Trang chủ Viện

Cay đắng mùi đời — Hồ Biểu Chánh

Cay đắng mùi đời (phần 3)

Chương 4 / 8

Cách một hồi nghe trong bót vắn teo, mà không thấy thầy ra. Hai đứa nhỏ đương ngồi trông, bổng có một tên lính trong bót đi ra thấy xe-kéo với hai đứa nhỏ thì hỏi rằng: « Làm giống gì mà ở đây? » Hai đứa nhỏ đứng dậy. Tên xa-phu trả lời rằng: « Hai đứa em nó đi với ông già bị chú bếp bắt hồi nảy, nên ngồi đây mà chờ ổng. » Tên lính nói rằng: « Vậy hay sao? Ông Cò đã dạy giam ông già đó đặng sáng mai sẽ giải lên Tòa, chờ giống gì được mà chờ. Đi đi cho mau, ở đây ông Cò ổng ra ổng thấy ổng rầy đa. »

Hai đứa nhỏ nghe nói thì chết điến trong lòng, nên bắt rưng-rưng nước mắt. Tên xa-phu bèn nói rằng: « Hai đứa bây tính sao bây giờ? Bây có tiền hay không? Thôi, trả tiền xe cho tao đi, chớ bây neo xe tao hoài hay sao? » Thằng Được lấy làm bối rối không biết liệu thế nào. Lúc ở Bến-tre mấy thầy học đờn cho nó tiền, nó ăn không hết, lúc ấy trong lưng nó còn được tám cắt bạc, nên nó trả tiền xe thì được rồi, mà trả tiền xe rồi biết đi đâu, đồ đạt đem chỗ nào mà để. Nó đương lo tính trong lòng, tên xa-phu lại hỏi rằng: « Ở đây bây có bà con quen biết với ai không? Như có thì để tao chở giùm đồ lại đó rồi sẽ trả tiền luôn thể. » Thằng Được ngó con Liên rồi đáp rằng: « Hại quá, ở đây tôi không có quen với ai hết. »

Tên xa-phu châu mày mà hỏi:

— Nếu không có quen, bây giờ ông già bị bắt rồi bây làm sao?

— Để tôi kiếm nhà ở đậu đặng chờ thầy tôi chớ biết làm sao bây giờ.

— Hứ! Nếu không có quen vậy chớ lại đây làm gì? Thôi, bây trả tiền xe phức cho tao đi cho xong.

Thằng Được thò tay vào túi lấy ra một cắt bạc mà đưa cho tên xa-phu. Tên xa-phu vùn-vằn nói rằng: « Húy! được đọt đâu nà, dưới cầu tàu kéo lên tới đây, rồi chờ hồi nảy giờ gần một giờ đồng hồ, trả một cắt sao được? » Thằng Được thấy vậy bèn lấy ra thêm một cắt nữa rồi đưa mà nói rằng: « Tội nghiệp, xin chú thương giùm. Hai đứa tôi có tiền bạc gì đâu. May tôi có vài ba cắt để ăn cơm đỡ. Xin chú chịu phiền lấy hai cắt đây. »

Tên xa-phu lấy hai cắt bạc rồi mới xách hoa-ly với ba túi đờn mà đưa cho hai đứa nhỏ. Nó vừa kéo xe đi, thằng Được kêu mà hỏi rằng: « Nầy chú, không biết đường lại chợ đi ngã nào đâu chú há? » Tên xa-phu biểu đi thẳng trước mặt đó lên đến ngả tư thì quẹo qua tay trái rồi đi riết xuống thì sẽ đụng chợ.

Thằng Được tay mặt xách cái hoa-ly tay trái xách cái túi đờn kìm, còn con Liên tay thì ôm đờn tranh, tay thì xách đờn cò, hai đứa dắc nhau đi theo đường tên xa-phu mới chỉ đó. Hai đứa đi một khúc thì để xuống mà nghỉ tay. Con Liên mới hỏi thằng Được rằng:

— Thầy bị giam như vậy mà không biết có hại chi hay không anh?

— Không sao đâu. Thầy biết nói tiếng Tây giỏi, đến Tòa thầy nói chắc ông Tòa tha liền chớ gì; không biết chừng thầy làm chú bếp đó bị phạt nữa chớ. Ngang quá mà! mới làm bếp mà muốn đánh ai thì đánh.

— Tôi sợ quá anh à.

— Sợ giống gì?

— Hồi tôi thấy chú bếp nắm áo thầy tôi sợ run đó anh.

— Qua không sợ chút nào hết. Qua muốn nhảy vô binh thầy, song qua sợ thầy rầy nên qua không dám.

— Bây giờ mình xuống chợ làm gì? Nếu mình đi đây thầy ra rồi thầy biết mình ở đâu mà thầy kiếm. Tôi tưởng ở lối trước bót đó mà chờ thầy thì tốt hơn.

— Không được đâu. Người ta nói ông Cò đã giam thầy đặng sáng mai giải đến Tòa, thầy ra sao được mà chờ. Bây giờ mình xuống chợ kiếm quán mua cơm ăn, rồi kiếm chỗ gởi đồ chớ xách tồn-tền như vầy bất tiện lắm. Chừng gởi đồ xong rồi mình sẽ trở lên đó mà chờ thầy.

— Tiền đâu mà ăn cơm.

— Qua còn được 6 cắt.

— Vậy sao? Nè, mà thầy ở trong bót chiều nay cơm đâu thầy ăn?

— Qua có tính rồi. Để xuống chợ qua mua bánh mì rồi đem cho thầy ăn.

Hai đứa bàn tính với nhau rồi mới xách đồ đi nữa, đi xuống vừa tới chợ thì nghe đồng hồ trong tiệm rượu đã gỏ bốn giờ. Hai đứa tìm vào một cái quán nhỏ, mua một dỉa thịt xá-xiếu sáu su với bốn su cơm mà ăn. Ăn uống xong rồi mới xách đồ đi kiếm mua một ổ bánh mì 3 su, với một cặp lạp-xưởng, mượn nướng cho chín, rồi xin giấy nhựt-trình gói chung vô một gói. Hai đứa xách đồ đi qua đi lại trước chợ ba bốn lần, dòm coi thiên hạ đều lạ hết, không ai đoái hoài đến mình, nên tính xin gởi đồ ở đậu, mà không biết ai rộng lòng mà dám hỏi.

Đi nghểu-nghến đến năm giờ, thình lình may gặp một người đàn-bà chừng 45 tuổi ăn mặc tầm thường, đầu đội khăn vằn, chơn không có giày guốc chi hết. Người ấy ngó con Liên một hồi rồi hỏi rằng: « Hai đứa bây ở đâu mà nảy giờ tao thấy xách đồ đi nghễu-nghến hoài vậy? » Thằng Được nghe hỏi thì trong lòng chẳng xiết nỗi mừng, nên lật đật thưa rằng: « Thưa thiếm, hai anh em tôi ở bên Bến-Tre đi với thầy tôi, vừa đến đây hồi xế rủi gặp một chú bếp muốn kiếm chuyện hại thầy tôi nên bắt đem về bót rồi ông Cò giam thầy tôi. Từ hồi xế đến bây giờ hai anh em tôi bơ vơ không biết chỗ nào mà nương ngụ ».

Người đàn-bà ấy nghe nói như vậy liền đáp rằng: « Té ra bây đi với ông già gây với chú bếp ngoài cầu tàu đó sao? Tao có nghe mấy đứa xe kéo nó nói chuyện với nhau hồi nảy. Mà bây ở bên Bến-Tre qua đây làm gì, có bà con với ai hay không? »

Thằng Được để hoa-ly xuống đất rồi thưa rằng: « Thưa, không biết thầy tôi có quen với ai hay không, chớ hai anh em tôi thiệt không có quen với ai bên này hết. »

— Uả! nếu bây không quen, bây giờ thầy bây bị giam, bây làm sao?

— Thưa, tôi muốn kiếm nhà gởi đồ và xin ngủ nhờ ít bữa, chờ thầy tôi ra rồi sẽ hay chớ biết làm sao.

