Đơn vị trực thuộc Hội Khoa học phát triển Nguồn nhân lực - Nhân tài Việt Nam

0922812345 [email protected]

Khung "La bàn học tập 2030" của OECD và cách hiểu về năng lực trong chương trình giáo dục

Nghiên cứu

Tác giả
Ban Biên tập IESDTD tổng hợp
Lĩnh vực
Khoa học giáo dục & Đổi mới giáo dục
Từ khóa
OECD Learning Compass 2030, năng lực, quyền tác nhân của học sinh, chương trình giáo dục phổ thông 2018, phát triển chương trình

Tóm tắt

OECD Learning Compass 2030 mô tả những gì học sinh cần để phát triển trong tương lai: nền tảng cốt lõi, kiến thức – kỹ năng – thái độ – giá trị, ba năng lực chuyển đổi, chu trình Dự kiến – Hành động – Suy ngẫm và quyền tác nhân của học sinh. Đối chiếu với Chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Việt Nam.

Năm 2015, Ủy ban Chính sách Giáo dục của OECD khởi động dự án "Tương lai của Giáo dục và Kỹ năng 2030" (Future of Education and Skills 2030) với hai câu hỏi lớn: học sinh hôm nay cần những kiến thức, kỹ năng, thái độ và giá trị nào để phát triển và góp phần định hình thế giới của mình; và hệ thống giảng dạy có thể phát triển những điều đó một cách hiệu quả như thế nào? Một sản phẩm của dự án là La bàn học tập 2030 (OECD Learning Compass 2030), giới thiệu trong loạt ghi chú khái niệm năm 2019.

Vì sao là "la bàn"?

Theo OECD, hình ảnh la bàn được chọn để nhấn mạnh rằng học sinh cần học cách tự định hướng trong những bối cảnh xa lạ, tìm hướng đi một cách có ý nghĩa và có trách nhiệm, thay vì chỉ nhận chỉ dẫn cố định từ giáo viên. Đích đến được nêu là hạnh phúc, an sinh của cá nhân và của cộng đồng (well-being), hiểu rộng hơn sự thịnh vượng kinh tế – gồm việc làm, thu nhập, nhà ở, sức khỏe, giáo dục, an toàn, môi trường, gắn kết cộng đồng, sự tham gia của công dân và mức hài lòng với cuộc sống.

OECD nhấn mạnh hai điều khung này không phải:

  • Không phải khung đánh giá. Khung mô tả những năng lực học sinh cần, không giới hạn ở những gì đo được. Theo cách diễn đạt của OECD, khung "cho phép những gì (tạm thời) chưa đo được vẫn được trân trọng".
  • Không phải khung chương trình. Khung thừa nhận học tập diễn ra cả ở trường, ở nhà và trong cộng đồng – chính quy, không chính quy và phi chính quy.

Các thành phần của la bàn

Thành phầnNội dung chính
Nền tảng cốt lõi (core foundations)Điều kiện và kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị cốt lõi là tiền đề cho mọi việc học tiếp theo: không chỉ đọc viết và toán mà cả hiểu biết dữ liệu và kỹ thuật số, sức khỏe thể chất và tinh thần, kỹ năng xã hội và cảm xúc.
Kiến thức, kỹ năng, thái độ và giá trịNăng lực là khái niệm tổng thể gồm cả bốn yếu tố; kỹ năng chỉ là điều kiện cần.
Năng lực chuyển đổi (transformative competencies)Tạo ra giá trị mới; dung hòa căng thẳng và các thế lưỡng nan; chịu trách nhiệm.
Chu trình Dự kiến – Hành động – Suy ngẫm (AAR)Quá trình học lặp lại: lập kế hoạch, trải nghiệm, suy ngẫm, qua đó người học liên tục cải thiện suy nghĩ và hành động có chủ đích, có trách nhiệm.
Quyền tác nhân và đồng tác nhân (student agency, co-agency)Học sinh có ý chí và khả năng tác động tích cực đến cuộc sống của mình và thế giới xung quanh; điều này diễn ra trong quan hệ với bạn bè, giáo viên, gia đình, cộng đồng.

Năng lực và kiến thức không đối lập

Một điểm đáng chú ý trong ghi chú khái niệm của OECD là cách đặt quan hệ giữa năng lực và kiến thức. OECD viết rằng năng lực và kiến thức "không phải là những khái niệm cạnh tranh hay loại trừ nhau": học sinh cần học kiến thức cốt lõi như "viên gạch nền" của sự hiểu biết; đồng thời dùng năng lực đang phát triển để cập nhật, vận dụng kiến thức và hiểu sâu hơn. Năng lực, theo định nghĩa của dự án, là việc huy động kiến thức, kỹ năng, thái độ và giá trị để đáp ứng những yêu cầu phức tạp trong tình huống bất định.

