Đơn vị trực thuộc Hội Khoa học phát triển Nguồn nhân lực - Nhân tài Việt Nam

0922812345 [email protected]

Tư duy phản biện có dạy được không? Phân tích gộp của Abrami và thử nghiệm "Lựa chọn sức khỏe sáng suốt" với hơn 20.000 học sinh châu Phi

Nghiên cứu

Tác giả
Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Nsangi và cộng sự (2020); Chesire, Mugisha, Ssenyonga và cộng sự (2024)
Lĩnh vực
Khoa học giáo dục & Đổi mới giáo dục
Từ khóa
tư duy phản biện, Informed Health Choices, hiểu biết sức khỏe, đánh giá thông tin, thử nghiệm ngẫu nhiên

Tóm tắt

Lược dịch hai báo cáo truy cập mở về chương trình Informed Health Choices dạy học sinh đánh giá các lời quảng cáo về chữa bệnh ở Uganda, Kenya, Rwanda, kèm phân tích gộp 341 hệ số ảnh hưởng của Abrami và cộng sự về các chiến lược dạy tư duy phản biện.

Phần 2 và 3 lược dịch từ: Allen Nsangi và cộng sự (2020), "Effects of the Informed Health Choices primary school intervention on the ability of children in Uganda to assess the reliability of claims about treatment effects, 1-year follow-up: a cluster-randomised trial", Trials, 21:27; và Faith Chesire, Michael Mugisha, Ronald Ssenyonga và cộng sự (2024), "Effects of the informed health choices secondary school intervention after 1 year: a prospective meta-analysis using individual participant data", Trials, 25:733. Cả hai theo giấy phép CC BY 4.0. Phần 1 và gợi ý thực tiễn do Ban Biên tập tổng hợp.

"Tư duy phản biện" có mặt trong mục tiêu của hầu hết chương trình giáo dục, kể cả chương trình phổ thông của Việt Nam. Nhưng người ta vẫn tranh luận: đó là một kỹ năng chung có thể dạy riêng, hay chỉ phát triển được khi gắn với kiến thức của từng lĩnh vực? Và dạy thì đo kết quả thế nào? Bài này điểm lại một phân tích gộp lớn và một chương trình được thử nghiệm nghiêm ngặt hiếm có ở cấp phổ thông.

1. Phân tích gộp của Abrami và cộng sự (2015)

Philip Abrami và cộng sự (Đại học Concordia, Canada) định nghĩa tư duy phản biện là "phán đoán có chủ đích, tự điều chỉnh, dẫn đến diễn giải, phân tích, đánh giá và suy luận, cùng với việc giải thích các cân nhắc làm cơ sở cho phán đoán đó". Bài tổng quan đăng trên Review of Educational Research tổng hợp 341 hệ số ảnh hưởng từ các nghiên cứu thực nghiệm và bán thực nghiệm có dùng thước đo tư duy phản biện chuẩn hóa. Kết quả:

  • Hiệu quả trung bình g = 0,30 – có ý nghĩa nhưng ở mức vừa phải, và rất khác nhau giữa các nghiên cứu.
  • Có những chiến lược hiệu quả để dạy cả kỹ năng lẫn thái độ tư duy phản biện, dạy chung hoặc gắn với môn học, ở mọi cấp học và mọi lĩnh vực.
  • Ba yếu tố nổi bật có tác động tích cực: cơ hội đối thoại (thảo luận, tranh luận), tiếp xúc với vấn đề và ví dụ thực tế, và sự kèm cặp của người hướng dẫn.

