Đơn vị trực thuộc Hội Khoa học phát triển Nguồn nhân lực - Nhân tài Việt Nam

0922812345 [email protected]

Luyện tập xen kẽ (interleaving): vì sao trộn các dạng bài lại giúp học sinh giải toán, giải lý tốt hơn

Nghiên cứu

Tác giả
Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Samani và Pan (2021)
Lĩnh vực
Khoa học giáo dục & Đổi mới giáo dục
Từ khóa
luyện tập xen kẽ, interleaving, học theo khối, bài tập về nhà, giải quyết vấn đề, khó khăn đáng có

Tóm tắt

Lược dịch thử nghiệm của Samani và Pan (2021) với 350 sinh viên vật lý: bài tập về nhà xen kẽ các dạng thay vì làm từng dạng một giúp điểm bài kiểm tra bất ngờ tăng rõ, dù người học thấy khó hơn và tưởng mình học kém đi. Kèm phân tích gộp về điều kiện hiệu quả.

Lược dịch từ: Joshua Samani và Steven C. Pan (2021), "Interleaved practice enhances memory and problem-solving ability in undergraduate physics", npj Science of Learning, 6, bài 32 (giấy phép CC BY 4.0). Phần tổng hợp các nghiên cứu khác và gợi ý thực tiễn do Ban Biên tập bổ sung, có ghi nguồn.

Sách giáo khoa và vở bài tập thường sắp xếp theo "khối": học xong dạng A thì làm liền mấy bài dạng A, sang dạng B thì làm liền mấy bài dạng B. Cách sắp xếp này – các nhà khoa học nhận thức gọi là học theo khối (blocking), ví dụ trình tự A1 A2 A3 B1 B2 B3 C1 C2 C3 – có vẻ hợp lý và dễ chịu. Một cách khác là luyện tập xen kẽ (interleaving): trộn các dạng với nhau, ví dụ A1 B1 C1 A2 B2 C2 A3 B3 C3.

1. Vì sao xen kẽ có thể hiệu quả hơn?

Theo các tác giả, xen kẽ có thể giúp vì nhiều lý do: tăng chú ý; buộc người học phải truy xuất kiến thức từ trí nhớ dài hạn; thúc đẩy so sánh để phân biệt các dạng; và mô phỏng tính khó đoán của tình huống thực tế. Khi làm theo khối, ba bài liền nhau cùng một dạng cho phép học sinh "chép lại" cách giải vừa dùng, giữ trong trí nhớ làm việc mà không cần nhận diện bài thuộc dạng nào. Xen kẽ cũng tự động tạo ra giãn cách giữa các lần luyện cùng một dạng – một kỹ thuật vốn đã có hơn một thế kỷ bằng chứng.

2. Thử nghiệm trong lớp vật lý đại học (lược dịch)

Thiết kế

  • Bối cảnh: học phần vật lý nhập môn cho sinh viên khối khoa học sự sống tại Đại học California, Los Angeles (UCLA), học kỳ đông 2020, hai lớp giảng đường cùng một giảng viên; tổng cộng 350 sinh viên. Kế hoạch nghiên cứu được đăng ký trước.
  • Trong 8 tuần, chỉ thay đổi cách sắp xếp bài tập về nhà, mọi thứ khác giữ nguyên. Mỗi giai đoạn 4 tuần có 84 bài trong 10 bộ bài tập. Bài tập theo khối: mỗi bộ có ba bài liên tiếp cùng cấu trúc cho mỗi chủ đề. Bài tập xen kẽ: mỗi bộ chỉ có một bài cho mỗi chủ đề, hai bài còn lại nằm ở các bộ sau. Tổng số bài và nội dung bài giống hệt nhau.
  • Lớp 1 làm theo khối ở tuần 1–4 và xen kẽ ở tuần 5–8; lớp 2 làm ngược lại. Như vậy mỗi sinh viên đều trải qua cả hai cách.
  • Cuối mỗi giai đoạn có một bài kiểm tra bất ngờ gồm ba bài mới và khó hơn bài tập về nhà: hai bài đòi hỏi kết hợp kiến thức của hai chủ đề, một bài áp dụng một chủ đề vào tình huống mới. Ví dụ: tính mô-men xoắn lên một vòng dây dẫn trong từ trường của máy chụp cộng hưởng từ, cần nhận ra phải dùng cả định luật Faraday và công thức mô-men xoắn – một tổ hợp chưa từng xuất hiện trong bài tập.

Kết quả

Chỉ sốTheo khốiXen kẽ
Tỷ lệ làm đúng bài tập về nhà (giai đoạn 1)74%69%
Điểm trung bình bài kiểm tra bất ngờ, giai đoạn 10,430,54
Điểm trung bình bài kiểm tra bất ngờ, giai đoạn 20,270,47

Quy mô ảnh hưởng của xen kẽ trên bài kiểm tra bất ngờ là d = 0,40 ở giai đoạn 1 và d = 0,91 ở giai đoạn 2; điểm trung vị tăng lần lượt 50% và 125% so với làm theo khối.