Vã người đàn-bà ấy góa chồng có một đứa con gái trạc chừng bằng con Liên, mà cũng trắng trẻo ngộ nghỉn như vậy, năm ngoái rủi đứa con gái đau rồi chết đi, nên từ ấy đến nay rầu buồn thương nhớ hoài. Nay gặp con Liên bổng nhớ đến con, nên đứng nhìn nó một hồi rồi nói rằng: « Nếu hai đứa bây không có quen với ai, thôi thì vô nhà tao mà ở. »

Thằng Được với con Liên bèn xách đồ đi theo người đàn-bà ấy. Ra khỏi chợ, quẹo qua tay mặt đi một khúc xa xa, tới một dảy phố ngói cũ, người đàn-bà ấy ghé vô một căn phố, lấy chìa khóa trong túi ra mở cữa, rồi biểu hai đứa nhỏ vô. Thằng Được dòm coi trong nhà thì thấy ván giường xịch xạt lem luốt, chẳng có vật chi quí mà trong nhà lại có trử xoài, thơm, lớp sắp trên ván, lớp đổ dưới đất. Người đàn-bà ấy thấy thằng Được ngó trước xem sau thì cười mà nói rằng: « Tao ở có một mình, không có ai hết. Tao bán hàng bông ngoài chợ, hễ đi bán thì tao khóa cữa gởi cho lối xóm họ coi chừng nhà giùm. Thôi bây ngồi đó chơi, để tao đi nấu cơm ăn. »

Thằng Được nói rằng nó với con Liên đã ăn cơm rồi; nó mới gởi đồ và để con Liên ở nhà, rồi nó cầm gói bánh mì lạp-xưởng đem xuống bót đặng cho thầy nó ăn. Nó đi tới cữa bót, muốn vô mà không dám, nên ngồi trước đường cứ chong mắt mà ngó vô hoài. Đến chạn vạn tối có một người đàn-bà ở trong bót dắc con đi ra, nó liệu chắc là vợ con lính trong bót nên chạy lại năn nỉ mượn đem bánh giùm vô đưa cho thầy nó ăn. Người đàn-bà ấy thấy thằng nhỏ mà ăn nói dễ thương, nên xiêu lòng mới lấy gói bánh đem vô trong bót.

Thằng Được trở về trong bụng mừng thầm chắc đêm nay thầy khỏi đói. Nó mừng rồi lại nghĩ rằng không biết người ấy lãnh gói bánh rồi mà có đem đưa tới tay thầy hay không, hay là đem vô rồi đưa cho thằng con ăn, thì mình mất tiền mà không ích chi cho thầy hết. Nghĩ như vậy rồi nó vùng tức cười và nó nói thầm rằng: « Ở đời mình chưa chắc người ta làm quấy mà mình nghi cho người ta như vậy thì là mình quấy trước! »

Nó trở về đến nhà thì chủ nhà đương ăn cơm. Nó thuật chuyện gởi bánh cho con Liên nghe rồi con nọ cứ theo hỏi nó vậy chớ thầy bị giam mà có hại chi hay không. Nó nói không hại, mà con nọ cũng cứ theo hỏi hoài. Chủ nhà ăn cơm rồi mới đóng cữa tắc đèn mà ngủ. Đêm ấy hai đứa nó thao-thức hoài ngủ không được bao nhiêu. Trời hừng sáng chủ nhà thức dậy mở cữa rồi sửa soạn gánh xoài với thơm ra chợ mà bán. Hai đứa nhỏ cũng thức dậy rửa mặt rồi dắc nhau đi lại trước cữa bót ngồi mà chờ, coi như ông Cò có giải thầy Đàng qua Tòa thì đi theo mà hỏi thăm.

Hai đứa ngồi chờ đến 9 giờ mới thấy ông Cò trong bót đi ra, kế đó thì thầy Đàng, rồi sau rốt thì chú bếp hôm qua đó, mà chú lại ôm một cuốn sổ, chớ không có cầm roi mây nữa. Con Liên thấy thầy thì nước mắt tuôn dầm-dề. Thầy Đàng thấy hai đứa nhỏ liền hỏi rằng: « Từ hôm qua đến nay bây ở đâu? » Thằng Được thưa rằng: « Thưa, con kiếm nhà họ con gởi đồ và ở đậu. Không sao đâu, thầy đừng lo. »

Ông Cò nghe nói chuyện bèn day lại rầy om-sòm, thầy Đàng cũng trả lời với ổng, song hai người nói tiếng Tây nên hai đứa nhỏ không hiểu nói chuyện gì. Thằng Được nắm tay con Liên dắc đi theo, coi ông Cò đem thầy đi đâu cho biết và có ý muốn hỏi coi hồi hôm thầy có tiếp được gói bánh mì hay không, nào dè hễ đi lại gần thì chú bếp rầy-rà, biểu phải đi dan ra hoài nên hỏi chuyện chi cũng không được.

Qua tới Tòa, quan Biện-lý chưa ra khách. Ông Cò để thầy Đàng với chú bếp ở ngoài, còn ổng vào trong bàn quan Lục-sự mà nói chuyện. Thằng Được thấy vậy mới dắc con Liên men-men đi lại gần. Thầy Đàng có sắc buồn. Thầy kêu thằng Được mà nói rằng: « Ông Cò ổng buộc tội tao đánh lính, mà không hại gì, đến Tòa ai phải quấy sẽ biết. Tao buồn có một đều là tao bị bắt buộc đây tao bỏ hai đứa bây bơ vơ tội nghiệp mà thôi. Đã vậy mà hôm qua lộn xộn tao làm rớt mất cái bóp, bây giờ trong lưng không còn một đồng tiền. »

Con Liên nghe nói càng khóc hơn nữa. Thằng Được tuy trong lòng buồn bực khó chịu lắm, nhưng mà ngoài mặt tỉnh táo như thường. Nó nói cứng cỏi rằng: « Xin thầy đừng có lo cho hai con; con kiếm ăn được không sao đâu mà sợ, miễn thầy ra được thì thôi. Hồi hôm thầy có được ổ bánh mì với cập lạp-xưởng hay không? » Nói vừa tới đó kế ông Cò bước ra. Thầy Đàng gặt đầu rồi đi theo ông Cò vào phòng quan Biện-lý.

Hai đứa nhỏ ở ngoài nghe trong phòng quan Biện-lý nói om sòm một hồi, rồi có một tên lính hầu dắc thầy Đàng ra. Thầy Đàng vừa đi tới chỗ hai đứa nhỏ đứng thì nói rằng: « Quan Biện-lý dạy đem tao vô khám mà giam, đặng mai mốt giải tao qua Tòa cho quan Chánh Tòa xử. Thôi, bây kiếm chỗ xin ở đậu mà chờ tao. Đừng có khóc, vài bữa đây tao ra, không hại gì đâu mà sợ ».

Hai đứa nhỏ nghe nói đứng chết điến trong lòng, cứ khóc rồi ngó theo, chớ không nói chi được hết. Cách một hồi lâu mới dắc nhau về nhà ở đậu đó. Vô đến cữa thì cữa khóa. Chúng nó dắc nhau ra chợ, mua một cắt bạc cơm cá mà ăn, rồi trở về ngồi ngoài cữa than thỉ với nhau, tính tới tính lui, không biết làm sao mua cơm đem cho thầy ăn được.

Đến trưa tan chợ, chủ nhà gánh gánh không đi về. Vô tới cữa thấy hai đứa nhỏ ngồi khóc thì chỉ hỏi thăm, chừng nghe rõ đầu đuôi rồi chỉ mới nói rằng: « Hễ Tòa giam trong khám thì có cơm của nhà-nước, bây khỏi lo. » Hai đứa nghe nói như vậy thì bớt lo, nhưng hễ nghĩ tới phận thầy mắc vòng lao lý thì giọt lụy tuôn rơi, dầu thấy việc chi vui cũng không cười, dầu ăn vật chi ngon cũng không muốn. Chị chủ nhà nấu cơm rồi dọn ra biểu hai đứa nhỏ ăn, thì chúng nó từ chối hoài không chịu ăn, cứ nói ơn cho đùm đậu ơn đã nặng nề rồi, nếu còn làm tốn hao cho chủ nhà nữa thiệt là chúng nó không dám.

Đến 2 giờ chiều thằng Được biểu con Liên ở nhà để nó lên Tòa dọ nghe tin tức của thầy coi thể nào. Nó đứng xẩn bẩn trước Tòa cho đến tan hầu mà không nghe chi hết, Nó lần bước trở về, tính dắc con Liên ra chợ ăn cơm, vì trong túi còn được 3 cắt bạc, chẳng dè về nhà thì chị chủ nhà ép quá nên con Liên đã ăn cơm rồi; mà chỉ lại có để dành cơm cho nó nữa, thấy nó về chỉ ép riết túng thế nó phải ăn.