Đây là điểm cần lưu ý khi triển khai chương trình "theo năng lực": giảm nhẹ kiến thức để dành chỗ cho "kỹ năng" là cách hiểu không đúng với chính khung tham chiếu được nhiều nước dùng.

Quyền tác nhân không có nghĩa là để học sinh tự do

OECD giải thích quyền tác nhân của học sinh "không có nghĩa là quyền tự chủ hay quyền lựa chọn của học sinh". Con người học tập, trưởng thành và thực hiện quyền tác nhân trong bối cảnh xã hội; vì thế khung nhấn mạnh đồng tác nhân – học sinh được bạn bè, giáo viên, gia đình và cộng đồng hỗ trợ, hướng dẫn trên hành trình của mình. Vai trò của giáo viên không mất đi mà thay đổi: từ người chỉ đưa ra chỉ dẫn sang người cùng xây dựng mục tiêu, tạo cơ hội để học sinh lập kế hoạch, hành động và suy ngẫm.

Đối chiếu với Chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Việt Nam

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT cũng được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực:

  • Năm phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
  • Ba năng lực chung: tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác; giải quyết vấn đề và sáng tạo.
  • Các năng lực đặc thù hình thành chủ yếu qua môn học: ngôn ngữ, tính toán, khoa học, công nghệ, tin học, thẩm mỹ, thể chất.
OECD Learning Compass 2030Điểm tương đồng trong Chương trình 2018
Giá trị và thái độ là thành phần của năng lựcNăm phẩm chất chủ yếu được đặt song song với năng lực
Tạo ra giá trị mớiNăng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Chịu trách nhiệmPhẩm chất trách nhiệm
Quyền tác nhân, chu trình Dự kiến – Hành động – Suy ngẫmNăng lực tự chủ và tự học
Đồng tác nhânNăng lực giao tiếp và hợp tác
Nền tảng cốt lõi: đọc viết, toán, dữ liệu và số, sức khỏeNăng lực ngôn ngữ, tính toán, tin học, thể chất

Bảng đối chiếu trên chỉ mang tính tham khảo: hai khung có mục đích và cấu trúc khác nhau, và sự tương ứng không phải một – một. Riêng năng lực "dung hòa căng thẳng và thế lưỡng nan" – cân nhắc giữa các lợi ích, quan điểm đối lập – là nội dung khung OECD nêu rõ, trong khi ở Chương trình 2018 được thể hiện gián tiếp hơn.

Gợi ý cho nhà trường và giáo viên

  • Giữ vững kiến thức nền. Theo chính khung OECD, năng lực được xây trên kiến thức; dạy học phát triển năng lực không đồng nghĩa với giảm yêu cầu kiến thức.
  • Tạo cơ hội cho chu trình Dự kiến – Hành động – Suy ngẫm trong các nhiệm vụ học tập dài hơn (dự án, hoạt động trải nghiệm): học sinh lập kế hoạch, thực hiện và nhìn lại.
  • Đưa các tình huống lưỡng nan vào bài học ở môn Giáo dục công dân, Lịch sử, Khoa học: học sinh phân tích lập luận của các bên và lý giải lựa chọn của mình.
  • Hiểu quyền tác nhân đúng cách: trao dần quyền lựa chọn kèm hướng dẫn, không phải để học sinh tự xoay xở.

Nguồn tham khảo

  1. OECD (2019). OECD Learning Compass 2030 – Concept Note. OECD Future of Education and Skills 2030. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/about/projects/edu/education-2040/concept-notes/OECD_Learning_Compass_2030_concept_note.pdf
  2. OECD (2019). OECD Learning Compass 2030 – A Series of Concept Notes. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/about/projects/edu/education-2040/1-1-learning-compass/OECD_Learning_Compass_2030_Concept_Note_Series.pdf
  3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông. https://luatvietnam.vn/giao-duc/thong-tu-32-2018-tt-bgddt-ban-hanh-chuong-trinh-giao-duc-pho-thong-moi-169745-d1.html
  4. Tư liệu văn kiện Đảng. Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-quy-pham-phap-luat/thong-tu-so-322018tt-bgddt-ngay-26122018-cua-bo-giao-duc-va-dao-tao-ban-hanh-chuong-trinh-giao-duc-pho-thong-5083

Trích dẫn bài viết

Ban Biên tập IESDTD tổng hợp (2026). Khung "La bàn học tập 2030" của OECD và cách hiểu về năng lực trong chương trình giáo dục. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/khung-oecd-learning-compass-2030-va-chuong-trinh-theo-nang-luc