Đơn vị trực thuộc Hội Khoa học phát triển Nguồn nhân lực - Nhân tài Việt Nam

0922812345 [email protected]

Điện thoại để trên bàn có làm giảm trí nhớ? Phân tích gộp về "hiệu ứng hút cạn trí não" và tranh luận tái lập

Nghiên cứu

Tác giả
Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Böttger, Poschik và Zierer (2023)
Lĩnh vực
Nhân trắc học & Khoa học não bộ
Từ khóa
điện thoại thông minh, trí nhớ làm việc, xao nhãng, hút cạn trí não, đa nhiệm, trường học

Tóm tắt

Năm 2017, một nghiên cứu nổi tiếng cho rằng chỉ cần điện thoại ở gần đã làm giảm năng lực trí óc. Lược dịch phân tích gộp 22 nghiên cứu của Böttger và cộng sự (2023), đặt cạnh một nghiên cứu tái lập không thành công và một phân tích gộp khác, để thấy bằng chứng mạnh đến đâu.

Lược dịch từ: Böttger, T., Poschik, M., Zierer, K. (2023). Does the Brain Drain Effect Really Exist? A Meta-Analysis. Behavioral Sciences, 13(9), 751 (giấy phép CC BY 4.0). Các phần về nghiên cứu tái lập của Ruiz Pardo và Minda (2022), phân tích gộp của Parry (2022) và tổng quan của Colakoglu, van Golen (2026) cũng được lược dịch từ bài gốc theo giấy phép CC BY. Phần gợi ý cuối bài là của Ban Biên tập.

Nhiều trường học trên thế giới đã cấm hoặc hạn chế điện thoại trong giờ học; Pháp cấm điện thoại ở trường tiểu học và trung học cơ sở từ tháng 9/2018. Một lập luận thường được viện dẫn là nghiên cứu năm 2017 của Ward và cộng sự: chỉ cần chiếc điện thoại của mình nằm trên bàn – kể cả đã tắt – cũng đủ làm giảm năng lực trí óc. Hiện tượng này được đặt tên là "hiệu ứng hút cạn trí não" (brain drain effect). Nhưng sau đó, kết quả nghiên cứu không thống nhất. Vậy hiệu ứng này có thật không?

Giả thuyết: điện thoại chiếm chỗ của sự chú ý

Theo các nghiên cứu được Böttger và cộng sự tổng hợp, sự chú ý được điều khiển một phần tự động. Khi một kích thích được coi là quan trọng với mục tiêu của bản thân (ví dụ một tin nhắn có thể đến) nhưng không liên quan đến việc đang làm, nó có thể làm giảm hiệu quả công việc. Điện thoại có thể gây xao nhãng ngay cả khi ta cố lờ nó đi, và việc chống lại sự xao nhãng đó cũng tiêu tốn nguồn lực chú ý. Vì thế, kể cả khi không dùng, sự hiện diện của điện thoại vẫn có thể làm giảm kết quả những việc cần tập trung.

Phân tích gộp của Böttger và cộng sự (2023)

Nhóm tác giả (Đại học Augsburg, Đức) tìm trong các cơ sở dữ liệu PSYNDEX, Web of Science, ResearchGate và các bài trích dẫn nghiên cứu của Ward, đến ngày 10/12/2022. Từ hơn 1.400 kết quả, 22 nghiên cứu với 43 hệ số hiệu quả đáp ứng tiêu chí: đo tác động của việc dùng hoặc sự hiện diện của điện thoại thông minh (không tính máy tính bảng, đồng hồ thông minh) lên kết quả nhận thức.

Lĩnh vựcMức tác động (g)Có ý nghĩa thống kê?
Chung tất cả−0,14Có
Trí nhớ−0,23Có
Chú ý−0,07Không
Kết quả nhận thức chung (toán, ngôn ngữ, khoa học…)+0,10Không

Tác động tiêu cực chung là nhỏ nhưng có ý nghĩa, và rõ nhất ở trí nhớ. Khi chia theo khu vực, chỉ các nghiên cứu ở châu Á cho tác động có ý nghĩa (g = −0,39); các nghiên cứu ở châu Âu (−0,20) và Bắc Mỹ (−0,03) không đạt ngưỡng ý nghĩa. Các tác giả thừa nhận chưa tìm được lời giải thích thỏa đáng cho khác biệt theo khu vực.

Giới hạn do chính tác giả nêu: chỉ có 22 nghiên cứu; các nghiên cứu dùng nhiều công cụ đo khác nhau; dị biệt giữa các nghiên cứu lớn, kể cả trong từng nhóm lĩnh vực; không phải nghiên cứu nào cũng báo cáo đủ số liệu.