Đêm ấy thằng Được nằm suy nghĩ tới phận riêng thì buồn nát ruột, Khi ở nhà ba Thời tuy bị tên Hữu hành hạ, song dầu thế nào cũng có mẹ chở che; khi mới đi theo thầy Đàng tưởng là thân nầy phải pha bụi vùi bùn, nào có dè đâu người đã đem lòng thương yêu mà lại ra công dạy dỗ nữa. Tuy đã biết ba Thời không phải là mẹ ruột, nhưng mà mẹ là ai đâu không thấy, duy thấy có một mình ba Thời là người nuôi mình cho nên vai nên vóc; cha là ai đâu không biết, duy biết có một thầy Đàng là người dạy mình lẽ chánh lẽ tà; anh em không biết có hay không, duy bậu bạn với con Liên đã gần 4 năm nay nên yêu thương như em ruột. Cái vòng thân ái của mình chỉ gom có ba người ấy mà thôi. Có khi thấy trẻ nhỏ trang lứa với mình đi chơi với cha mẹ chúng nó, thì trong lòng cũng có hơi bức-rức, thầm mong cho sum hiệp với mẹ cha đặng vui hưởng thú gia-đình. Mà mẹ cha là ai ở đâu? Hỏi như vậy rồi mĩn cười, không để ý đến nữa.

Nghĩ việc xưa rồi mới nghĩ tới việc nay; hiện bây giờ đây trong ba người ấy cũng yêu thương mình, một người thì ở xa, một người thì mắc nạn, duy còn có một con Liên mà thôi. Mình không có thế nào mà nhờ người ở xa, mà cũng không có thế nào mà giúp đỡ người mắc nạn được, vậy thì mình phải lo mà bảo bọc cho con Liên. Mà trong túi bây giờ còn có ba cắt bạc, ví như nay mai đây thầy thoát nạn được thì không hại gì, chớ nếu thầy phải bị giam cầm đến mười bữa, hoặc nửa tháng, thì thân mình đây biết có cơm mà ăn hay không, còn con Liên nữa biết làm sao mà bảo bọc nó cho được.

Thằng Được nghĩ đến đó thì lo sợ hết sức. Nó tính đi tính lại đến gần nửa đêm mà không biết làm thế nào cho có cơm đủ hai đứa ăn đặng chờ thầy. Ngoài đường vắn vẽ, trong nhà im-lìm, một lác nghe trống nhà làng trở canh, rồi sau bếp chuột cạy nồi lộp cộp. Thằng Được ngồi dậy thấy con Liên cựa mình, nó mới nắm tay kêu thức dậy rồi nói nhỏ rằng: « Nầy em, qua tính sáng mai hai anh em mình xách đờn đến nhà mấy thầy rồi qua đờn em ca đặng cho họ nghe hoặc may họ có cho tiền mua cơm mà ăn, chớ qua còn có 3 cắt bạc ăn chừng một vài ngày nữa hết rồi làm sao. » Con Liên gặt đầu rồi đáp rằng: « Anh tính thế nào cũng được. »

Thằng Được thấy em chịu thì trong bụng mừng thầm, nên nằm xuống ngủ liền không còn lo sự hết tiền đói bụng nữa.

Sáng bữa sau con Liên thì xách đờn cò, còn thằng Được thì ôm đờn kìm, đi theo chị chủ nhà ra chợ, rồi từ giả mà lên Tòa, đặng đón coi có gặp mặt thầy hay không. Hai đứa đón đến tan hầu mà không thấy, bèn dắc nhau trở về. Đi ngang một dảy phố, dòm mỗi căn đều chưng dọn hực-hở, hai đứa nghi là chỗ mấy thầy thông ở, nên ngồi dựa gốc cây gáo mở đờn ra rồi thằng Được thì đờn cò, còn con Liên thì đờn kìm và ca. Lên dây vừa rồi, trẻ nhỏ vừa bu lại, con Liên vừa mới cất dọng lên mà ca bản hành-vân, thình lình chú bếp ở phía đàng chợ đi lại, cầm roi mây rượt quức, trẻ nhỏ chạy la om-sòm, con Liên với thằng Được thấy vậy thất kinh nên cũng lật đật ôm đờn mà chạy, mặt mày tái lét.

Hai đứa dắc nhau đi về, dọc đường con Liên nói với thằng Được rằng: « Không được đâu anh. Em sợ lính quá, em không dám ca nữa đâu. » Thằng Được ứa nước mắt, lầm lủi mà đi không nói chi hết. Về đến nhà thì chị chủ nhà đã về rồi, chỉ dọn cơm biểu hai đứa ăn với chỉ. Thằng Được bước lại khoanh tay mà thưa rằng: « Thưa thiếm, hai cháu đi với thầy đến đây thầy cháu rủi bị quan bắt cầm tù, hai cháu bơ vơ, không biết đâu mà nương dựa, thiếm có lòng tốt cho hai cháu ở đậu, thiệt hai cháu đội ơn thiếm rất nhiều. Bụng cháu không muốn làm cho tốn cơm tốn gạo của thiếm, nên trong lưng cháu đã hết tiền rồi, cháu tính đi đờn ca cho họ nghe đặng họ cho tiền mà ăn cơm. Chẳng dè lính ở đây lung quá, mà bộ họ ghét hai cháu hay sao, nên cháu đờn ca họ rượt mà đánh, cháu nghĩ cùn thế rồi, không biết làm sao cho có tiền mua cơm mà ăn được. Vậy cháu phải tỏ thiệt với thiếm, xin thiếm để cháu gánh đồ cho thiếm đi bán, rồi thiếm cho hai cháu ăn cơm, tốn hao của thiếm bao nhiêu, chừng thầy cháu ra rồi cháu sẽ xin tiền mà trả cho thiếm. »

Chị chủ nhà nghe nói động lòng, liền đáp rằng: « Hổm nay tao biểu bây ăn cơm với tao, sao không chịu, lại bày đặt đờn ca làm gì. Ở nhà ăn cơm, bây ăn hết bao nhiêu đó mà ngại. » Nói rồi mới biểu hai đứa lên ăn cơm với chỉ.

Buổi hầu nào thằng Được cũng lên đứng trước cữa Tòa mà chờ thầy Đàng, lại hễ sáng thì nó xin gánh xoài ra chợ cho chủ nhà, mà chủ nhà không cho. Hai đứa ở đậu được bốn bữa; đến ngày thứ năm thằng Được cũng lên chực tại cữa Tòa như mấy ngày trước. Nó vừa tới đó thì thấy lính dắc thầy Đàng đi vô Tòa. Nó bèn chạy theo mà hỏi rằng: « Hổm nay thầy có ăn cơm hay không vậy thầy? » Thầy Đàng gặt đầu rồi hỏi lại rằng: « Con Liên đâu? » Thằng Được liền đáp rằng: « Nó ở nhà. » Thầy gặt đầu rồi bước vô Tòa, không nói chuyện nữa được.

Thằng Được đứng ngoài dòm vô một hồi, thấy mấy ông Tòa mặc áo rộng đen, đầu đội mảo cũng đen, ngồi nói với nhau. Một lát thấy chú bếp hôm nọ lên đứng thưa việc chi với Tòa đó không biết, rồi thầy Đàng cũng lên đứng mà nói nữa. Thằng Được đứng coi gần một giờ đồng-hồ, xảy có hai người ở trong Tòa bước ra, một người mặc đồ Tây, một người mặc áo dài bịch khăn đen; người mặc đồ Tây nói với người kia rằng: « Ông đó bị kêu án nửa tháng tù tội nghiệp quá há! Ổng nói tiếng Tây giỏi, ổng cải nghe sướng quá, mà cũng không khỏi. Chớ chi thằng cha bị lính đánh hôm đó nó ra làm chứng cho ổng thì chắc Tòa tha, ngặc ổng binh nó mà rồi nó đi mất nên bây giờ ổng còn chứng cớ chi mà đối nại. »

Thằng Được nghe nói mấy lời, nghi là họ nói chuyện thầy mình, nên mặt mày tái xanh, lo sợ hết sức. Nó muốn chạy theo mà hỏi thăm cho rõ ràng, song sợ bỏ mà đi rồi chừng thầy ra không gặp mặt thầy được, nên cứ đứng ngoài dòm vô, thấy thầy ngồi trong mặt buồn xo, một lát ngó ra ngoài thấy nó thì lại châu mày, bộ suy nghĩ trong trí lắm. Nó đứng vái thầm cho Tòa tha thầy nó, đặng thầy trò sum hiệp với nhau. Nó lại tính hễ Tòa tha thầy nó rồi thì nó xin thầy nó mau mau đi đến xứ khác, chớ đừng thèm ở Trà-vinh nữa.

