- Tác giả
- Ban Biên tập IESDTD tổng hợp
- Lĩnh vực
- Giáo dục STEM
- Từ khóa
- nữ giới trong STEM, bình đẳng giới, UNESCO, định kiến giới, hướng nghiệp
Tóm tắt
Báo cáo "Cracking the code" của UNESCO (2017) cho thấy khoảng cách giới trong STEM không bắt nguồn từ khác biệt sinh học mà từ quá trình xã hội hóa và học tập. Bài tóm lược số liệu, các yếu tố tác động, những biện pháp có bằng chứng và gợi ý cho nhà trường, gia đình.
Năm 2017, UNESCO công bố báo cáo Cracking the code: Girls' and women's education in science, technology, engineering and mathematics (STEM) (Giải mã: Giáo dục STEM cho trẻ em gái và phụ nữ). Báo cáo dựa trên rà soát dữ liệu quốc gia, nghiên cứu bình duyệt và kết quả các khảo sát quốc tế, với dữ liệu từ hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ. Văn bản báo cáo được phát hành theo giấy phép mở CC BY-SA 3.0 IGO. Phần dưới đây tóm lược những điểm chính, có bổ sung một số nguồn khác.
Bức tranh số liệu
Theo UNESCO, khác biệt giới trong tham gia giáo dục STEM bất lợi cho trẻ em gái đã có thể thấy từ giáo dục mầm non và rõ hơn ở các bậc học cao hơn. Trẻ em gái dường như giảm hứng thú với các môn STEM khi lớn lên, và tỉ lệ tham gia thấp hơn đã thấy ở các môn học nâng cao ở bậc trung học.
- Ở bậc đại học, nữ chỉ chiếm 35% tổng số sinh viên theo học các ngành liên quan đến STEM trên toàn cầu.
- Trong số nữ sinh viên đại học, chỉ khoảng 30% chọn ngành liên quan đến STEM. Tỉ lệ đặc biệt thấp ở công nghệ thông tin và truyền thông (3%), khoa học tự nhiên, toán và thống kê (5%), kỹ thuật, sản xuất và xây dựng (8%).
- Phụ nữ rời bỏ các ngành STEM với tỉ lệ cao bất thường trong khi học đại học, khi chuyển sang thị trường lao động và cả trong quá trình làm nghề.
Số liệu gần đây hơn của OECD cho thấy khoảng cách trong kỳ vọng nghề nghiệp vẫn lớn. Theo phân tích dữ liệu PISA 2018 của Anthony Mann và Filippo Besa (2021), trung bình ở các nước OECD, 7,7% nam sinh và 1,8% nữ sinh 15 tuổi cho biết mong muốn làm kỹ sư khi 30 tuổi.
Năng lực học tập: khoảng cách không như nhiều người nghĩ
Báo cáo UNESCO cho thấy bức tranh về kết quả học tập phức tạp hơn định kiến phổ biến. Ở các nước thu nhập trung bình đến cao có dữ liệu theo thời gian, khoảng cách bất lợi cho nữ sinh đang thu hẹp, đặc biệt ở môn khoa học. Ở nhiều nước châu Á, nữ sinh có kết quả tốt hơn nam sinh. Với môn toán, nhiều nước vẫn có khác biệt nghiêng về nam sinh, và khoảng cách này thường tăng từ đầu đến cuối bậc tiểu học.
Không phải do sinh học
Một kết luận quan trọng của báo cáo: các nghiên cứu về cấu trúc và sự phát triển của não, di truyền, thần kinh học và nội tiết cho thấy khoảng cách giới trong STEM không phải là kết quả của khác biệt giới tính ở các yếu tố này hay ở năng lực bẩm sinh. Theo UNESCO, việc học được nâng đỡ bởi tính mềm dẻo của não; kết quả học tập, kể cả ở các môn STEM, chịu ảnh hưởng của trải nghiệm và có thể cải thiện qua các can thiệp có mục tiêu. Kỹ năng không gian và ngôn ngữ, vốn có tương quan thuận với kết quả môn toán, có thể được cải thiện qua luyện tập ở cả nam và nữ, nhất là trong những năm đầu đời.
Báo cáo cũng nêu rõ giới hạn: nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố sinh học đến hành vi, kể cả kết quả học tập, còn ở giai đoạn đầu với nhiều kết quả sơ bộ hoặc chưa kết luận được.
