- Tác giả
- Ban Biên tập IESDTD tổng hợp
- Lĩnh vực
- Trí tuệ nhân tạo, Khoa học dữ liệu & Công nghệ số
- Từ khóa
- chuyển đổi số giáo dục, hệ sinh thái số, dữ liệu giáo dục, liên thông dữ liệu, OECD
Tóm tắt
Báo cáo OECD Digital Education Outlook 2023 khảo sát hạ tầng số và quản trị giáo dục số của 29 quốc gia, vùng lãnh thổ: phần lớn mới "số hóa" quy trình cũ chứ chưa "chuyển đổi"; dữ liệu thiếu liên thông; ít nước đánh giá hiệu quả đầu tư công nghệ.
Báo cáo OECD Digital Education Outlook 2023: Towards an Effective Digital Education Ecosystem (Triển vọng giáo dục số 2023: Hướng tới một hệ sinh thái giáo dục số hiệu quả) của OECD là một trong những so sánh quốc tế đầy đủ nhất về hạ tầng và quản trị giáo dục số. Báo cáo dựa trên khảo sát có hệ thống các nước OECD và Brazil, phỏng vấn và nghiên cứu tài liệu; báo cáo đi kèm mô tả chi tiết 29 quốc gia, vùng lãnh thổ. Số liệu được các nước kiểm tra lại vào tháng 12/2023.
Thông điệp tổng quát: các nước đã có tiến bộ trong số hóa hệ thống giáo dục, nhưng phần lớn mới ở giai đoạn chuyển tiếp số (dùng công nghệ để làm số hóa quy trình cũ), chưa đạt tới chuyển đổi số thực sự (dùng dữ liệu và công cụ số để thay đổi cách dạy, học và quản lý).
Hệ sinh thái giáo dục số gồm những gì
Báo cáo định nghĩa hệ sinh thái giáo dục số gồm ba phần: công cụ số quản lý hệ thống và nhà trường; công cụ số cho dạy, học và đánh giá trong lớp; và con người – những người làm cho các công cụ ấy có ý nghĩa. Báo cáo cố ý không bắt đầu bằng thiết bị, đường truyền, để nhấn mạnh rằng chỉ cung cấp máy tính và mạng tốt sẽ không dẫn tới cải thiện giáo dục, dù hạ tầng vẫn là điều kiện tiên quyết.
Những phát hiện chính
1. Dữ liệu người học: có nhưng chưa được dùng nhiều
Nền tảng của hạ tầng số cấp hệ thống là hệ thống thông tin học sinh theo dõi theo thời gian (với mã định danh duy nhất). Đến năm 2023, phần lớn các nước OECD đã có hệ thống này, nhưng chủ yếu dùng cho thống kê, chưa cung cấp thông tin kịp thời cho nhà trường, giáo viên.
2. Thiếu liên thông
Phần lớn trường học có hệ thống quản lý học tập, nhưng ở khoảng một nửa số nước, các hệ thống này không liên thông với hệ thống thông tin cấp quốc gia/vùng, khiến nhà trường phải nhập tay dữ liệu báo cáo cho cơ quan quản lý và không nhận lại được thông tin gì từ dữ liệu đã nộp. Hệ quả: cán bộ phải nhập cùng một dữ liệu nhiều lần, và phần lớn dữ liệu thu thập ở cấp hệ thống "nằm im" thay vì được dùng để cải thiện giáo dục.
3. Học liệu số: kết hợp mở và thương mại
OECD cùng UNESCO từ lâu khuyến khích các nước xây dựng nền tảng học liệu mở. Báo cáo nhận định: một nền học liệu miễn phí, mở là quan trọng để mọi người đều hưởng lợi từ giáo dục công, nhưng các nhà cung cấp tư nhân nhìn chung có lợi thế trong việc cập nhật học liệu và nên tiếp tục là một phần của việc cung cấp, mua sắm công.
4. Năng lực số của giáo viên: quy định nhiều, kiểm chứng ít
24 trên 29 nước có quy định hoặc hướng dẫn quốc gia về năng lực số của giáo viên; 14 nước có quy định cho đào tạo giáo viên ban đầu nhưng chỉ 3 nước có quy định cho giáo viên đang giảng dạy. Vì ít nước thực sự đánh giá năng lực số của giáo viên hay gắn nó với kiểm định, báo cáo đặt câu hỏi về hiệu quả thực tế của các quy định này.
5. Bất bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng
Đại dịch COVID-19 bộc lộ bất bình đẳng về cả hạ tầng "cứng" lẫn "mềm". Do phân cấp trách nhiệm, mức độ đầu tư và sử dụng công nghệ giữa các địa phương chênh lệch lớn – có nơi "đi đầu", có nơi "tụt hậu".