Nó đương suy nghĩ, bổng thấy trong Tòa người ta kéo nhau đi ra. Nó đứng nép lại một bên, họ ra hết rồi thì tới một tên lính dắc thầy Đàng với hai ba người nữa đi sau. Thầy Đàng thấy thằng Được liền lấy tay ngoắc nó biểu đi theo. Ra khỏi cữa Tòa rồi thẩy mới nói với nó rằng: « Thầy bị kêu án 15 ngày tù, mà thầy tính cũng không chống án làm gì. Vậy cháu dắc con Liên hỏi thăm đường mà lên Càng-long kiếm nhà ông Hội-đồng Sáu đến mà tỏ việc của thầy cho ổng rõ rồi xin ở đậu đó mà chờ thầy. Bữa 18 thì thầy ra, không sao đâu mà sợ. » Thằng Được nghe nói thì khóc mùi, nên thầy dặn nó không nhớ chi hết. Nó đi theo tới cữa khám, thấy lính dắc thầy nó vô rồi khép cánh cữa sắt lại kêu một cái ầm, không còn thấy thầy nó nữa thì nó đứt ruột nát gan, nước mắt dầm-dề, đau đớn không xiết kể.

Nó thủng thẳng đi vòng theo vách tường chung quanh khám, dường như đứa dại đứa ngây. Đi đến trưa mỏi cẳn đói bụng, nó nhớ sực đến con Liên mới lần bước mà trở về nhà. Vừa tới cữa nó thấy con Liên đứng đó liền nói rằng: « Không xong rồi em! Thầy bị án 15 ngày tù ». Nó vừa nói tới đó, bổng nghe trong nhà có tiếng người đổng khóc nó không hiểu là ai. Chừng hỏi thăm con Liên nó nói rằng có tin cho kêu chị chủ nhà nói cha chỉ ở dưới Trà-cú đã chết rồi, thì thằng Được sản sốt. Nó lật đật chạy vô hỏi thăm thì chị chủ nhà cũng thuật y như lời con Liên mới nói với
nó đó vậy. Thằng Được thầm nghĩ mình đã bị oạn nạn mà gặp người cũng bị vậy nữa, thì ngao ngán trong lòng, nên ngồi thở ra không nói chi được hết.

Chị chủ nhà dọn cơm ăn rồi hỏi nó vậy chớ Tòa đã xữ vụ thầy nó hay chưa. Nó thuật chuyện thầy nó bị nửa tháng tù cho chĩ nghe và nói ngày 18 thầy nó mới ra được. Chị chủ nhà nói rằng bây giờ chĩ phải về Trà-cú lập tức đặng lo báo hiếu cho cha và hỏi hai đứa ở nhà một mình có được hay không? Thằng Được nghĩ thầm trong bụng nếu mình ở đây lấy cơm đâu mà ăn, mà nếu biểu chỉ mua gạo để lại nhà thì phải mang ơn chỉ nhiều lắm. Huống chi chỉ trong nhà không giàu có chi đó, mà lúc nầy chỉ lại bị tai họa như vậy, không lẽ mình còn làm tốn hao cho chỉ nữa! Nghĩ kỷ rồi nó mới thưa rằng: « Thưa thiếm, hổm nay hai cháu mang ơn thiếm rất nhiều, nay thiếm có việc nhà lẽ thì hai cháu phải ở đây mà coi nhà giùm cho thiếm. Ngặc thầy cháu có dạy phải lên Càng-Long mà báo tin cho anh em
bạn của thầy cháu hay bỡi vậy cháu sợ ở đây không tiện ».

Chị chủ nhà nói rằng: « Không, việc coi nhà không cần gì cho lắm, nhà tao không có vật chi cho đáng, như hai đứa bây mắc việc nên phải đi, thì tao khóa cữa gởi cho lối xóm họ coi chừng giùm cũng được ».

Ăn cơm rồi, chị chủ nhà coi trong nhà có món chi tốt thì dọn đem gởi cho lối xóm, còn thằng Được với con Liên thì gói mấy túi đờn. Thâu xếp xong rồi mới xách gói ra đi. Chị chủ nhà khóa cữa rồi lấy ra 5 cắt bạc đưa cho thằng Được mà nói rằng: « Đường từ đây lên Càng-Long thì xa, không biết bây đi tối có tới hay không. Vậy thì bây lấy mấy cắt bạc đây mà bỏ hờ trong lưng, đặng như kiếm nhà quen không được, thì mua cơm mà ăn đỡ ít bữa ». Thằng Được chối từ hoài, không dám lảnh tiền, rồi từ giả nhau ra đi.

Lối nữa chiều, gió thổi lao rao, nắng đã diệu bớt, đường Trà-vinh đi Vỉnh-long có nhiều khúc ngay bót, mà hai bên đường cây cỏ xanh tươi. Dưới ruộng thì nông phu chỗ cày chỗ gieo, còn trên đường xa xa có một người che dù mà đi, coi bộ huởn dải lắm.

Thằng Được tay xách hoa-ly, tay ôm cây đờn kìm, còn con Liên thì tay xách đờn cò vai vát đờn tranh, chậm chậm mà đi, hễ mỏi cẳn mỏi tay thì để đồ dựa bên đường ngồi nói chuyện với nhau, bổng có một cái xe hơi chạy ngang qua, bụi bay mù trời, hai đứa lật đật đứng nép dựa bên gốc cây mà tránh. Thằng Được thấy trên xe phía trước thì có một mình người coi máy, còn phía sau có một đứa con trai chừng chín mười tuổi ngồi mà thôi, nó mới ước phải chi xe ấy họ cho mình lên ngồi nhờ thì là khỏe khoắn lắm. Hai đứa xách đồ đi nữa. Đi được một khúc lại gặp một người ở trước mặt đi lại, thằng Được bèn hỏi thăm coi đã gần tới Càng-Long hay chưa. Người ấy nói rằng còn 9 ngàn thước nữa; nếu đi giỏi thì chạn vạn, còn đi chậm thì hết nửa canh một mới tới.

Thằng Được nghe nói dực mình, bỡi vì hai đứa mắc xách đồ nên đi mau không đặng, mà đi chậm như vầy, rủi giữa đường trời tối mới liệu thể-nào. Nó bèn day lại mà nói với con Liên rằng: « Hổm nay nhờ chị chủ nhà cho ăn cơm. nên 3 cắt bạc qua còn nguyên trong túi đây, bậy quá! hồi trưa đi ngang chợ quên mua một ổ bánh mì đem theo, bây giờ lỡ tối giữa đường lấy gì mà ăn. » Nói như vậy rồi ngó con Liên thì thấy nó có sắc buồn. Thằng Được liền nói tiếp rằng: « Qua tính như vầy em nghĩ thử coi có được hay không. Mình ráng đi tới xóm trước kia mình ghé xóm mua cơm ăn rồi kiếm nhà xin ngủ nhờ đỡ một đêm nay; sáng ngày mình sẽ đi nữa, chớ bây giờ trời đã gần tối rồi, mà đường còn xa, qua sợ đi không kịp. Đã vậy mà thầy dặn lên kiếm nhà ông Hội-đồng gì đó qua quên tên rồi, qua nhớ có tiếng Càng-Long với tiếng Hội-đồng mà thôi, nếu lên đến đó ban đêm thì làm sao hỏi thăm được ».

Con Liên đi đã mỏi cẳn, xách đờn đã mỏi tay, mà lại đói bụng nữa, nên nghe thằng Được nói như vậy thì chịu liền. Hai đứa lần tới xóm, thằng Được thấy dựa bên đường có một cái nhà lá, tuy nhỏ mà cao ráo sạch sẽ, trước nhà có trồng bông trồng kiển, sau hè có trồng chuối trồng cau, mà ở nhà bếp lại có khói lên ngui ngút, nó bèn ghé lại đó. Bước vô sân thì nghe trong nhà có tiếng người ca bản tứ-đại-cảnh.

Hai đứa vừa tới cữa, có một con chó vàng trong nhà chạy ra sủa van rân. Hai đứa sợ chó cắn nên đứng lại, con Liên thì đứng núp sau lưng thằng Được. Trong nhà liền có một người đi ra, tuổi chưa đầy 30, mặc quần lảnh đen, áo bà-ba lụa trắng, chơn đi dép Bắc-kỳ, răng trắng, nước da mặt cũng trắng, đầu bới tóc vẻn van, hỏi hai đứa nhỏ rằng: « Hai đứa bây đi đâu? »

Con chó cứ sủa hoài, người ấy phải la nó hai ba tiếng nó mới chịu chạy vô. Thằng Được hết sợ chó nữa, mới để hoa-ly với túi đờn xuống đất rồi vòng tay mà thưa rằng: « Thưa cậu, em chẳng giấu chi cậu, em đi với thầy em, rủi thầy em bị có việc ở dưới Trà-vinh nên sai hai đứa em lên Càng-long. Em tới đây trời gần tối rồi, mà nghe nói đường còn xa lắm, nên em ghé đây xin cậu làm phước như ăn cơm còn dư cho em này đỡ một cắt đặng hai đứa em ăn đỡ dạ, và cho em ngũ nhờ một đêm rồi khuya em đi.

