Đơn vị trực thuộc Hội Khoa học phát triển Nguồn nhân lực - Nhân tài Việt Nam

0922812345 [email protected]

Tính cách và kết quả học tập: tính tận tâm quan trọng đến đâu so với năng lực nhận thức?

Nghiên cứu

Tác giả
Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Lechner, Bender, Brandt và Rammstedt (2021)
Lĩnh vực
Nhân trắc học & Khoa học não bộ
Từ khóa
tính cách, tính tận tâm, kết quả học tập, Big Five, bất bình đẳng giáo dục

Tóm tắt

Các phân tích gộp lớn cho thấy tính tận tâm dự báo kết quả học tập ngay cả khi đã tính đến trí thông minh, còn tính cởi mở quan trọng hơn ở những năm đầu đi học. Lược dịch nghiên cứu trên 9.300 học sinh lớp 9 Đức về bất bình đẳng xã hội trong các nét tính cách này.

Lược dịch từ: Lechner, C. M., Bender, J., Brandt, N. D. & Rammstedt, B. (2021), "Two Forms of Social Inequality in Students' Socio-Emotional Skills…", Frontiers in Psychology (giấy phép CC BY 4.0). Phần tổng quan các phân tích gộp (Poropat, 2009; Mammadov, 2022) và nghiên cứu của Odermatt và cộng sự (2024) do Ban Biên tập tóm tắt từ tóm tắt công bố của các bài; phần "Gợi ý" là bình luận của Ban Biên tập.

Điểm số của học sinh không chỉ phụ thuộc vào "đầu óc". Một em chăm chỉ, làm bài đều đặn, có kế hoạch thường học tốt hơn một em thông minh tương đương nhưng thất thường. Nghiên cứu về tính cách và học tập dùng mô hình Năm nhân tố (Big Five) để đo những khác biệt này và hỏi: chúng đóng góp bao nhiêu vào kết quả học tập, và có làm bất bình đẳng sâu thêm không?

Bằng chứng từ các phân tích gộp

Poropat (2009): hơn 70.000 người học

Phân tích gộp của Arthur Poropat trên Psychological Bulletin, với cỡ mẫu cộng dồn tới hơn 70.000 người (phần lớn ở bậc đại học, một phần ở phổ thông, ít hơn ở tiểu học), thấy kết quả học tập tương quan có ý nghĩa với tính dễ chịu, tính tận tâm và tính cởi mở. Liên hệ của tính tận tâm phần lớn độc lập với trí thông minh. Theo trích dẫn của Lechner và cộng sự, sau khi điều chỉnh theo năng lực nhận thức, hệ số tương quan là r = 0,24 với tính tận tâm, r = 0,09 với tính cởi mở và r = 0,07 với tính dễ chịu. Bậc học và tuổi làm thay đổi độ mạnh các mối liên hệ.

Mammadov (2022): 413.074 người học

Phân tích gộp của Sakhavat Mammadov trên Journal of Personality tổng hợp 267 mẫu độc lập (N = 413.074) trong 228 nghiên cứu. Theo tóm tắt của tác giả:

  • Năng lực nhận thức và năm nét tính cách cùng giải thích 27,8% phương sai kết quả học tập.
  • Năng lực nhận thức là yếu tố dự báo quan trọng nhất (tầm quan trọng tương đối 64%).
  • Tính tận tâm là yếu tố dự báo mạnh và vững, kể cả khi đã kiểm soát năng lực nhận thức, chiếm 28% phần phương sai được giải thích.
  • Tính cởi mở, hướng ngoại và dễ chịu có liên hệ mạnh hơn rõ rệt ở bậc tiểu học/THCS so với các bậc sau; tính cởi mở, dù yếu xét chung, là yếu tố quan trọng ở những năm đầu đi học.
Yếu tốVai trò với kết quả học tập
Năng lực nhận thứcDự báo mạnh nhất
Tận tâmDự báo mạnh, độc lập với năng lực nhận thức
Cởi mởCó ý nghĩa, rõ hơn ở những năm đầu đi học
Dễ chịu, hướng ngoạiNhỏ, rõ hơn ở bậc thấp
Bất ổn cảm xúcNhỏ, không nhất quán

Ai đánh giá cũng quan trọng

Odermatt và cộng sự (2024, Journal of Research in Personality, CC BY) nghiên cứu 766 thiếu niên ở hai mẫu: trí thông minh (đo bằng bài kiểm tra) liên quan đến cả điểm số lẫn đánh giá chủ quan về học lực; tính tận tâm (do cha mẹ đánh giá) giải thích thêm phương sai ngoài trí thông minh đối với điểm số và đánh giá của cha mẹ, nhưng hầu như không với tự đánh giá của học sinh. Động cơ phấn đấu thành tích cũng đóng góp thêm. Cũng như phân tích gộp về khí chất đã cho thấy, mối liên hệ giữa tính cách và học tập phụ thuộc vào việc ai chấm điểm và ai đánh giá tính cách.

Tính cách và bất bình đẳng xã hội: nghiên cứu trên 9.300 học sinh Đức

Nhiều nhà hoạch định chính sách hy vọng rằng bồi dưỡng "kỹ năng cảm xúc – xã hội" sẽ giúp học sinh thiệt thòi bắt kịp. Một số nhà nghiên cứu lại cảnh báo điều này có thể làm bất bình đẳng tăng lên, nếu các nét tính cách có lợi cho học tập vốn đã phân bố không đều theo hoàn cảnh gia đình. Lechner và cộng sự kiểm tra hai giả định này.

