà ngó. Nó thấy má nó chào khách rồi dẹp đồ may đi lấy trầu cau để trên khay cho khách ăn. Nó dòm ông già ấy thì thấy ổng mình mặc một cái áo xuyến dài cũ, trong có áo cổ giữa trắng, dưới mặc quần lảnh đen, đầu bịch khăn be nhiểu đen, chơn đi giày hàm ếch da láng, người vóc lớn, miệng rộng, môi dày, râu thưa mà dài lại bạc hoa râm, tráng cao, mặt dung da mà cặp mắt lớn, đôi chơn mày rậm. Còn con nhỏ đi theo ổng tuy nó mặc một cái áo lụa xanh cũ với một cái quần lảnh đen cũng cũ, nhưng mà da trắng môi son, đầu xước lược cày tóc xuống nửa lưng, mặt mày sáng rở, nhắm coi chẳng kém chi mấy đứa con gái của hương-chức giàu ở trong làng. Thằng Được lại thấy ông già ấy để hai cái bao bằng vải xanh với một cây đờn trên ván gần chỗ ổng ngồi đó, nó biết cây đờn ấy kêu là đờn cò, song nó không hiểu hai cái bao ấy đựng vật gì ở trỏng.

Ông già ngồi vừa yên chỗ rồi thì tên Hữu hỏi vợ rằng: « Thằng Được đi đâu rồi mậy, biểu nó ra biểu chút nào ». Ba Thời chưa kịp trả lời, thì thằng Được trong buồng đà riu-ríu đi ra. Nó đi vừa mới tới đầu bộ ván thì tên Hữu nói với ông khách rằng: « Thằng nhỏ tôi đó! Nó sáng láng quá chớ, ngặt vì tôi nghèo nên không cho nó đi học được, thiệt uổng biết chừng nào. »

Ông già day lại ngó thằng Được rồi thò tay vào túi lấy ra một cập kiến con mắt mà mang vô. Thằng Được đứng dựa bên cái chỏng mà ngó ổng, còn ba Thời tuy đã bước vô cữa buồng rồi, song cũng đứng lại mà ngó chừng, không hiểu ông già nầy ở đâu và có ý gì mà lại đến coi thằng Được. Ban đầu chị ta nghi chồng mình tính đợ con cho ông già nầy, rồi sau chị ta lại nghi ông nầy mất con nên tìm đến mà nhìn. Ba Thời đương nghi nghi ngại ngại, ông già dơ tay ngoắc thằng Được mà biểu rằng: « Lại đây ông biểu chút, con ». Ba Thời nghe xưng ông thì biết ổng không phải là cha thằng Được, tính đứng nán lại mà nghe coi ổng nói chuyện gì. Tên Hữu day vô buồng thấy vợ còn lấp ló xó cữa bèn biểu rằng: « Mầy coi nấu nước rồi bỏ trà chế cho ông thầy ổng uống chơi. »

Ba Thời quày quã đi vô bếp. Thàng Được mắt ngó chừng cha, còn chưn thì đi lần lại gần ông già. Ông già mang mắt kiến ngó nó trân trân, tay vuốt cái chóp của nó rồi hỏi rằng: « Cháu mấy tuổi? » Thằng Được nói nhỏ rằng: « Thưa, tôi 9 tuổi ». Ông già nghiêng tai biểu nói cho lớn một chút. Thằng Được phần thì sợ, phần thì đàm vướn cổ, nên nói lớn hơn, mà nói dọng nghe đặt sệt. Tên Hữu trợn mắt biểu: « Nói cho lớn coi nào! » Thằng Được tằn hắn rồi nói: « Thưa, tôi 9 tuổi ».

Ông già gặt đầu rồi ngó tên Hữu mà nói rằng: « Được, tiếng nó tốt, hơi nó ấm mà lại dài, thằng nầy tập ca được. Mà chú em nó nói lại, chớ nói giống gì mà mắc quá vậy ».

Lúc ấy ba Thời ở trong buồng bước ra. Tên Hữu không trả lời với ông già, lại biểu thằng Được rằng: « Thôi, đi vô trong cậu hai chơi đi, chừng nào tao kêu sẽ về ». Thằng Được không hiểu việc gì, nghe biểu đi chơi thì vưng lời nên lật đật bước ra đi, ba Thời kêu lại biểu rằng: « Con vô nói với mợ hai cho má mượn một nồi trà, con đem về cho má rồi sẽ đi chơi nghe con ». Thằng Được dạ một tiếng rồi đâm đầu chạy tuốt.

Tên Hữu lấy chổi quét cái ghế nghi rồi đi lấy gối bỏ trên ván mà mời ông già nằm. Ông già không nằm lại biểu con nhỏ đi theo đó ngồi trên chỏng mà chơi, rồi day qua hỏi tên Hữu: « Sao, chú em nó tính lẽ nào thì tính phức cho rồi, đặng tôi đi cho sớm ». Tên Hữu đáp rằng: « Không phải bán chác chi mà nói giá cao giá thấp. Hồi trưa tôi vô nhà ông Hương-hộ chơi, tình cờ gặp thầy, tôi thấy thầy ngồi đờn còn con em đây ca theo, nhiệp nhàng ăn rập nên tôi khen. Thầy nói thầy muốn kiếm thêm một đứa con trai nữa thầy nuôi rồi dạy nó đờn ca đặng kiếm tiền cho dễ. Vợ tôi nó có nuôi một đứa con nuôi, mà bây giờ nhà tôi nghèo nhắm nuôi nó tốn cơm chớ không có ích lợi gì. Tôi nghe thầy nói như vậy nên tôi mới tính giao nó lại cho thầy nuôi. Thầy nghĩ lại đó mà coi, vợ tôi nuôi nó từ hồi mới đẻ cho đến bây giờ tốn hao cực khổ biết là bao nhiêu. Nay nó đã được 9 tuổi rồi, từ nầy về sau nhờ cậy nó được, vậy tôi đòi có 20 đồng bạc có phải mắc mỏ chi đâu ».

Ông già lắc đầu rồi đáp rằng: « Con Liên của tôi đây là con mồ côi, nó ở với cô nó, mà cô nó nghèo nên nuôi nó không nổi, tôi gặp tôi xin, cô nó giao cho tôi dắc đi, tôi cho có 10 đồng bạc mà thôi. Nếu chú em nó muốn giao thằng nhỏ cho tôi nuôi đặng tôi dạy học đờn học ca, thôi để tôi trả cho chú em nó cũng 10 đồng. Tôi nuôi nó bây giờ tôi phải tốn công mà dạy nó học, chớ là nhờ nhỏi gì được đâu mà trả tiền mắc ».

Ba Thời ra lấy bình tích tính đem đi súc cho sẵn rồi thằng Được đem trà về có chế nước cho khách uống, bỗng nghe hai đàng nói chuyện như vậy thì đứng chưng-hững, đợi ông già nói dứt lời bèn hỏi chồng rằng:

— Uả, mình tính bán thằng Được hay sao mình?

— Ừ, chớ để nuôi làm gì.

— Tội nghiệp lắm mà! Tôi nuôi nó đã tám chín năm nay, mến tay mến chơn, mình bán cũng như mình cắt ruột tôi vậy đa mình à.

— Con của mầy đẻ đó sao? Nếu mầy chịu thiệt con của mầy đẻ thì tao để cho mầy nuôi, tao không bán.