— Bây nói bây đi với thầy mà thầy nào đó?

— Thưa thầy Đàng.

— Thầy Đàng nào ở đâu?

— Thưa, thầy Đàng ở Cần-đước.

— Thầy Đàng đờn hay lắm phải hôn?

— Thưa, phải.

— Tao có nghe cậu Ba nói ở Cần-đước có thầy Đàng đờn tươi lắm. Mà bây giờ thẩy ở đâu mà sai bây đi đây?

— Thưa, thẩy bị ở tù dưới Trà-vinh.

— Vậy sao? Tội nghiệp dữ hôn! Thôi, vô đây.

Thằng Được với con Liên xách đồ vô nhà. Người ấy kêu vợ biểu nấu cơm nhiều nhiều một chút đặng cho hai đứa nó ăn với. Thằng Được dòm trên vách thấy có treo đờn cò, đờn kìm, đờn tam, đờn gáo, còn trên bộ ván phía đàng chái lại có để một cây đờn tranh. Nó mới đem hoa-ly với mấy túi đờn mà để dựa vách. Chủ nhà thấy xách đồ đùm-đề bèn hỏi coi xách mấy túi gì đó. Thằng Được nói là túi đờn. Người ấy nghe nói thì chưng hững rồi hỏi rằng: « Em biết đờn hay không? » Thằng Được chúm-chím cười rồi nói nó với con Liên đều biết đờn cả hai.

Chủ nhà bộ mừng húm, lật đật biểu hai đứa lên ván mà ngồi, hỏi đứa nào đờn cây nào, rồi mới lấy cây kìm đưa cho thằng Được, lấy cây tranh đưa cho con Liên, còn anh ta thì cầm cây cò mà nói rằng: « Qua biết đờn, mà ở xóm nầy không ai biết, nên không hòa chơi với ai được hết. May gặp hai em, thôi đờn ít bản chơi rồi sẽ ăn cơm ».

Ba người đờn bốn bản bắc rồi mới sang qua dây oán. Thằng Được biểu con Liên và đờn và ca, chủ nhà đắc ý vô cùng, mà người vợ ở sau bếp có lẽ khi cũng vui hay sao nên lên đứng mà nghe lâu lắc. Đờn đến cơm dọn ra rồi mới chịu nghĩ mà ăn. Ăn cơm rồi, nói chuyện chơi đến đốt đèn rồi ráp lại đờn nữa. Trong xóm người lớn trẻ nhỏ tựu tới nghe đông nức. Đờn đến hết canh một con Liên buồn ngủ quá mới chịu dẹp mà đi ngũ.

Rạng ngày hai đứa thức dậy tính đi cho sớm. Chủ nhà cầm lại hoài, biểu để ăn cơm rồi sẽ đi. Chừng hai đứa ra đi chủ nhà mới hỏi rằng:

— Hai em lên Càng-Long mà lên nhà ai?

— Thưa, thầy em biểu lên nhà ông Hội-đồng mà em quên tên nên không biết Hội-đồng nào.

— Ở Càng-Long có một mình Hội-đồng Sáu, chớ có Hội-đồng nào nữa đâu.

— Thưa, phải a. Hội-đồng Sáu. Vậy mà hổm nay em quên chớ.

— Thôi hai em đi đi, bận về ghé đây chơi nghe hôn.

— Dạ.

Hai đứa đi đến mặt trời đứng bóng lên mới tới Càng-Long. Chúng nó hỏi thăm nhà Hội-đồng Sáu mà vào, thì thấy nhà cữa nguy nga, vựa lúa rất to, bạn bè đông đảo. Thằng Được bước vô thấy thằng nhỏ ngồi xe hơi hôm qua đương đứng chơi trước cửa thì chưng hững. Nó để con Liên ở ngoài, nó vô tỏ hết đầu đuôi chuyện thầy Đàng bị tai nạn cho ông Hội-đồng nghe thì ổng chẳng có chút chi buồn mà lại buông lời nói rằng: « Thẩy cứ làm bậy hoài... Thẩy ở tù thì ở chớ tao biết sao bây giờ. »

Thằng Được đi dọc đường thầm tưởng ông Hội-đồng là anh em bạn với thầy mình, lên nói cho ổng hay thì chắc là ổng xuống Trà-vinh mà lo cho thầy mình khỏi tội, mà nếu ổng lo không được thì ít nữa ổng cũng nuôi cơm mình và cũng đi thăm thầy chớ chẳng không, nào dè cực nhọc tìm đến đây mà cho ổng hay, rồi ổng nói xui-xị như vậy thì còn trông cậy gì nữa. Thằng Được buồn ý muốn dắc con Liên mà đi, song nó nghĩ nếu mình đi bây giờ biết đi đâu, nên cực chẳng đã nó phải ở nán lại coi ổng tính lẽ nào.

Hai đứa để đồ ngoài hàng tư rồi xẩn bẩn ở trước sân mà chơi. Đến chiều trong nhà dọn cơm ăn, mà không thấy ai ra biểu ăn cơm.

Lúc chạn vạn tối có một người đàn-bà đầu bịch khăn trùm, áo xăn ngang lưng, cầm chổi ra quét sân, thấy hai đứa liền nói lớn lên rằng: « Cơ khổ dữ hôn! Hai đứa nhỏ hồi trưa đến bây giờ còn đây mà bày trẻ ăn cơm không kêu nó ăn với chớ! Vô đây em, đi vô ăn cơm với bày trẻ kia kìa ».

Thằng Được không muốn ăn chút nào, ngặt nó sợ con Liên đói nên cực chẳng đã phải đi ăn. Vô nhà bếp thấy năm sáu tên bạn đương ngồi ăn cơm. Người đàn-bà ấy lấy chén đủa đưa cho hai đứa rồi biểu lên ngồi mà ăn. Ăn cơm rồi người ấy lại biểu ra xách đồ đem để trên ván nhà sau rồi vô đó nằm mà ngũ.

Hai đứa nằm coi bạn bè dả gạo, ngoài sân mưa gió ồ ào. Trên nhà trên đèn đốt sáng trưng, hai vợ chồng ông Hội-đồng dởn với thằng con cười ngã nghiêng ngã ngữa. Thằng Được bị trời lạnh ngủ không được, nằm suy nghĩ cuộc đời mà chua xót trong lòng, Thiệt nó chẳng phiền trách ông Hội-đồng, song chẳng biết vì cớ nào trong lòng nó buồn mà lại giận lắm.

Đến sáng nó kêu con Liên thức dậy rồi nói nhỏ biểu sửa soạn mà đi. Con Liên gặt đầu rồi kiểm điểm đồ đạt. Thằng Được nghe tiếng ông Hội-đồng nói om-sòm trên nhà trên nó mới lần lên thưa với ổng mà đi. Ổng ừ rồi lặn thinh, chớ không thèm hỏi đi đâu nữa.

Hai đứa ra ngoài đường rồi con Liên mới hỏi thằng Được rằng:

— Mình đi đâu bây giờ anh?

— Đi đâu cũng được, miễn đi cho khỏi cái nhà đó thì thôi.

— Ừ em cũng không muốn ở đó nữa!

Hai đứa ra đến ngã ba, đứng nhắm biết đường đi xuống là đường đi Trà-vinh, còn đi lên thì không biết đi đâu. May lúc ấy có một người đi ngang qua, thằng Được hỏi thì họ nói đường đi lên đó là đường đi Vủng-liêm, Vỉnh-long. Nó bèn bàn tính với con Liên rồi dắc nhau đi lên Vủng-liêm.

Trót bảy tám ngày hai đứa nó xách đồ mà đi lưu-linh, nay đờn nhà nầy, mai ca nhà nọ, chỗ cho ăn cơm, chỗ cho ngũ đậu, người cho bánh trái, kẻ cho đôi ba quan, hai đứa nó đấp đổi qua ngày, tuy là thân mệt nhọc cực khổ, nhưng mà khỏi bị khinh khi nhục nhả. Chúng nó ở chợ Vủng-liêm lần lên Nước-xoáy.

