Đơn vị trực thuộc Hội Khoa học phát triển Nguồn nhân lực - Nhân tài Việt Nam

0922812345 [email protected]

Đánh giá học sinh trong hoạt động STEM: đánh giá cái gì, bằng cách nào

Nghiên cứu

Tác giả
Ban Biên tập IESDTD tổng hợp
Lĩnh vực
Giáo dục STEM
Từ khóa
đánh giá STEM, đánh giá thường xuyên, tiêu chí đánh giá, đánh giá năng lực, NAEP

Tóm tắt

Đánh giá là khâu yếu nhất của giáo dục STEM. Bài tổng hợp khuyến nghị của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ về đánh giá theo chuẩn khoa học mới, kinh nghiệm bài thi dựa trên tình huống của NAEP, các cách đánh giá tư duy máy tính và quy định đánh giá hiện hành ở Việt Nam.

Báo cáo về STEM tích hợp năm 2014 của các Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ có riêng một khuyến nghị cho người xây dựng công cụ đánh giá: cần phát triển công cụ đo phù hợp với các kết quả của STEM tích hợp. Ở Việt Nam, nhiều giáo viên cũng chia sẻ băn khoăn tương tự: dự án STEM thì sôi nổi, nhưng chấm thế nào cho công bằng, và điểm số phản ánh điều gì? Bài viết tổng hợp một số nguyên tắc và kinh nghiệm.

Trước hết: đánh giá cái gì?

Một hoạt động STEM có thể nhắm đến nhiều loại kết quả khác nhau. Khung của báo cáo năm 2014 liệt kê: kết quả học tập, việc lựa chọn học các môn STEM, việc làm liên quan STEM, bản sắc STEM và khả năng chuyển hóa hiểu biết giữa các lĩnh vực. Trong lớp học, có thể nhóm thành ba nhóm chính:

Nhóm kết quảVí dụCách đánh giá phù hợp
Kiến thức môn họcHiểu và giải thích được nguyên lý vật lý trong sản phẩmCâu hỏi giải thích, vấn đáp, bài kiểm tra có tình huống
Thực hành, năng lựcXác định tiêu chí, thử nghiệm, phân tích số liệu, gỡ lỗi, hợp tácQuan sát theo bảng kiểm, nhật ký thiết kế, sản phẩm kèm thuyết minh
Thái độ, hứng thúHứng thú với STEM, tự tin, thấy mình làm được kỹ thuậtPhiếu hỏi trước – sau, phỏng vấn ngắn; không nên cho điểm

Sai lầm phổ biến là chỉ chấm sản phẩm cuối cùng (đẹp, chạy được hay không). Sản phẩm tốt có thể do một học sinh giỏi làm thay cả nhóm, hoặc do người lớn giúp; sản phẩm hỏng vẫn có thể đi kèm quá trình học tập rất tốt.

Khuyến nghị của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ

Năm 2014, Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ công bố báo cáo Developing Assessments for the Next Generation Science Standards về đánh giá theo chuẩn khoa học mới, trong đó học sinh phải kết hợp thực hành, khái niệm xuyên suốt và kiến thức cốt lõi. Một số kết luận quan trọng:

  • Nhiệm vụ đánh giá cần gồm nhiều thành phần, phản ánh việc sử dụng kết nối các thực hành khoa học khác nhau, và cho biết học sinh đang ở đâu trên một tiến trình phát triển, không chỉ "đúng/sai".
  • Cần có cách diễn giải, chấm điểm cho nhiều kiểu câu trả lời khác nhau của học sinh.
  • Nên xây dựng một hệ thống đánh giá, trong đó đánh giá tại lớp học (cả thường xuyên và tổng kết) gắn với hoạt động dạy học; các nhiệm vụ đánh giá tốt xuất phát từ chính hoạt động học như xây dựng và điều chỉnh mô hình, tạo ra và phân tích số liệu, giải thích bằng lời và bằng văn bản.
  • Giáo viên cần được bồi dưỡng nhiều để đưa kiểu đánh giá này vào thực tiễn.
  • Nhiệm vụ, tiêu chí chấm và hướng dẫn chấm phải được dẫn dắt bởi chính năng lực cần đánh giá.
  • Triển khai nên đi từ dưới lên, bắt đầu từ đánh giá tại lớp, theo lộ trình từ từ qua nhiều vòng thử nghiệm.

