- Tác giả
- Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Kleine, Schmitt và Wisse (2021)
- Lĩnh vực
- Đào tạo & Phát triển nguồn nhân lực số
- Từ khóa
- tự tin nghề nghiệp, khám phá nghề nghiệp, SCCT, ra quyết định nghề nghiệp, hướng nghiệp
Tóm tắt
Vì sao có học sinh chủ động tìm hiểu nghề, có em thì không? Phân tích gộp trên gần 35.000 sinh viên cho thấy niềm tin "mình làm được" là yếu tố gắn mạnh nhất với hành vi khám phá nghề nghiệp. Kèm các nghiên cứu bổ sung và gợi ý cho nhà trường.
Phần kết quả phân tích gộp lược dịch từ tóm tắt bài: Kleine, A.-K., Schmitt, A. & Wisse, B. M. (2021). Students' career exploration: A meta-analysis. Journal of Vocational Behavior, 131, 103645 (giấy phép CC BY 4.0). Các phần còn lại do Ban Biên tập IESDTD tổng hợp từ các nguồn ghi ở cuối bài.
Trong hướng nghiệp, việc học sinh tự đi tìm hiểu — đọc về ngành nghề, hỏi người đi trước, tham quan, thử sức — quan trọng không kém những gì nhà trường cung cấp. Các nhà tâm lý học gọi đó là khám phá nghề nghiệp: tìm hiểu môi trường bên ngoài và chính bản thân mình nhằm thu thập thông tin cho việc chọn nghề. Câu hỏi là: điều gì khiến một học sinh chủ động khám phá?
Mô hình nhận thức xã hội về nghề nghiệp (SCCT)
Lý thuyết nhận thức xã hội về nghề nghiệp (Social Cognitive Career Theory – SCCT) của Robert Lent, Steven Brown và cộng sự dựa trên lý thuyết nhận thức xã hội của Albert Bandura. Năm 2013, Lent và Brown mở rộng lý thuyết thành mô hình tự quản lý nghề nghiệp (career self-management), giải thích những hành vi thích ứng mà ai cũng cần trong suốt đời làm việc — như khám phá, ra quyết định, tìm việc. Mô hình gồm ba yếu tố nhận thức cốt lõi:
- Niềm tin vào năng lực bản thân (self-efficacy): "Mình có làm được việc này không?" — ví dụ tin rằng mình có thể tìm được thông tin về một ngành, có thể ra quyết định chọn ngành;
- Kỳ vọng kết quả (outcome expectations): "Nếu làm thì được gì?" — ví dụ tin rằng tìm hiểu kỹ sẽ giúp chọn đúng hơn;
- Mục tiêu: ý định cụ thể sẽ làm việc đó.
Bên cạnh là các yếu tố bối cảnh: sự hỗ trợ (gia đình, thầy cô, bạn bè) và rào cản (thiếu tiền, thiếu thông tin, định kiến).
Phân tích gộp 109 nghiên cứu (Kleine, Schmitt & Wisse, 2021)
Nhóm tác giả (Đại học Groningen, Hà Lan) kiểm tra mô hình tự quản lý nghề nghiệp trên dữ liệu gộp từ 109 mẫu nghiên cứu với 34.969 sinh viên cao đẳng, đại học. Kết quả (hệ số tương quan đã hiệu chỉnh):
| Yếu tố | Tương quan với khám phá nghề nghiệp |
|---|---|
| Tự tin vào khả năng khám phá và ra quyết định nghề nghiệp | 0,52 |
| Mục tiêu khám phá | 0,42 |
| Hỗ trợ liên quan đến nghề nghiệp | 0,33 |
| Kỳ vọng kết quả | 0,31 |
| Rào cản | −0,15 |
Về kết quả đầu ra, khám phá nghề nghiệp gắn với mức độ đã xác định được hướng nghề (0,22) và cảm nhận về khả năng có việc làm của bản thân (0,35). Phân tích đường dẫn cho thấy tác động của sự tự tin và kỳ vọng kết quả lên hành vi khám phá đi qua mục tiêu: người tự tin hơn đặt mục tiêu khám phá rõ hơn, và chính mục tiêu dẫn đến hành động. Một số mối quan hệ thay đổi theo đặc điểm mẫu (tuổi, giới, văn hóa) và cách đo.
Giới hạn: đây là dữ liệu tương quan trên sinh viên sau phổ thông; chưa thể khẳng định quan hệ nhân quả và cần thận trọng khi suy rộng cho học sinh phổ thông.
Bằng chứng bổ sung
Tự tin môn học và nghề STEM ở học sinh THCS
Khảo sát 1.448 học sinh lớp 7 và lớp 9 ở vùng Đại Tây Dương (Canada) cho thấy hiểu biết của các em về yêu cầu môn Toán, Khoa học của các nghề STEM còn rất hạn chế. Học sinh có niềm tin cao vào năng lực Toán của mình hiểu rõ hơn về yêu cầu của nghề STEM và có khả năng chọn nghề STEM cao hơn; ở học sinh có niềm tin thấp, hứng thú với nghề STEM giảm dần (Blotnicky và cộng sự, 2018).