Lên tới kinh Mang-Thít là ngày rầm Annam. Thằng Được nhớ sực lời thầy nói bữa 18 thầy ra, nên tính sẽ trở về Trà-vinh mà chực thầy. Lúc ấy trong lưng nó có được hơn 2 đồng bạc, vì nó đờn ca ai cho tiền thì nó mua bánh chút đĩnh cho con Liên ăn mà thôi, chớ nó không dám xài. Trời vừa xế qua, hai đứa đi tới mé kinh Mang-Thít, thấy có một cái nhà bốn phía không có vách mà chính giữa lại có lót một bộ ván giầu. Chúng nó đem đồ vô đó rồi lên ván nằm mà nghỉ chơn.

Trời gió hiêu-hiêu, nước dưới kinh chảy cuồn-cuộn. Ngó qua mé kinh bên kia thấy có một chiếc ghe hầu 4 chèo, mui sơn xanh, đương đậu tại đó, bạn lụi-hụi đứa tác nước, đứa nấu cơm. Một lát có một chiếc tàu dắc một đoàn ghe chài đếm gần 20 chiếc, chạy ngang thổi xúp-lê nghe inh-ỏi. Thằng Được hừng chí biểu con Liên mở đờn tranh ra, còn nó lấy đờn kìm rồi hai đứa đờn ca chơi. Ghe đi ngang ai nghe cũng đếu ngơ chèo mà ngó.

Hai đứa đờn được vài bản thì thấy chiếc ghe hầu nhổ sào chèo qua rồi đậu ngay cái nhà trống chỗ hai đứa nó ngồi đó. Thằng Được và đờn và ngó chừng chiếc ghe hầu, thấy bốn tên bạn đứa đứng đứa ngồi, mà đứa nào cũng châm chỉ mà nghe đờn, còn trong mui thì có một người đàn-bà, trạt chừng 45 tuổi, mặc áo lụa trắng quần lảnh đen, ngồi với một đứa con trai chừng 10 tuổi, cũng mặc áo quần trắng, ôm mền ngồi mặt mày buồn hiu. Hai đứa đờn ca một hồi rồi buông đờn nằm mà nghỉ. Người đàn-bà ở dưới ghe hầu kêu tên bạn ngồi trước mủi mà dạy việc chi đó nghe không rõ, mà thấy tên bạn ấy lật đật lấy tấm đòn dày bắt lên mé kinh rồi leo lên bờ. Hai đứa không hiểu có việc chi nên lồm-cồm ngồi dậy, kế tên bạn bước vào mà nói rằng: « Nầy, hai em, bà Hội-đồng nghe hai em đờn hay nên biểu qua lên nói với hai em đi xuống ghe đờn cho bà với cậu ba nghe chơi một hồi rồi bà cho tiền ăn bánh. »

Thằng Được nghe nói liền cười chúm chím mà đáp rằng: « Được chớ! mà bà Hội-đồng nào ở đâu đó vậy anh? » Tên bạn nói: Bà Hội-đồng nầy ở bên Cần-thơ đem con đi uống thuốc trên Saigon ». Thằng Được với con Liên xách đờn rồi đi theo tên bạn mà xuống ghe. Bà Hội-đồng thấy hai đứa lần tấm đòn-dây mà đi xuống, thì bồng con ngồi sục vô trong, rồi kêu mà biểu hai đứa nó đem đờn bước ngay vô mui. Bà ngồi ngó hai đứa trân-trân, còn thằng con bà thấy hai đứa lên dây đờn sửa soạn mà đờn thì trong lòng hớn hở, ngoài mặt vui mừng, chớ không còn buồn xo như hồi nảy nữa. Hai đứa ngồi đờn, con Liên ca một hồi mệt rồi thằng Được tiếp mà ca. Bà Hội-đồng ngồi nghe rất vui vẻ trong lòng, mà nhứt là thằng con bà cười hoài, dường như thuở nay mới nghe đờn một lần thứ nhứt vậy.

Hai đứa đờn ca hơn nửa giờ đồng hồ, bà Hội-đồng sợ nó mệt nên biểu nghĩ rồi mở một cái tủ nhỏ, lấy ra một hộp bánh mì mà biểu hai đứa ăn. Con Liên mắc cỡ không chịu ăn. Thằng con bà Hội-đồng nảy giờ nằm đấp mền mà nghe đờn, thấy hai đứa không chịu ăn bánh, liền tốc mền ngồi dậy lấy bánh đưa tới tay con Liên với thằng Được mà ép ăn. Hai đứa cực chẳng đã phải ăn, rồi thằng nhỏ cũng lấy mà ăn nữa. Ba đứa ăn bánh nói chuyện chơi với nhau coi vui vẻ lắm. Bà Hội-đồng thấy con vui thì cũng vui trong lòng, mà lại thấy hai đứa kia ngộ-nghĩnh bà cũng động lòng thương nữa. Bà hỏi thăm coi hai đứa con ai, nhà cữa ở đâu. Thằng Được nói rằng nó gốc ở Gòcông, còn con Liên thì ở Baria, hai đứa đi theo thầy qua Travinh, rủi thầy bị quan bỏ tù nên hai đứa phải đi đờn kiếm ăn mà chờ thầy.

Bà Hội-đồng nghe nói thì chưng hững mà nói rằng:

— Vậy mà qua tưởng hai cháu nhà ở gần đâu lối đây chớ. Té ra hai cháu không phải anh em ruột hay sao?

Thằng Được trả lời rằng:

— Thưa, không.

— Bây giờ hai cháu tính đi đâu?

— Thưa, con tính dắc nhau trở xuống Trà-vinh đặng đón thầy con, vì còn có ba bữa nữa thầy con mãn tù.

— Tội nghiệp quá! Mới bây lớn mà lưu lạc bơ vơ như vầy chớ!

Thằng con bà Hội-đồng day qua ôm bà mà nói rằng: « Má, biểu dọn cơm cho anh đó với chị đó ăn với con, má. » Bà và hun con và cười, rồi hối bạn nấu cơm riết đặng ăn rồi có đi cho kịp con nước.

Cơm dọn ra cá thịt canh rau một mâm vỉ-vèo, hai đứa thấy vậy lật đật xếp đờn rồi nói nhỏ với nhau tính từ mà đi xuống Vũng-liêm cho sớm. Bà Hội-đồng biết ý nên cười mà nói rằng: « Khoan đã, để ăn cơm no rồi sẽ đi. » Hai mẹ con ép riết túng thế hai đứa phải ăn. Ăn cơm rồi, trời đã nửa chiều, nước rúng ròng, mấy tên bạn sửa soạn chèo đặng lui ghe. Thằng Được với con Liên dợm muốn lên bờ, bà Hội-đồng liền móc túi mà cho hai đứa một đồng bạc.

Hai đứa tạ ơn rồi xách đờn đứng dậy bước ra. Thằng con bà Hội-đồng ngó thấy liền khóc rống lên. Hai đứa đứng khựn lại đó không hiểu tại sao mà nó khóc, còn bà Hội-đồng lật đật ôm con mà hỏi: « Sao vậy con? Con có đau bụng hay không? » Thằng nhỏ và khóc và lắc đầu mà nói rằng: « Tôi hổng chịu! Má làm sao biểu anh đó với chị đó ở dưới ghe đờn ca chơi với tôi he. Má đễ hai người đó đi lên đây tôi đau nữa đa ». Bà Hội-đồng lắc đầu mà nói rằng: « Biểu sao được con? » Thằng nhỏ vùng ré lên mà khóc nữa. Bà Hội-đồng thấy vậy mới biểu: « Thôi, con nính đi, để má biểu nó đi theo dưới ghe chơi với con. »

Thằng nhỏ nghe nói thì nính khóc. Bà Hội-đồng mới kêu thằng Được vô mui rồi biểu hai đứa nó đi theo bà đặng chơi với con bà, muốn bạc tiền bao nhiêu bà cũng cho hết. Thằng Được cứ lắc đầu hoài, nói rằng bữa 18 thầy nó mãn tù nên nó phải trở xuống Travinh mà kiếm thầy. Bà Hội-đồng suy nghĩ một hồi rồi tính với thằng Được để bà viết thơ cho thầy thông Sự ở Travinh mà cậy thầy nói lại giùm với thầy Đàng hay sự hai đứa nhỏ đi theo bà qua Mytho và dặn hễ ngày thầy Đàng mãn tù thì trao cho thẩy 10 đồng bạc đặng thẩy làm phí lộ qua Mytho lại đầu cầu quây mà kiếm ghe bà. Thằng Được thấy bà Hội-đồng tử tế mà nhứt là thấy con bà triếu mến thì động lòng, nên nghe tính như vậy thì nó chịu, song nó xin để cho nó viết riêng cho thầy nó một bức thơ nữa kẻo thầy nó nghi. Bà Hội-đồng lấy làm vui lòng nên lật đật lấy giấy viết ra mà viết một bức thơ nói cặn kẻ cho thầy thông Sự rõ, rồi bà trao giấy viết cho thằng Được viết riêng một bức thơ cho thầy Đàng nữa mà xin hễ mãn tù thì lại nhà thầy thông Sự lấy tiền rồi qua Mytho mà kiếm mình.