Bài thi dựa trên tình huống: kinh nghiệm NAEP

Đánh giá Tiến bộ Giáo dục Quốc gia của Hoa Kỳ (NAEP) có bài đánh giá Hiểu biết Công nghệ và Kỹ thuật (Technology and Engineering Literacy – TEL) dành cho học sinh lớp 8, thực hiện năm 2014 và 2018. Bài đánh giá đo ba lĩnh vực nội dung (công nghệ và xã hội; thiết kế và hệ thống; công nghệ thông tin và truyền thông) và ba thực hành (hiểu các nguyên lý công nghệ; phát triển giải pháp và đạt mục tiêu; giao tiếp và hợp tác). Năm 2018, bài thi gồm 15 nhiệm vụ dựa trên tình huống và 77 câu hỏi riêng lẻ, làm trên máy tính xách tay, thời gian làm bài 60 phút; khoảng 15.400 học sinh lớp 8 từ khoảng 600 trường tham gia. Khoảng 46% học sinh đạt mức Thành thạo trở lên năm 2018, so với 43% năm 2014.

Điểm đáng học hỏi là dạng nhiệm vụ dựa trên tình huống: học sinh làm việc trong một bối cảnh mô phỏng (ví dụ xử lý một hệ thống bị trục trặc), qua đó bộc lộ cách các em suy luận và ra quyết định, thay vì chỉ chọn đáp án.

Đánh giá tư duy máy tính và dự án lập trình

Brennan và Resnick (2012), khi nghiên cứu người dùng Scratch, thử ba cách đánh giá và chỉ ra ưu nhược điểm của từng cách:

  • Phân tích hồ sơ sản phẩm: thống kê các khối lệnh học sinh đã dùng qua nhiều dự án. Cách này cho thấy học sinh đã tiếp xúc khái niệm nào, nhưng không cho biết quá trình, không biết học sinh tự làm hay được giúp, và có hiểu khái niệm hay không.
  • Phỏng vấn dựa trên sản phẩm: học sinh chọn dự án của mình và giải thích. Các tác giả gặp trường hợp một học sinh 13 tuổi đã làm 163 dự án, trông rất thành thạo, nhưng khi phỏng vấn mới lộ ra những lỗ hổng khái niệm đáng kể.
  • Tình huống thiết kế: học sinh được đưa một dự án "của bạn khác", phải giải thích dự án làm gì, đề xuất cách mở rộng, sửa một lỗi và thêm một tính năng.

Bài học chung: sản phẩm cần được bổ sung bằng lời giải thích của học sinh và bằng nhiệm vụ mới mà học sinh chưa làm trước đó.

Quy định đánh giá hiện hành ở Việt Nam

Đánh giá trong hoạt động STEM không đứng ngoài quy định chung. Theo Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT về đánh giá học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, đánh giá thường xuyên được thực hiện thông qua hỏi – đáp, viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập. Đánh giá định kỳ thực hiện qua bài kiểm tra (trên giấy hoặc máy tính), bài thực hành, dự án học tập; với bài thực hành, dự án học tập, phải có hướng dẫn và tiêu chí đánh giá theo yêu cầu cần đạt trước khi thực hiện.

Ở tiểu học, Công văn 909/BGDĐT-GDTH hướng dẫn đánh giá trong bài học STEM căn cứ yêu cầu cần đạt, chủ yếu bằng quan sát, vấn đáp, hồ sơ học tập, sản phẩm và hoạt động của học sinh, coi trọng đánh giá quá trình để động viên tiến bộ, tạo sự tự tin và hứng thú. Công văn 3089/BGDĐT-GDTrH lưu ý khi làm việc nhóm phải chỉ rõ nhiệm vụ và sản phẩm cụ thể của mỗi học sinh, điều kiện cần để đánh giá cá nhân công bằng.