6. Quản trị dữ liệu và thuật toán còn khoảng trống
Mọi nước OECD đều có quy định bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư đối với dữ liệu hành chính giáo dục. Tuy nhiên, theo báo cáo, chưa nước nào có quy định hay hợp đồng để khu vực công tiếp cận dữ liệu do các nhà cung cấp thương mại thu thập trong trường công; cũng chưa có quy định riêng về thuật toán hay quyết định tự động trong giáo dục, và tính đến năm 2024 chưa nước nào báo cáo dùng công cụ AI cho các quyết định có hệ quả cao hoặc trung bình trong giáo dục.
7. Mua sắm và đánh giá hiệu quả
Việc mua sắm công cụ số thường không gắn với yêu cầu về kết quả nào ngoài bảo vệ dữ liệu và an ninh – khác với ngành y tế. Báo cáo nhận xét "đáng chú ý" là rất ít nước thực sự theo dõi, đánh giá các khoản đầu tư vào công cụ và học liệu số; thông tin về hạ tầng trong trường, chưa nói tới việc sử dụng công nghệ, thường không có.
8. Chiến lược và tổ chức hỗ trợ
Gần một nửa số nước công bố chiến lược giáo dục số mới từ năm 2020. Các chiến lược này thường tập trung vào thiết bị, năng lực số của giáo viên và học sinh, ít khi đề cập việc nâng cấp học liệu bằng công cụ AI. Nhiều nước lập các tổ chức hỗ trợ chuyên trách để triển khai.
Chín định hướng về AI trong giáo dục của OECD và Education International
Phần cuối báo cáo là văn bản lập trường do Ban Thư ký OECD và Education International (liên đoàn quốc tế các công đoàn giáo viên) cùng xây dựng, nhằm thúc đẩy đối thoại giữa cơ quan quản lý và giới nhà giáo:
- Tiếp cận công bằng đường truyền chất lượng, giá phải chăng.
- Tiếp cận và sử dụng công bằng học liệu số; giáo viên được dùng theo đánh giá chuyên môn của mình.
- Quyền chủ động nghề nghiệp và học tập chuyên môn của giáo viên.
- Đặt sức khỏe, tinh thần của học sinh và giáo viên lên hàng đầu, cân bằng giữa hoạt động số và không số.
- Cùng kiến tạo công cụ AI với giáo viên, học sinh và người dùng cuối.
- Nghiên cứu và cùng tạo ra bằng chứng thông qua đổi mới có kỷ luật.
- Đạo đức, an toàn và bảo vệ dữ liệu; cung cấp cho nhà trường hướng dẫn rõ ràng và có thể là mẫu hợp đồng đã đàm phán sẵn khi dùng giải pháp thương mại; kiểm tra thiên lệch thuật toán.
- Minh bạch, giải thích được và thương lượng khi dùng công cụ có hệ quả cao như đánh giá.
- Bảo đảm có hỗ trợ của con người và phương án thay thế do con người thực hiện khi cần.
Gợi ý cho cơ quan quản lý và nhà trường Việt Nam
- Ưu tiên liên thông dữ liệu: giảm việc giáo viên, cán bộ phải nhập cùng một dữ liệu vào nhiều hệ thống; dữ liệu nhà trường báo cáo lên cần được "trả về" dưới dạng thông tin hữu ích cho chính nhà trường.
- Không đồng nhất chuyển đổi số với mua thiết bị: đầu tư cho bồi dưỡng giáo viên, học liệu và tổ chức hỗ trợ cần song hành với đầu tư phần cứng.
- Gắn mua sắm với đánh giá hiệu quả: khi mua phần mềm, học liệu số, nên xác định trước tiêu chí đánh giá và theo dõi việc sử dụng thực tế.
- Hợp đồng mẫu về dữ liệu: cơ quan quản lý có thể xây dựng hướng dẫn, mẫu điều khoản bảo vệ dữ liệu học sinh để nhà trường dùng khi ký với nhà cung cấp.
- Đưa giáo viên vào quá trình thiết kế công cụ và quy định sử dụng AI.
Nguồn tham khảo
- OECD (2023). OECD Digital Education Outlook 2023: Towards an Effective Digital Education Ecosystem. OECD Publishing, Paris. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2023/12/oecd-digital-education-outlook-2023_c827b81a/c74f03de-en.pdf
- OECD (2023). Executive Summary – OECD Digital Education Outlook 2023. https://www.oecd.org/en/publications/oecd-digital-education-outlook-2023_c74f03de-en/full-report/executive-summary_c4bdcd2f.html
- OECD & Education International (2023). Opportunities, guidelines and guardrails for effective and equitable use of AI in education. Trong OECD Digital Education Outlook 2023, chương 16. https://doi.org/10.1787/c74f03de-en
Trích dẫn bài viết
Ban Biên tập IESDTD tổng hợp (2026). Hệ sinh thái giáo dục số: những phát hiện chính của báo cáo OECD Digital Education Outlook 2023. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/oecd-digital-education-outlook-2023-he-sinh-thai-giao-duc-so