Thơ viết xong rồi bà Hội-đồng niêm lại và sai một tên bạn cầm xuống nhà dây thép Vủng-liêm mua cò mà gởi. Tên bạn vừa ra đi bà lại nghỉ rằng bây giờ trời đã chiều rồi, mà từ đó xuống Vũng-liêm thì đường xa, sợ đến đó nhà dây thép đóng cữa rồi mua cò không được. Bà mới tính với thằng Được để lui ghe mà đi cho kịp nước rồi sáng bữa sau qua Chợ-lách sẽ bỏ thơ cũng chẳng muộn gì.

Thằng Được với con Liên nghe lời mới đem đờn và hoa-ly vô trong mui đặng trống chỗ cho bạn đứng chèo, rồi hai đứa đứng ké-ré ở ngoài chớ không dám vô. Bà Hội-đồng trải chiếu thêm phía sau cho rộng rồi biểu hai đứa vô mà nằm. Ghe lui thì thằng con bà Hội-đồng vui vẻ hết sức, cứ biểu thằng Được nằm một bên nó mà thôi. Đến tối thằng Được đờn cho con Liên ca, nội dưới ghe từ chủ cho tới bạn ai cũng đều thích ý.

Ghe đi đến Rạch-gầm bà Hội-đồng mắc ghé thăm bà con ở đó hết một ngày một đêm, nên chiều ngày 18 Annam mới xuống tới Mytho. Bà dạy bạn chèo vô đầu cầu quây mà đậu. Mấy bữa ở dưới ghe bà thấy hai đứa nhỏ mặt mày ngộ nghỉnh mà ăn nói lại có khuôn phép thì bà đem lòng thương, mà nhứt là bà thấy thằng con bà triếu mến hai đứa đó lắm, mấy bữa rồi nó vui cười hoài chớ không phải nằm buồn xo như lúc trước nữa, thì bà tính đợi thầy Đàng qua tới bà sẽ nói với thầy mà xin đứt hai đứa nó đặng bà nuôi. Bà hỏi thằng Được thì nó nói nó 14 tuổi còn con Liên 13 tuổi. Bà ngồi suy nghĩ rồi bà rưng rưng nước mắt, day mặt ra phía sau không muốn nói chuyện nữa. Cách một hồi bà liền day lại ôm con mà hun chùn-chụt, thằng Được với con Liên ngồi ngó nhau không hiểu ý bà thể nào. Bà hỏi hai đứa nó chịu ở làm con nuôi bà hay không thì chúng nó cúi đầu lặn thinh không trả lời.

Đến chiều ngày 19 thầy Đàng qua tới Mytho. Thằng Được đương ngồi chơi trước mủi ghe, ngó thấy thầy đi trên bờ thì mừng rở hết sức, liền đứng dậy kêu om-sòm. Con Liên ở trong mui cũng lật đật bò ra mà mừng thầy. Thầy Đàng vừa xuống tới mé sông thì bà Hội-đồng biểu bạn ra bắt tấm đòn-dây rồi mời thầy đi ngay xuống ghe cho bà nói chuyện.

Thầy Đàng vừa bước tới mũi ghe thì có thằng Được đứng chực sẵn tại đó; nó đưa tay cho thẩy vịnh mà xuống. Nó liếc coi thấy thầy nó mình gầy vóc ốm mà nước da lại huỳnh đảng thì trong lòng nó buồn thầm. Bà Hội-đồng chào hỏi, mời vô trong mui mà ngồi, hối bạn rót nước đải thầy rồi mới nói rằng: « Thưa thầy, tôi làm thất công thầy phải qua đến đây mà kiếm hai đứa nhỏ, tôi nghĩ lại thiệt tôi lỗi với thầy nhiều lắm. Nhưng mà không phải tôi có ý muốn làm nhọc lòng thầy, ấy là tại có việc như vầy xin thầy chịu phiền để tôi thuật lại cho thầy nghe. Tôi là người ở Cần-thơ, khi trước tôi có một đứa con trai đầu lòng vợ chồng tôi tưng tiêu như vàng như ngọc. Thời chẳng may nên trời khiến đứa con lớn của tôi nó mất đi. Cách 4 năm sau tôi mới đẻ được một đứa con trai nữa là thằng Phong nầy đây. »

Bà Hội-đồng nói tới đó thì lấy tay vuốc đầu con; thầy Đàng mang cặp mắt kiến vô rồi ngó thằng nhỏ. Bà Hội-đồng nói tiếp rằng: « Vì chồng tôi có bịnh ho, nên đẻ nó ra thì nó yếu ớt lắm. Tôi ráng nuôi nó hết sức nên nó mới mạnh giỏi tới bây giờ đây. Khi nó mới được 3 tuổi thì chồng tôi đã theo ông theo bà, bỏ nó ở lại cho một mình tôi nuôi. Tôi không kể chi đến gia tài sự sản, lúa ruộng tá-điền nó đong được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu, tôi không có giờ mà xem sóc được, cứ lo nuôi con, miễn con tôi nó mạnh giỏi thì thôi, giàu nghèo gì tôi cũng không màn. Chẳng biết tại sao mà thằng con tôi nó đau ốm hoài. Mới đây tôi nghe nói trên Saigon có một ông Đốc-tơ Thinh chữa bịnh như thần, nên tôi dọn ghe đem con tôi lên cầu ổng coi mạch rồi điều-trị thử coi như phước chủ may thầy nó có ăn chơi như con người ta được thì dầu tốn hao bao nhiêu tôi cũng chẳng nệ. Ghe tôi qua tới kinh Mang-Thít may gặp hai đứa cháu đây, tôi mới biểu nó thuật chuyện nó lưu lạc linh-đinh thì tôi động lòng thương, mà thằng con tôi nó lại triếu mến không chịu để cho hai đứa đi, khóc lóc biểu một hai tôi phải đem hai đứa đi theo ghe với nó, nó mới chịu. Tại như vậy nên tôi mới viết thơ cậy thầy thông Sự cho thầy hay và thằng Được mới viết thơ riêng cho thầy nữa. »

Thầy Đàng nghe nói tới đó thì gặt đầu mà đáp: « Thưa phải, bữa 17 tôi có tiếp được thơ của thằng Được rồi chiều lại thầy thông Sự có sai bếp hầu nói chuyện ấy với tôi nữa. Hồi chiều hôm qua quan thả tôi ra tôi ghé ngủ tại nhà thầy một đêm rồi sáng thầy đưa cho tôi 10 đồng bạc để làm phí lộ mà đi xuống đây. »

Bà Hội-đồng chúm-chím cười rồi nói rằng: « Hôm nọ tôi gắp đi nên tính bướn như vậy, té ra cũng là xong...... Thưa thầy còn chuyện nầy nữa, hổm nay tôi tính hễ gặp thầy tôi tỏ thiệt với thầy coi thầy bằng lòng hay không.

— Thưa, có chuyện chi?