Tiếng nói thận trọng: tái lập không thành công

  • Ruiz Pardo và Minda (2022) làm lại đúng thí nghiệm thứ hai của Ward và cộng sự, có đăng ký trước kế hoạch nghiên cứu: điện thoại để trên bàn, trong túi/cặp hoặc ngoài phòng, bật hoặc tắt – sáu điều kiện. Kết quả: không có khác biệt giữa các vị trí điện thoại ở cả bài đo trí nhớ làm việc lẫn bài đo kiểm soát phản ứng. Các tác giả kết luận chỉ riêng sự hiện diện của điện thoại có thể không đủ để ảnh hưởng đến năng lực nhận thức.
  • Parry (2022), trong một phân tích gộp khác (tiền ấn phẩm; 56 hệ số hiệu quả, 7.093 người), chỉ thấy một tác động có ý nghĩa: sự hiện diện của điện thoại làm giảm dung lượng trí nhớ làm việc; các chức năng nhận thức khác cho kết quả bằng không. Tác giả cho rằng bằng chứng ủng hộ một hiệu ứng tiêu cực "nhỏ hơn so với giả thuyết ban đầu", và lưu ý lĩnh vực này có nhiều khác biệt về phương pháp và cỡ mẫu thường không đủ lớn.

Như vậy, cả hai phân tích gộp cùng chỉ về một hướng: nếu có tác động thì rõ nhất ở trí nhớ, và mức tác động nhỏ.

Dùng điện thoại trong lúc học: bằng chứng rõ hơn

Sự hiện diện thụ động là một chuyện; dùng điện thoại trong lúc học là chuyện khác. Tổng quan của Colakoglu và van Golen (2026, Frontiers in Psychology) tóm tắt: nhận thông báo điện thoại, kể cả không trả lời, đã làm giảm kết quả các nhiệm vụ cần tập trung (Stothart và cộng sự, 2015); sinh viên dùng thiết bị cho việc không liên quan đến bài trong giờ giảng làm bài thi kém hơn và ghi chép kém hơn (Ravizza và cộng sự, 2017; Kuznekoff và Titsworth, 2013). Theo lý thuyết tải nhận thức, tin nhắn, thông báo, mạng xã hội làm tăng "tải ngoại lai", để lại ít nguồn lực hơn cho việc xử lý và ghi nhớ thông tin mới. Tổng quan này cũng ghi nhận người học thường đánh giá thấp mức độ việc dùng thiết bị ngoài lề ảnh hưởng đến sự chú ý của mình.

Về các lệnh cấm điện thoại trong trường, Colakoglu và van Golen nhận định bằng chứng cho thấy cải thiện về sự chú ý và tham gia trong lớp, nhưng tác động rộng hơn đến sức khỏe tinh thần và thói quen số lâu dài vẫn chưa rõ.

Gợi ý cho nhà trường, giáo viên và phụ huynh

  • Trong giờ học kiến thức mới và giờ tự học, cất điện thoại ra xa (ngoài tầm nhìn, ở phòng khác nếu có thể). Bằng chứng về tác động của sự hiện diện là nhỏ và chưa thống nhất, nhưng biện pháp này gần như không tốn kém, và tác động của việc dùng điện thoại trong lúc học thì rõ hơn nhiều.
  • Tắt thông báo khi học bài, làm bài tập về nhà.
  • Phân biệt điện thoại là công cụ học và điện thoại cho việc riêng: Böttger và cộng sự khuyên mọi việc dùng điện thoại trong lớp phải có giá trị sư phạm rõ ràng; họ không ủng hộ việc đưa điện thoại vào trường học tràn lan mà ít quy định.
  • Dạy học sinh hiểu về sự xao nhãng: thay vì chỉ cấm, giúp học sinh biết điện thoại ảnh hưởng thế nào đến trí nhớ và sự chú ý của chính mình, để các em tự điều chỉnh.
  • Thận trọng với các tuyên bố quá mạnh kiểu "điện thoại để trên bàn làm bạn kém thông minh hơn": bằng chứng hiện có không ủng hộ mức khẳng định đó.

Nguồn tham khảo

  1. Böttger, T., Poschik, M., Zierer, K. (2023). Does the Brain Drain Effect Really Exist? A Meta-Analysis. Behavioral Sciences, 13(9), 751 (CC BY 4.0). https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC10525686/
  2. Ruiz Pardo, A. C., Minda, J. P. (2022). Reexamining the "brain drain" effect: A replication of Ward et al. (2017). Acta Psychologica, 230, 103717 (CC BY). https://doi.org/10.1016/j.actpsy.2022.103717
  3. Parry, D. A. (2022). Does the mere presence of a smartphone impact cognitive performance? A meta-analysis of the "brain drain effect". Tiền ấn phẩm PsyArXiv (CC BY). https://doi.org/10.31234/osf.io/tnyda
  4. Colakoglu, D., van Golen, C. (2026). Digital distraction and adolescent development: a narrative review of smartphone use, cognitive effects, and policy interventions. Frontiers in Psychology, 17, 1832219 (CC BY). https://doi.org/10.3389/fpsyg.2026.1832219

Trích dẫn bài viết

Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Böttger, Poschik và Zierer (2023) (2026). Điện thoại để trên bàn có làm giảm trí nhớ? Phân tích gộp về "hiệu ứng hút cạn trí não" và tranh luận tái lập. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/dien-thoai-thong-minh-va-tri-nho-hieu-ung-hut-nao