2. Thử nghiệm ở tiểu học Uganda (lược dịch)

Chương trình

Nhóm Informed Health Choices ("Lựa chọn sức khỏe sáng suốt"), hợp tác giữa Đại học Makerere (Uganda) và Viện Y tế Công cộng Na Uy, xây dựng bộ học liệu dạy học sinh lớp 5 (10–12 tuổi) đánh giá độ tin cậy của các lời khẳng định về tác dụng của "biện pháp chữa trị" (bất kỳ hành động nào nhằm giữ gìn hoặc cải thiện sức khỏe). Học liệu gồm sách giáo khoa dạng truyện tranh, sách hướng dẫn giáo viên, vở bài tập, áp phích và thẻ hoạt động; 9 bài học, mỗi tuần một tiết đôi 80 phút trong một học kỳ. Giáo viên dự một hội thảo giới thiệu hai ngày. Mười hai khái niệm chính được dạy, ví dụ:

  • Biện pháp chữa trị có thể gây hại.
  • Trải nghiệm cá nhân, giai thoại không phải là cơ sở đáng tin để đánh giá tác dụng của phần lớn biện pháp chữa trị.
  • Được dùng rộng rãi, dùng lâu đời, mới, có thương hiệu hay đắt tiền không có nghĩa là tốt hơn hoặc an toàn hơn.
  • Ý kiến của chuyên gia hay người có thẩm quyền tự nó chưa đủ làm căn cứ; xung đột lợi ích có thể dẫn đến lời khẳng định sai lệch.
  • Muốn đánh giá tác dụng cần so sánh phù hợp: các nhóm so sánh phải giống nhau ("so cái giống với cái giống"), nếu được thì người tham gia không biết mình dùng biện pháp nào; nghiên cứu nhỏ và một lần so sánh đơn lẻ có thể gây hiểu nhầm.
  • Biện pháp chữa trị thường có cả lợi và hại.

Thiết kế và kết quả

Từ 2.029 trường đủ điều kiện ở miền Trung Uganda, 120 trường được phân ngẫu nhiên: 60 trường can thiệp (76 giáo viên, 6.383 học sinh) và 60 trường đối chứng (67 giáo viên, 4.430 học sinh). Bài kiểm tra gồm 24 câu trắc nghiệm, hai câu cho mỗi khái niệm.

Sau 1 nămTrường can thiệpTrường đối chứng
Điểm trung bình68,7%53,0%
Tỷ lệ đạt (từ 13/24 câu)80,1%51,5%
Tỷ lệ thành thạo (từ 20/24 câu)28,9%4,9%

Tỷ lệ học sinh thành thạo ở trường can thiệp còn tăng từ 18,6% (cuối học kỳ) lên 28,9% sau một năm. Giáo viên ở trường can thiệp cũng làm bài tốt hơn rõ rệt: 67,9% đạt mức thành thạo, so với 22,0% ở trường đối chứng.

Giới hạn các tác giả tự nêu

  • Bằng chứng về thay đổi hành vi chỉ ở mức khiêm tốn: học sinh trường can thiệp có xu hướng tìm hiểu cơ sở của lời quảng cáo, tự tin hơn và hoài nghi hơn, nhưng các khác biệt nhỏ hơn nhiều so với điểm bài kiểm tra; một số khác biệt về ý định hành vi gần như biến mất sau một năm.
  • Không thấy khác biệt rõ về chuyên cần và điểm kỳ thi quốc gia (dữ liệu không đầy đủ).
  • Bài kiểm tra do chính nhóm nghiên cứu xây dựng – loại thước đo này thường cho hiệu quả lớn hơn thước đo chuẩn hóa – nên cần thận trọng khi so sánh với các chương trình tư duy phản biện khác.
  • Các tác giả cho rằng một can thiệp đơn lẻ khó tạo ảnh hưởng lớn lâu dài đến quyết định sức khỏe; họ đề xuất xây dựng thành chương trình xoắn ốc, nhắc lại và mở rộng khái niệm qua các năm.