— Tôi thấy hai đứa nhỏ tôi thương, mà thằng con tôi nó lại triếu mến không chịu rời, vậy nên hổm nay tôi tính đợi thầy đặng xin thầy cho đứt hai đứa nầy cho tôi nuôi, trước là hai đứa nó được sung sướng tấm thân, sau nữa con tôi có đứa bậu bạn cho nó vui lòng hoặc may nó hết bịnh hoạn nữa. Chẳng nói giấu chi thầy nhà tôi giàu lớn, mà còn có một đứa con nầy mà thôi. Nếu thầy cho tôi nuôi hai đứa cháu đây thì tôi sẽ sắm ăn sắm mặc cho chúng nó ấm no, rồi chừng lớn khôn tôi sẽ định đôi bạn, cho bạc tiền, đặng chúng nó lập thân, khỏi nghèo nàn cực khổ. »

Thầy Đàng ngồi ngó xuống mà suy nghĩ giây lâu rồi mới ngước lên mà nói rằng: « Thưa bà, không được. Bà mới gặp hai đứa nó có mấy ngày rày mà bà đã đem lòng thương chúng nó, còn tôi nuôi chúng nó hơn 1 năm, đã gia công dạy dỗ mọi đều, đã hủ hỉ với nhau khi nắn mưa ấm lạnh, há tôi lại không thương chúng nó hay sao? Mà tôi nghĩ bà nuôi chúng nó mà làm gì? Xin lỗi cùng bà, để tôi nói cạn lời cho bà nghe: bà là một người đờn-bà góa chồng, bà có nhà tốt, bà có ruộng nhiều, bây giờ bà xin chúng nó đem về bà nuôi, thì bất quá bà cho chúng nó mặc áo quần nhổn-nha, ăn mâm cao cổ đầy, chừng chúng nó lớn khôn bà dựng vợ gả chồng, bà cất nhà ngói cho chúng nó ở, chia ruộng tốt cho chúng nó đứng bộ, ví dầu bà có thương lắm thì bà làm cho chúng nó ngày sau trở nên hai người giàu lớn mà thôi, chớ làm sao mà biết dạy dỗ cho chúng nó biết đạo làm người, rồi chúng nó giàu mà không biết cái cực của kẻ nghèo, chúng nó sang mà không thấy cái nhục của kẻ hèn, dường ấy thì chúng nó giàu càng làm hại cho người nghèo, chúng nó sang càng làm nhục cho người hèn, chớ có ích chi cho thiên hạ. Phận tôi tuy nghèo, nhưng mà tôi quyết nuôi hai đứa nó đặng dạy cho chúng nó biết trọng nhơn nghĩa, biết khinh tiền tài, biết đường phải mà đi, biết nẻo quấy mà tránh, nhứt là làm cho chúng nó nếm cho đủ đắng cay mùi đời, đặng cho chúng nó lớn khôn dầu nghèo cũng không buồn lòng, mà giàu cũng không kiêu lẩn. Vậy xin bà đừng có nài nỉ mà làm gì, để tôi nuôi chúng nó, vì tôi nuôi thì có ích cho chúng nó hơn là bà nuôi. »

Thằng Phong thấy thầy Đàng không chịu cho thằng Được con Liên thì nó nằm xuống mặt mày buồn nghiến. Bà Hội-đồng theo năn nỉ hoài, bà lại nói xa nói gần cho thầy biết rằng nếu thầy muốn đòi tiền bao nhiêu bà cũng sẵn lòng trả cho thầy đủ số. Thầy Đàng nghe nói tới việc tiền bạc thì thầy châu mày rồi nói rằng: « Bà tưởng tôi dục-dặc đặng đòi tiền bà hay sao? Thưa bà, nếu bà nghĩ như vậy thì tội nghiệp cho tôi lắm. Không, tôi không phải là người xảo trá đâu, xin bà chớ tưởng như vậy mà lầm. »

Bà Hội-đồng ngồi lặn thinh không nói chi nữa được. Thầy Đàng cũng ngồi ngó lên trên bờ mà suy nghĩ một hồi rồi day lại mà nói rằng: « Thưa bà, vì tôi nuôi hai đứa nó đã ba bốn năm nay, mà tôi lại có công dạy dỗ chúng nó nhiều nên tôi triếu mến yêu thương, không đành giao chúng nó lại cho bà được. Tôi mà giành chúng nó đây, là vì tôi muốn dạy thêm chúng nó cho biết rõ thế thái nhơn tình, muốn cho chúng nó nếm đủ mùi đời mặn lạc mà thôi, chớ tôi chẳng có ý nào khác. Nhưng mà tôi nghĩ lại thằng Được nó là con trai, tôi nuôi nó đặng dạy dỗ nó thì phải rồi, chớ còn con Liên nó là con gái, tôi khó mà dạy dỗ nó theo như ý tôi muốn được. Vậy thôi để tôi cho bà con Liên cho bà nuôi đặng bà dạy dỗ giùm cho nó có nữ hạnh biết nữ công, còn thằng Được thì xin bà để cho nó theo tôi đặng tôi dạy nó biết nam nhi khí phách. »

Thầy Đàng nói dứt lời liền biểu thằng Được lấy hoa-li đưa cho thầy rồi thầy mở ra lựa quần áo của con Liên thầy bỏ ra ngoài và để lại cho nó một cây đờn tranh, còn bao nhiêu thì thầy gói lại rồi biểu thằng Được xách mà đi với thầy. Thằng Được thấy mình phải phân cách con Liên thì trong lòng chẳng vui mà chừng day qua thấy thằng Phong nằm khóc thì lại càng buồn hơn nữa, nên nước mắt tuôn dầm-dề. Bà Hội-đồng thấy vậy càng động lòng thương, song bà gượng gạo lấy ra 50 đồng bạc đưa cho thầy Đàng và xin thầy đem theo mà làm phí lộ. Thầy Đàng từ hoài không chịu lấy bạc ấy, thầy nói thầy để con Liên ở lại ấy là thầy cậy bà nuôi dưỡng, dạy dỗ giùm, chớ không phải thầy bán mà lấy bạc; huống chi thầy đã thọ của thầy thông Sự 10 đồng bạc là bạc của bà, thầy chưa có tiền mà trả lại, thầy đâu dám lấy thêm bạc của bà nữa.

Bà Hội-đồng theo nài nỉ hoài, nói rằng 50 đồng bạc nầy là bạc bà cho thằng Được chớ bà không dám cho thầy, nếu thầy không chịu lãnh thì bà ái ngại trong lòng, bà không dám lãnh con Liên mà nuôi dưỡng. Bà nói hết lời, thầy thấy vậy mới lấy 5 đồng cho bà hết hềm nghi mà thôi. Thầy Đàng đứng dậy từ bà Hội-đồng mà lên bờ và khuyên con Liên ở lại cho bà dạy dỗ, thì ba đứa nhỏ đều khóc rống lên nghe rất thảm thiết. Bà Hội-đồng thấy tình cảnh như vậy giọt lụy cũng khó cầm, còn thầy Đàng tuy bề ngoài chẳng tỏ dấu buồn, song bề trong thầy cũng đau lòng xót dạ.

Thầy Đàng dắc thằng Được lên chợ Mỷtho rồi tìm đến nhà quen mà tá túc. Thầy bị ở trong chốn lao tù trót một tháng trường ăn uống thất thường nên thầy trong mình không được mạnh; mà vừa ra khỏi khám thì liền phải ngồi xe hơi lên Vỉnh-long rồi đi tàu mà xuống Mỷ-tho nữa, bỡi vậy thầy mệt đuối. Đêm ấy thầy ngủ đậu tại nhà thầy Sung, làm việc Trạng-sư, thì thầy nóng lạnh nằm mê-mang không biết chi hết, còn thằng Được một là nhớ con Liên, hai là tiếc không được theo bà Hội-đồng nên nằm trăn-trở hoài không ngủ được.

Rạng ngày thầy Đàng ráng đi ra chợ kiếm tiệm thuốc khách-trú vô mà cầu thầy coi mạch hốt thuốc đem về sắc uống. Lúc thầy ra đi thì thằng Được lén chạy xuống dưới đầu cầu quây dòm coi ghe bà Hội-đồng còn đậu đó hay không. Nó thấy không có ghe đậu đó nữa mới lần bước trở về, ngoài mặt buồn xo trong lòng như dao cắt.

Thầy Đàng uống bốn năm thang thuốc thì hết nóng lạnh nữa, nhưng mà trong mình còn mệt mỏi, tay chơn bải hoải, lại ăn cơm không biết ngon. Thầy muốn ở đậu ít ngày đặng dưỡng bịnh, song thấy vợ thầy Sung không được vui, chồng có ở nhà thì bình an, hễ chồng xách dù đi làm việc thì mắn chưởi chó mèo, la rầy tôi tớ om sòm, thầy nằm nghĩ không được, nên thầy từ giả rồi dắc thằng Được ra đi, tính lên Saigon kiếm thầy giáo Hai, là bạn thiết của mình ngày xưa, đặng gởi thằng Được cho nó ở mà đi học còn mình thì đi dạy đờn kiếm tiền may áo quần, mua sách vở cho nó. Ra đến nhà giấy xe lửa thầy nhớ sực thầy có quen với một thầy Hội-đồng ở Bến-lức, khi trước có hứa giúp vốn cho thầy làm ăn, mà từ ấy đến nay thầy không nghe tin tức, nên tính ghé lại đó trước viếng thăm sau ở đậu ít ngày mà dưỡng bịnh, chớ trong mình chưa thiệt mạnh, nếu lên Saigon thì ở đậu nhà nào cũng chật hẹp, không thong thả được. Thầy tính như vậy nên mua giấy đi Bến-lức.