Phương pháp

  • Dữ liệu: Khảo sát Giáo dục Quốc gia Đức (NEPS), mẫu đại diện 9.300 học sinh lớp 9, tuổi trung bình 15,1, 51,8% nữ.
  • Tính cách: bảng hỏi rất ngắn BFI-10 (11 câu, có câu thuận và câu nghịch để loại bớt xu hướng "cái gì cũng đồng ý" — xu hướng này thường gặp hơn ở người có học vấn hoặc năng lực nhận thức thấp hơn).
  • Hoàn cảnh gia đình: chỉ số địa vị nghề nghiệp cao nhất của cha mẹ.
  • Kết quả học tập: điểm trung bình sáu môn (tiếng Đức, toán, vật lý, hóa, sinh hoặc khoa học tự nhiên) do học sinh tự báo cáo. Năng lực nhận thức: bài kiểm tra ma trận 12 câu.

Kết quả

  • Khác biệt tính cách theo hoàn cảnh gia đình rất nhỏ (0,04 ≤ |r| ≤ 0,09), nhỏ hơn nhiều so với khác biệt về năng lực nhận thức theo hoàn cảnh gia đình, và nhỏ hơn khác biệt tính cách theo giới. Lớn nhất là tính cởi mở (r = 0,09, cao hơn ở học sinh gia đình có địa vị cao). Đáng chú ý, học sinh gia đình địa vị cao trung bình tự báo cáo tính tận tâm thấp hơn một chút.
  • "Lợi ích" của tính tận tâm không đều: tính tận tâm liên hệ với điểm số mạnh hơn ở học sinh gia đình địa vị cao — phù hợp với giả thuyết "khuếch đại nguồn lực" (gia đình nhiều nguồn lực giúp nét tính cách tốt phát huy nhiều hơn). Với bốn nét còn lại, không có khác biệt.
  • Nhìn chung, cả hai dạng bất bình đẳng đều có quy mô hạn chế.

Giới hạn do tác giả nêu

  • Thiết kế tương quan, cắt ngang: không kết luận được quan hệ nhân quả; có thể có yếu tố chung chưa đo, như di truyền.
  • Thang đo tính cách cực ngắn, không phân tích được các khía cạnh hẹp.
  • Dữ liệu từ Đức; cần kiểm chứng ở hệ thống giáo dục khác.

Đọc kết quả thế nào cho đúng?

  • Tính cách đóng góp thật nhưng vừa phải: phần lớn khác biệt về kết quả học tập vẫn chưa được giải thích bởi năng lực nhận thức và tính cách cộng lại.
  • Các con số là xu hướng ở cấp nhóm. Một học sinh có điểm tận tâm thấp vẫn có thể học rất tốt và ngược lại.
  • Tính tận tâm có thể thay đổi theo tuổi và trải nghiệm học tập (xem bài về Big Five ở trẻ em và thanh thiếu niên); nó không phải "bản chất" cố định.

Gợi ý cho nhà trường và giáo viên Việt Nam

(Bình luận của Ban Biên tập)

  • Dạy các hành vi của tính tận tâm như kỹ năng: lập kế hoạch, chia nhỏ việc lớn, theo dõi tiến độ, ghi chép bài tập. Đây là những thứ học được, không cần "đổi tính".
  • Tạo cấu trúc cho học sinh ít nguồn lực gia đình. Kết quả ở Đức gợi ý học sinh gia đình khó khăn được "hưởng lợi" ít hơn từ sự chăm chỉ của chính mình; nhà trường có thể bù đắp bằng góc học tập, giờ tự học có hướng dẫn, phản hồi thường xuyên.
  • Coi chừng thiên lệch khi chấm điểm: điểm do giáo viên cho có thể thưởng cả cho sự ngoan ngoãn, gọn gàng chứ không chỉ cho mức độ hiểu bài. Nên kết hợp các hình thức đánh giá.
  • Không dùng trắc nghiệm tính cách để tuyển chọn, phân lớp học sinh: giá trị dự báo cho cá nhân thấp, bảng hỏi chưa được kiểm định ở Việt Nam, và kết quả dễ bị trả lời theo hướng "đẹp".

Nguồn tham khảo

  1. Lechner, C. M., Bender, J., Brandt, N. D., Rammstedt, B. (2021). Two Forms of Social Inequality in Students' Socio-Emotional Skills: Do the Levels of Big Five Personality Traits and Their Associations With Academic Achievement Depend on Parental Socioeconomic Status? Frontiers in Psychology, 12, 679438 (CC BY 4.0). https://doi.org/10.3389/fpsyg.2021.679438
  2. Poropat, A. E. (2009). A meta-analysis of the five-factor model of personality and academic performance. Psychological Bulletin, 135(2), 322–338. https://doi.org/10.1037/a0014996
  3. Mammadov, S. (2022). Big Five personality traits and academic performance: A meta-analysis. Journal of Personality, 90(2), 222–255. https://doi.org/10.1111/jopy.12663
  4. Odermatt, S. D., Weidmann, R., Schweizer, F., Grob, A. (2024). Academic performance through multiple lenses: Intelligence, conscientiousness, and achievement striving motivation as differential predictors of objective and subjective measures of academic achievement in two studies of adolescents. Journal of Research in Personality, 104461 (CC BY). https://doi.org/10.1016/j.jrp.2024.104461

Trích dẫn bài viết

Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Lechner, Bender, Brandt và Rammstedt (2021) (2026). Tính cách và kết quả học tập: tính tận tâm quan trọng đến đâu so với năng lực nhận thức?. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/tinh-cach-va-ket-qua-hoc-tap