Đơn vị trực thuộc Hội Khoa học phát triển Nguồn nhân lực - Nhân tài Việt Nam

0922812345 [email protected]

Khóa học trực tuyến mở đại trà (MOOC): tỷ lệ hoàn thành thấp đến đâu và nên đo thế nào cho đúng?

Nghiên cứu

Tác giả
Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Celik & Cagiltay (2024)
Lĩnh vực
Trí tuệ nhân tạo, Khoa học dữ liệu & Công nghệ số
Từ khóa
MOOC, khóa học trực tuyến, tỷ lệ hoàn thành, bỏ học, học tập suốt đời, học trực tuyến

Tóm tắt

Lược dịch nghiên cứu của Celik và Cagiltay (Open Praxis, 2024) so sánh ba cách tính tỷ lệ hoàn thành MOOC, kèm số liệu từ edX và thử nghiệm can thiệp hành vi với một phần tư triệu học viên: vì sao "chỉ 5% học xong" chưa phản ánh đủ, và điều gì thực sự giúp người học đi đến cuối khóa.

Phần chính lược dịch từ: Celik, B. & Cagiltay, K. (2024). Uncovering MOOC Completion: A Comparative Study of Completion Rates from Different Perspectives. Open Praxis, 16(3), 445–456 (giấy phép CC BY 4.0). Mục "Điều gì giúp người học đi đến cuối khóa?" và "Gợi ý" do Ban Biên tập tổng hợp thêm.

Khóa học trực tuyến mở đại trà (Massive Open Online Course – MOOC) từng được kỳ vọng sẽ "dân chủ hóa" giáo dục: ai có Internet cũng học được bài giảng của các trường đại học hàng đầu. Nhưng MOOC sớm bị phê phán vì tỷ lệ hoàn thành rất thấp. Câu hỏi đặt ra: con số thấp ấy phản ánh thất bại của MOOC, hay phản ánh cách đo chưa phù hợp với một hình thức học mà đăng ký gần như không tốn gì?

Những con số thường được trích dẫn

Celik và Cagiltay tóm lược các nghiên cứu trước:

  • Khóa MOOC đầu tiên của edX có hơn 155.000 người đăng ký, nhưng chưa đến 5% hoàn thành.
  • Jordan (2014) khảo sát 42 khóa trên Coursera, edX, Udacity: tỷ lệ hoàn thành từ 0,9% đến 36,1%, mức điển hình khoảng 5%. Nghiên cứu năm 2015 với 221 khóa: từ 0,7% đến 52,1%, trung vị 12,6%.
  • Hew và Cheung (2014) tổng hợp: chỉ 10–20% người học hoàn thành.
  • Reich và Ruipérez-Valiente (Science, 2019) phân tích toàn bộ dữ liệu edX từ 10/2012 đến 5/2018: tỷ lệ hoàn thành không cải thiện sau sáu năm; 52% người đăng ký không bao giờ bắt đầu học.

Vấn đề nằm ở mẫu số

Cách tính truyền thống lấy số người hoàn thành chia cho tổng số người đăng ký. Nhưng "đăng ký" một MOOC chỉ là bấm nút, khác hẳn việc nhập học một khóa chính quy; nhiều người đăng ký chỉ để xem thử, để tham khảo một phần, hoặc không bao giờ quay lại. Các tác giả nêu hai cách tính thay thế:

Cách tínhTử sốMẫu số
Truyền thốngSố người hoàn thànhTất cả người đăng ký
Theo người học tích cựcSố người hoàn thànhNgười đã bắt đầu học (có ít nhất một hoạt động)
Theo ý địnhSố người hoàn thànhNgười cho biết ngay từ đầu rằng họ định học hết khóa

Cách tính theo ý định được Reich (2014) đề xuất: khi xét riêng những người tuyên bố muốn lấy chứng chỉ, tỷ lệ đạt chứng chỉ trung bình là 22,1% (từ 9,1% đến 35,7%), so với khoảng 6% trên tổng số đăng ký. Ở edX, Chuang và Ho (2016) ghi nhận trung vị 30% trong số gần 498.000 người có ý định hoàn thành.

Nghiên cứu của Celik và Cagiltay

Hai tác giả phân tích bốn khóa tự học theo nhịp độ riêng trên cổng MOOC Bilgeİş (bilgeis.net) – hai khóa kỹ năng kỹ thuật, hai khóa kỹ năng mềm – bằng nhật ký hệ thống và một phiếu hỏi ý định đầu khóa với bốn lựa chọn: chưa chắc, xem lướt, dự thính, học hết. Hoàn thành được định nghĩa là đạt từ 70 điểm trở lên ở các bài kiểm tra và/hoặc bài tập, dự án của khóa. Dữ liệu được chốt ngày 26/4/2018.