3. Mở rộng lên THCS ở Kenya, Rwanda, Uganda (lược dịch)

Phiên bản cho học sinh THCS gồm 10 giáo án số (dùng được với máy chiếu hoặc chỉ với bảng đen) dựa trên 9 khái niệm chính, kèm hội thảo tập huấn giáo viên 2–3 ngày. Ba thử nghiệm ngẫu nhiên theo cụm với 244 trường, 11.344 học sinh. Phân tích gộp dữ liệu cá nhân sau một năm (theo dõi được 73% học sinh):

  • Ngay sau can thiệp, số học sinh đạt bài kiểm tra ở trường can thiệp nhiều hơn 33,3 điểm phần trăm so với trường đối chứng; sau một năm, chênh lệch còn 25,6 điểm phần trăm.
  • Ở trường can thiệp, 58,1% học sinh đạt ngay sau can thiệp và 52,6% đạt sau một năm, tương ứng mức duy trì kiến thức khoảng 88%.
  • Mức độ chắc chắn của bằng chứng sau một năm thấp hơn do 27% học sinh không được theo dõi tiếp.

4. Bài học rút ra

  • Tư duy phản biện dạy được, nhưng hiệu quả rõ nhất khi mục tiêu cụ thể và gắn với một lĩnh vực (ở đây: đánh giá lời khẳng định về sức khỏe), thay vì "rèn tư duy" chung chung.
  • Học sinh tiểu học ở nước thu nhập thấp, với học liệu đơn giản và giáo viên được tập huấn ngắn, vẫn học được những khái niệm như "so sánh công bằng" hay "giai thoại không phải bằng chứng".
  • Từ hiểu biết đến hành vi là một khoảng cách lớn; cần đánh giá thận trọng và nhắc lại qua nhiều năm.

Gợi ý cho nhà trường và giáo viên Việt Nam

  • Dạy tư duy phản biện qua chủ đề cụ thể gần với đời sống học sinh: quảng cáo thực phẩm chức năng, "mẹo chữa bệnh" trên mạng xã hội, tin đồn. Học liệu của Informed Health Choices là học liệu mở, đã được dịch sang nhiều thứ tiếng, có thể tham khảo.
  • Tạo cơ hội đối thoại: tranh luận có lập luận, yêu cầu học sinh nêu căn cứ cho ý kiến của mình và của người khác.
  • Dạy tường minh các khái niệm như "có nhóm so sánh không?", "người nói có lợi ích gì?", "đây là một trường hợp hay nhiều trường hợp?", rồi cho học sinh luyện áp dụng trên nhiều ví dụ.
  • Bồi dưỡng cả giáo viên: trong thử nghiệm Uganda, chính giáo viên cũng hiểu các khái niệm tốt hơn hẳn sau khi dạy.

Nguồn tham khảo

  1. Nsangi, A., Semakula, D., Oxman, A. D. và cộng sự (2020). Effects of the Informed Health Choices primary school intervention on the ability of children in Uganda to assess the reliability of claims about treatment effects, 1-year follow-up: a cluster-randomised trial. Trials, 21, 27. Giấy phép CC BY 4.0. https://doi.org/10.1186/s13063-019-3960-9
  2. Chesire, F., Mugisha, M., Ssenyonga, R. và cộng sự (2024). Effects of the informed health choices secondary school intervention after 1 year: a prospective meta-analysis using individual participant data. Trials, 25, 733. Giấy phép CC BY 4.0. https://doi.org/10.1186/s13063-024-08577-w
  3. Abrami, P. C., Bernard, R. M., Borokhovski, E., Waddington, D. I., Wade, C. A., Persson, T. (2015). Strategies for Teaching Students to Think Critically. Review of Educational Research, 85(2), 275–314. https://doi.org/10.3102/0034654314551063

Trích dẫn bài viết

Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Nsangi và cộng sự (2020); Chesire, Mugisha, Ssenyonga và cộng sự (2024) (2026). Tư duy phản biện có dạy được không? Phân tích gộp của Abrami và thử nghiệm "Lựa chọn sức khỏe sáng suốt" với hơn 20.000 học sinh châu Phi. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/day-tu-duy-phan-bien-bang-chung-thu-nghiem