Các yếu tố thực sự tác động
UNESCO dùng mô hình sinh thái với bốn cấp độ:
| Cấp độ | Yếu tố chính theo báo cáo |
|---|---|
| Cá nhân | Sự tự tin, tự tin vào năng lực bản thân (self-efficacy), hứng thú; việc nữ sinh "tự chọn" không theo STEM thực chất là kết quả của xã hội hóa và định kiến được truyền từ nhỏ. |
| Gia đình | Niềm tin, thái độ, kỳ vọng của cha mẹ; mẹ có ảnh hưởng lớn hơn đến lựa chọn học tập và nghề nghiệp của con gái, có thể do vai trò làm gương. |
| Nhà trường | Chất lượng giáo viên, giới tính giáo viên (giáo viên nữ dạy STEM có ảnh hưởng tích cực đến nữ sinh), kỳ vọng và cách đối xử của giáo viên, nội dung và học liệu, cách đánh giá, môi trường học tập. |
| Xã hội | Chuẩn mực văn hóa và giới, hình ảnh phụ nữ trên truyền thông, mức độ bình đẳng giới trong xã hội. |
Ở cấp nhà trường, báo cáo ghi nhận: nữ sinh học tốt hơn khi giáo viên có kỳ vọng cao và đối xử công bằng; chương trình cân bằng giới, gắn khái niệm trừu tượng với tình huống thực tế, và hoạt động thực hành có thể tăng hứng thú của nữ sinh; nội dung và hình thức đánh giá có thể ảnh hưởng đến kết quả, trong đó lo âu khi học toán phổ biến hơn ở nữ; các hoạt động ngoại khóa, tham quan, trại hè và đặc biệt là hướng dẫn kèm cặp (mentoring) có lợi cho nữ sinh.
Biện pháp nào có bằng chứng?
UNESCO dẫn bộ hướng dẫn thực hành Encouraging Girls in Math and Science (2007) của Viện Khoa học Giáo dục (IES), Bộ Giáo dục Hoa Kỳ, do nhóm chuyên gia do Diane Halpern chủ trì biên soạn. Điểm đáng giá của tài liệu này là nó xếp hạng mức độ bằng chứng cho từng khuyến nghị:
| Khuyến nghị | Mức bằng chứng |
|---|---|
| Dạy học sinh rằng năng lực học tập có thể mở rộng và cải thiện được | Trung bình |
| Phản hồi cụ thể, mang tính hướng dẫn về quá trình, chiến lược và nỗ lực | Trung bình |
| Cho nữ sinh tiếp xúc với những phụ nữ thành công trong toán, khoa học | Thấp |
| Tạo môi trường lớp học khơi gợi tò mò, nuôi dưỡng hứng thú lâu dài | Trung bình |
| Tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng không gian | Thấp |
Bảng này nhắc rằng ngay cả những biện pháp phổ biến như mời "hình mẫu nữ" đến trường cũng mới có bằng chứng ở mức thấp. Điều đó không có nghĩa là không nên làm, nhưng không nên coi đó là giải pháp duy nhất.
Gợi ý cho nhà trường, giáo viên và phụ huynh Việt Nam
- Rà soát học liệu và lời nói hằng ngày. Tranh minh họa, ví dụ trong bài, cách khen ("con gái mà giỏi toán thế") đều có thể truyền định kiến. Hãy khen nỗ lực và chiến lược, không gắn năng lực với giới tính.
- Phân vai công bằng trong nhóm STEM. Theo dõi xem nữ sinh có thường được giao phần ghi chép, trang trí trong khi nam sinh cầm dụng cụ, lập trình hay không; luân phiên vai trò một cách có chủ đích.
- Kỳ vọng cao, đối xử như nhau. Gọi trả lời, giao nhiệm vụ khó, phản hồi chi tiết đồng đều cho nam và nữ.
- Chú ý lo âu khi làm toán và kiểm tra. Đa dạng hình thức đánh giá (sản phẩm, thuyết trình, hồ sơ học tập) bên cạnh bài kiểm tra tính giờ.
- Kết nối với thực tế và nghề nghiệp. Hoạt động trải nghiệm, tham quan cơ sở sản xuất, viện nghiên cứu, gặp gỡ nữ kỹ sư, nhà khoa học trong vùng; kết hợp với hoạt động hướng nghiệp.
- Phụ huynh là yếu tố then chốt. Cha mẹ, đặc biệt là mẹ, có ảnh hưởng lớn. Đồ chơi lắp ghép, câu đố không gian, việc cùng con sửa đồ dùng trong nhà dành cho cả con trai lẫn con gái.
- Thu thập số liệu của chính trường mình. Tỉ lệ nữ trong câu lạc bộ robot, đội dự thi khoa học kỹ thuật, lớp chọn tự nhiên qua các năm giúp nhà trường biết vấn đề có tồn tại ở mình hay không.
Nguồn tham khảo
- UNESCO (2017). Cracking the code: Girls' and women's education in science, technology, engineering and mathematics (STEM). Paris: UNESCO. ISBN 978-92-3-100233-5 (CC BY-SA 3.0 IGO). https://docs.euromedwomen.foundation/files/ermwf-documents/7466_3.236.crackingthecodegirls%E2%80%99andwomen%E2%80%99seducationinstem.pdf
- Halpern, D., Aronson, J., Reimer, N., Simpkins, S., Star, J. & Wentzel, K. (2007). Encouraging Girls in Math and Science (NCER 2007-2003). Institute of Education Sciences, U.S. Department of Education. https://ies.ed.gov/ncee/wwc/PracticeGuide/5
- Mann, A. & Besa, F. (2021). Looking for green engineers – Insights from PISA 2018. OECD Education and Skills Today. https://oecdedutoday.com/looking-for-green-engineers-insights-from-pisa-2018/
Trích dẫn bài viết
Ban Biên tập IESDTD tổng hợp (2026). Nữ sinh và STEM: "giải mã" khoảng cách giới theo báo cáo của UNESCO. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/nu-gioi-trong-stem-giai-ma-khoang-cach-gioi