Khóa họcĐăng kýKhông bắt đầuHoàn thành / đăng kýHoàn thành / người bắt đầuHoàn thành / người định học hết
Ứng xử với người khó tính7.17626,8%44,05%60,18%66,06%
Lập trình Python I5.66627,07%20,08%27,54%31,03%
Nguyên lý thiết kế thị giác1.56147,6%12,30%23,47%25,54%
Quản trị cơ sở dữ liệu với MS Access1.40242,15%18,12%31,32%34,67%
Tổng15.80530,31%30,02%43,08%48,13%

Ở cả bốn khóa, tỷ lệ tính theo ý định cao nhất, tiếp đến là theo người học tích cực, thấp nhất là cách truyền thống. Kết luận của các tác giả có hai mặt: tỷ lệ hoàn thành thấp là thực tế, kể cả ở một nước đang phát triển và bất kể yếu tố văn hóa, kinh tế – xã hội, ủng hộ những phê phán hiện có; nhưng vấn đề không nghiêm trọng như các con số truyền thống gợi ra. Nghiên cứu giới hạn ở bốn khóa của một cổng MOOC.

Khuyến nghị của tác giả

  • Cho phép xem trước nội dung khóa học mà không cần đăng ký, để người học quyết định có phù hợp không.
  • Hỏi lý do tham gia ngay khi vào khóa và điều chỉnh lộ trình tương ứng: người dự thính được mở mọi tài nguyên nhưng không tính vào tỷ lệ hoàn thành; người muốn học hết cần được theo dõi, hỗ trợ sát.
  • Với khóa tự học không có ngày bắt đầu – kết thúc, gửi tài liệu giới thiệu cách học MOOC cho người mới đăng ký.
  • Báo cáo tỷ lệ hoàn thành theo người học tích cực hoặc theo ý định; chuẩn hóa định nghĩa và công khai dữ liệu đăng ký – hoàn thành để so sánh giữa các nền tảng.

Điều gì giúp người học đi đến cuối khóa?

Thử nghiệm quy mô lớn nhất về chủ đề này do Kizilcec, Reich và cộng sự công bố trên PNAS năm 2020: trong 2,5 năm, với khoảng một phần tư triệu học viên ở gần như mọi quốc gia, trên 247 khóa trực tuyến của Harvard, MIT và Stanford. Nhóm thử nghiệm các can thiệp tâm lý – hành vi từng cho kết quả tốt ở quy mô nhỏ, và kỳ vọng tác động trung bình đến lớn. Kết quả không như vậy:

  • Can thiệp tự điều chỉnh (ví dụ lập kế hoạch học) làm tăng mức tham gia trong vài tuần đầu nhưng không tăng tỷ lệ hoàn thành cuối khóa.
  • Can thiệp gắn giá trị (giúp người học thấy khóa học liên quan đến mục tiêu của mình) tăng tỷ lệ hoàn thành ở người học các nước đang phát triển, thu hẹp khoảng cách toàn cầu – nhưng chỉ ở những khóa vốn có khoảng cách đó.
  • Khi nhân rộng ra nhiều bối cảnh, hiệu quả trung bình của các can thiệp có thể giảm tới một bậc độ lớn (khoảng mười lần).

Bài học rút ra: không có "mẹo" đơn lẻ nào giải quyết được tình trạng bỏ dở; hiệu quả phụ thuộc vào ai học, học gì và trong bối cảnh nào.

Gợi ý cho cơ sở giáo dục và người học Việt Nam

  • Đặt chỉ tiêu đúng. Khi đánh giá một chương trình học trực tuyến mở, báo cáo song song nhiều tỷ lệ (theo đăng ký, theo người bắt đầu, theo ý định) thay vì chỉ một con số.
  • MOOC không thay được người hướng dẫn với người học thiếu kỹ năng tự học. Với học sinh phổ thông hoặc người mới học trực tuyến, nên kết hợp khóa học mở với lịch học nhóm, giáo viên theo dõi tiến độ, mốc thời gian rõ ràng.
  • Giúp người học thấy ý nghĩa. Liên hệ nội dung khóa học với mục tiêu nghề nghiệp, học tập cụ thể của người học – loại can thiệp có bằng chứng tốt hơn ở nhóm yếu thế.
  • Thiết kế cho "người xem thử". Cho phép học từng phần, cấp xác nhận theo mô-đun, để người học không bị coi là "bỏ học" khi họ đã đạt mục tiêu riêng.

Nguồn tham khảo

  1. Celik, B. & Cagiltay, K. (2024). Uncovering MOOC Completion: A Comparative Study of Completion Rates from Different Perspectives. Open Praxis, 16(3), 445–456 (giấy phép CC BY 4.0). https://doi.org/10.55982/openpraxis.16.3.606
  2. Reich, J. & Ruipérez-Valiente, J. A. (2019). The MOOC pivot. Science, 363, 130–131. https://doi.org/10.1126/science.aav7958
  3. Kizilcec, R. F., Reich, J., Yeomans, M., Dann, C., Brunskill, E., Lopez, G., Turkay, S., Williams, J. J. & Tingley, D. (2020). Scaling up behavioral science interventions in online education. PNAS, 117, 14900–14905. https://doi.org/10.1073/pnas.1921417117

Trích dẫn bài viết

Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Celik & Cagiltay (2024) (2026). Khóa học trực tuyến mở đại trà (MOOC): tỷ lệ hoàn thành thấp đến đâu và nên đo thế nào cho đúng?. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/mooc-ty-le-hoan-thanh-khoa-hoc-truc-tuyen