Hỗ trợ xã hội cần đi qua sự tự tin
Hai nghiên cứu trên sinh viên cho kết quả giống nhau. Ở 538 sinh viên năm cuối tại Indonesia, sự hỗ trợ của bạn bè chỉ gắn với khả năng thích ứng nghề nghiệp thông qua sự tự tin khi ra quyết định nghề nghiệp (Agoes Salim và cộng sự, 2023). Ở 770 sinh viên Trung Quốc, hỗ trợ xã hội không trực tiếp làm giảm khó khăn khi ra quyết định nghề nghiệp, mà tác động gián tiếp qua vốn tâm lý và sự tự tin (Zhou và cộng sự, 2024). Nói cách khác, cho thông tin và lời khuyên là chưa đủ nếu người học không tin mình dùng được những thông tin đó.
Can thiệp có thể nâng sự tự tin
Báo cáo năm 2024 của OECD về hướng nghiệp và bất bình đẳng mô tả một can thiệp ở Mỹ (Falco & Summers, 2017) dành cho nữ sinh trung học: chín buổi tư vấn nhóm, mỗi buổi 50 phút, gồm tìm hiểu nghề STEM, thảo luận khó khăn phụ nữ có thể gặp trong các nghề này, rèn tư duy phát triển, nhìn lại những trải nghiệm thành công của bản thân, xử lý lo âu, tìm hình mẫu, khẳng định điểm mạnh, đặt mục tiêu và kế hoạch. Sau ba tháng, nhóm tham gia có sự tự tin khi ra quyết định nghề nghiệp và tự tin về STEM cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng.
Gợi ý cho nhà trường, giáo viên Việt Nam
- Đặt mục tiêu khám phá cụ thể thay vì lời khuyên chung chung: "Trong tháng này, em tìm hiểu 3 ngành, phỏng vấn 1 người đang làm một trong các nghề đó."
- Tạo trải nghiệm thành công nhỏ: giao các nhiệm vụ tìm thông tin vừa sức, hướng dẫn từng bước, rồi để học sinh tự làm; khen ngợi cụ thể quá trình.
- Cho học sinh gặp hình mẫu gần gũi — cựu học sinh, người cùng quê, cùng hoàn cảnh — để thấy "người như mình cũng làm được".
- Gắn môn học với nghề: niềm tin vào năng lực một môn (như Toán) ảnh hưởng đến việc học sinh có dám nghĩ tới các nghề cần môn đó hay không.
- Nhận diện rào cản (tài chính, thông tin, định kiến giới) và cùng học sinh tìm cách vượt qua, thay vì chỉ động viên.
Nguồn tham khảo
- Kleine, A.-K., Schmitt, A. & Wisse, B. M. (2021). Students' career exploration: A meta-analysis. Journal of Vocational Behavior, 131, 103645 (CC BY 4.0). https://doi.org/10.1016/j.jvb.2021.103645
- Lent, R. W. & Brown, S. D. (2013). Social cognitive model of career self-management: Toward a unifying view of adaptive career behavior across the life span. Journal of Counseling Psychology, 60(4), 557–568. https://doi.org/10.1037/a0033446
- Blotnicky, K. A., Franz-Odendaal, T., French, F. & Joy, P. (2018). A study of the correlation between STEM career knowledge, mathematics self-efficacy, career interests, and career activities on the likelihood of pursuing a STEM career among middle school students. International Journal of STEM Education, 5, 22 (CC BY). https://doi.org/10.1186/s40594-018-0118-3
- Agoes Salim, R. M., Istiasih, M. R., Rumalutur, N. A. & Biondi Situmorang, D. D. (2023). The role of career decision self-efficacy as a mediator of peer support on students' career adaptability. Heliyon, 9(4), e14911 (CC BY). https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2023.e14911
- Zhou, A., Liu, J., Xu, C. & Jobe, M. C. (2024). Effect of Social Support on Career Decision-Making Difficulties: The Chain Mediating Roles of Psychological Capital and Career Decision-Making Self-Efficacy. Behavioral Sciences, 14(4), 318 (CC BY). https://doi.org/10.3390/bs14040318
- OECD (2024). Challenging Social Inequality Through Career Guidance: Insights from International Data and Practice. OECD Publishing, Paris. https://doi.org/10.1787/619667e2-en
Trích dẫn bài viết
Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Kleine, Schmitt và Wisse (2021) (2026). Tự tin nghề nghiệp và khám phá nghề nghiệp: mô hình nhận thức xã hội (SCCT) và phân tích gộp 109 nghiên cứu. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/tu-tin-nghe-nghiep-va-kham-pha-nghe-nghiep-mo-hinh-scct