Điều đáng chú ý nhất là một "ảo giác siêu nhận thức": khi làm bài tập về nhà, sinh viên làm đúng ít hơn với bài xen kẽ, đánh giá chúng khó hơn và tin sai rằng mình học được ít hơn. Nhưng trên bài kiểm tra, kết quả đảo ngược. Các tác giả gợi ý giảng viên nên giải thích trước lợi ích lâu dài của xen kẽ để người học chấp nhận cảm giác khó khăn ban đầu.

Giới hạn các tác giả tự nêu

  • Ở hai bài thi giữa kỳ quan trọng (3 ngày sau mỗi bài kiểm tra bất ngờ), điểm của hai cách không khác biệt có ý nghĩa. Các tác giả cho rằng bài thi giữa kỳ có những yếu tố làm giảm khả năng phân biệt (như sinh viên ôn dồn), nhưng thừa nhận đây có thể là một giới hạn: chưa rõ lợi ích có còn khi học sinh ôn dồn trước kỳ thi.
  • Bài thi cuối kỳ không được phân tích vì trường đóng cửa do đại dịch COVID-19.
  • Cần thận trọng khi áp dụng cho những bài tập không có nhiều bài cùng cấu trúc cho mỗi chủ đề.

3. Bức tranh rộng hơn từ các nghiên cứu khác

  • Toán THCS: thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng của Rohrer và cộng sự (2020) tại 54 lớp học ở Mỹ, với bài tập về nhà xen kẽ các dạng đại số và đồ thị, cho thấy cải thiện điểm bài kiểm tra muộn bất ngờ với d = 0,83 – theo Samani và Pan, đây là nghiên cứu lớn nhất về xen kẽ đến thời điểm đó.
  • Phân tích gộp của Brunmair và Richter (2019), 59 nghiên cứu, 238 hệ số ảnh hưởng: hiệu quả trung bình g = 0,42. Xen kẽ tốt nhất với tranh vẽ (g = 0,67) và tài liệu hình ảnh; với bài toán, hiệu quả nhỏ (g = 0,34); với văn bản giải thích, kết quả không rõ; và với học từ vựng, học theo khối lại tốt hơn (g = −0,39). Xen kẽ hiệu quả hơn khi các loại cần học giống nhau, dễ nhầm lẫn, và khi tài liệu phức tạp.
Nên xen kẽ khi…Thận trọng khi…
Học sinh cần phân biệt các dạng bài dễ nhầm (ví dụ các loại phương trình, các định luật áp dụng cho bài toán tương tự)Học từ vựng, học thuộc danh sách từ
Mục tiêu là ghi nhớ lâu và vận dụng vào bài mớiHọc đọc hiểu văn bản giải thích (bằng chứng chưa rõ)

Gợi ý cho giáo viên Việt Nam

  • Giữ cách dạy theo dạng khi giới thiệu kiến thức mới, nhưng khi giao bài tập ôn luyện, hãy trộn bài của bài học hôm nay với bài của các bài trước.
  • Đề ôn tập nên trộn dạng và không ghi tiêu đề dạng bài, để học sinh luyện kỹ năng nhận diện "bài này thuộc dạng nào, dùng công cụ gì" – kỹ năng mà bài thi thật đòi hỏi.
  • Báo trước cho học sinh và phụ huynh: bài tập trộn sẽ cảm thấy khó hơn và làm sai nhiều hơn lúc đầu; đó không phải dấu hiệu học kém đi.
  • Không cần thay đổi nội dung hay tăng khối lượng bài tập; chỉ cần sắp xếp lại thứ tự.

Nguồn tham khảo

  1. Samani, J., Pan, S. C. (2021). Interleaved practice enhances memory and problem-solving ability in undergraduate physics. npj Science of Learning, 6, 32. Giấy phép CC BY 4.0. https://doi.org/10.1038/s41539-021-00110-x
  2. Brunmair, M., Richter, T. (2019). Similarity matters: A meta-analysis of interleaved learning and its moderators. Psychological Bulletin, 145(11), 1029–1052. https://doi.org/10.1037/bul0000209
  3. Rohrer, D., Dedrick, R. F., Hartwig, M. K., Cheung, C.-N. (2020). A randomized controlled trial of interleaved mathematics practice. Journal of Educational Psychology, 112(1), 40–52. https://doi.org/10.1037/edu0000367

Trích dẫn bài viết

Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Samani và Pan (2021) (2026). Luyện tập xen kẽ (interleaving): vì sao trộn các dạng bài lại giúp học sinh giải toán, giải lý tốt hơn. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/hoc-xen-ke-interleaving-bang-chung-va-cach-dung