Gợi ý xây dựng tiêu chí cho một dự án STEM

Ví dụ với nhiệm vụ "thiết kế bình lọc nước đơn giản" ở trung học cơ sở, có thể xây dựng tiêu chí theo bốn mức (chưa đạt, đạt một phần, đạt, tốt) cho các nội dung:

  1. Vận dụng kiến thức: giải thích được vai trò của từng lớp vật liệu dựa trên kiến thức đã học.
  2. Quy trình thiết kế: có ít nhất hai phương án, lý do lựa chọn rõ ràng.
  3. Thử nghiệm và cải tiến: có số liệu đo (độ trong, thời gian lọc), có điều chỉnh dựa trên kết quả.
  4. Sản phẩm: đáp ứng tiêu chí đã đặt ra từ đầu.
  5. Hợp tác và trình bày: hoàn thành phần việc được giao; trình bày mạch lạc, trả lời được câu hỏi.

Tiêu chí nên được công bố cho học sinh ngay từ đầu (đúng yêu cầu của Thông tư 22), và có thể dùng cho học sinh tự đánh giá, đánh giá chéo.

Gợi ý cho giáo viên

  • Tách các mục tiêu. Không gộp kiến thức, kỹ năng thực hành và thái độ vào một điểm số duy nhất.
  • Đánh giá cá nhân trong nhóm. Kết hợp điểm nhóm với câu hỏi vấn đáp từng em hoặc phiếu cá nhân.
  • Dùng nhật ký thiết kế. Ảnh các phiên bản, bảng số liệu, ghi chú lỗi và cách sửa là bằng chứng quá trình.
  • Đưa tình huống mới. Cuối dự án, hỏi "nếu thay đổi điều kiện X thì em sửa thiết kế thế nào?" để kiểm tra khả năng chuyển giao.
  • Thái độ để theo dõi, không để chấm điểm. Phiếu hỏi về hứng thú giúp đánh giá hoạt động, không nên dùng để xếp loại học sinh.
  • Thử, rút kinh nghiệm, điều chỉnh. Như khuyến nghị của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ, công cụ đánh giá tốt hình thành qua nhiều vòng sử dụng và sửa đổi trong tổ chuyên môn.

Nguồn tham khảo

  1. National Research Council (2014). Developing Assessments for the Next Generation Science Standards – Summary. The National Academies Press. https://www.nationalacademies.org/read/18409/chapter/2
  2. National Center for Education Statistics. NAEP Technology and Engineering Literacy (TEL). https://www.nationsreportcard.gov/tel/
  3. National Center for Education Statistics. NAEP TEL – Achievement Level Results. https://www.nationsreportcard.gov/tel/results/achievement/
  4. Brennan, K. & Resnick, M. (2012). New frameworks for studying and assessing the development of computational thinking. AERA Annual Meeting, Vancouver. https://scratched.gse.harvard.edu/ct/files/AERA2012.pdf
  5. National Academy of Engineering and National Research Council (2014). STEM Integration in K-12 Education – Summary. https://www.nationalacademies.org/read/18612/chapter/2
  6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT quy định về đánh giá học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông. https://luatvietnam.vn/giao-duc/thong-tu-22-2021-tt-bgddt-207846-d1.html
  7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Công văn 909/BGDĐT-GDTH; (2020) Công văn 3089/BGDĐT-GDTrH. https://luatvietnam.vn/giao-duc/cong-van-909-bgddt-gdth-2023-huong-dan-to-chuc-hoat-dong-giao-duc-stem-273119-d6.html

Trích dẫn bài viết

Ban Biên tập IESDTD tổng hợp (2026). Đánh giá học sinh trong hoạt động STEM: đánh giá cái gì, bằng cách nào. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/danh-gia-hoc-sinh-trong-hoat-dong-stem