- Tác giả
- Ban Biên tập IESDTD tổng hợp
- Lĩnh vực
- Nhân trắc học & Khoa học não bộ
- Từ khóa
- chuẩn tăng trưởng WHO, BMI theo tuổi, thấp còi, thừa cân béo phì, y tế trường học
Tóm tắt
WHO công bố Chuẩn tăng trưởng trẻ em năm 2006 và Quần thể tham chiếu cho trẻ 5–19 tuổi năm 2007. Bài viết giải thích các chuẩn này được xây dựng thế nào, cách đọc điểm Z và BMI theo tuổi, và những lưu ý khi nhà trường theo dõi chiều cao, cân nặng học sinh.
Khi cân đo một em học sinh, câu hỏi thật sự không phải "em nặng bao nhiêu" mà là "với tuổi và giới tính của em, cân nặng, chiều cao ấy có bình thường không". Để trả lời, cần một thước đo chung. Từ năm 2006, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cung cấp thước đo đó cho trẻ dưới 5 tuổi, và từ năm 2007 mở rộng cho trẻ em, vị thành niên 5–19 tuổi.
Chuẩn tăng trưởng trẻ em 2006: từ "mô tả" sang "khuyến nghị"
Chuẩn tăng trưởng trẻ em của WHO được công bố ngày 27/4/2006, dựa trên Nghiên cứu Đa trung tâm về Quần thể Tham chiếu Tăng trưởng (MGRS). Nghiên cứu này, tiến hành từ năm 1997 đến 2003, thu thập số liệu từ 8.440 trẻ khỏe mạnh được nuôi bằng sữa mẹ tại sáu nước có nền văn hóa và chủng tộc khác nhau: Brazil, Ghana, Ấn Độ, Na Uy, Oman và Hoa Kỳ. Thiết kế gồm theo dõi dọc từ lúc sinh đến 24 tháng và điều tra cắt ngang trẻ 18–71 tháng.
Điểm khác biệt căn bản so với các biểu đồ cũ nằm ở chỗ chọn mẫu. Các biểu đồ trước đó mô tả trẻ em đã lớn lên ra sao trong một quần thể cụ thể (gồm cả trẻ nuôi dưỡng chưa tối ưu). Còn chuẩn WHO chỉ chọn trẻ sống trong điều kiện thuận lợi — được bú mẹ, mẹ không hút thuốc, gia đình có điều kiện chăm sóc — để mô tả trẻ em nên lớn lên ra sao. Một hướng dẫn của Hội Nhi khoa và Hội Chuyên gia Dinh dưỡng Canada tóm tắt: chuẩn WHO lấy trẻ bú mẹ làm chuẩn mực sinh học và phản ánh cách mọi trẻ khỏe mạnh nên tăng trưởng.
Một phát hiện quan trọng của MGRS là trẻ ở sáu nước, khi được nuôi dưỡng và chăm sóc tốt, tăng trưởng chiều dài rất giống nhau: chỉ khoảng 3% tổng biến thiên là do khác biệt giữa các địa điểm, trong khi khoảng 70% là do khác biệt giữa từng cá nhân. Điều này cho phép dùng một chuẩn chung cho trẻ em khắp thế giới, thay vì mỗi nước một chuẩn.
Bộ chuẩn 2006 gồm nhiều chỉ số: chiều dài/chiều cao theo tuổi, cân nặng theo tuổi, cân nặng theo chiều dài/chiều cao, BMI theo tuổi, vòng đầu theo tuổi, vòng cánh tay theo tuổi, nếp gấp da dưới xương bả vai và cơ tam đầu theo tuổi, các mốc phát triển vận động (ngồi, đứng, bò, đi) và tốc độ tăng cân nặng, chiều dài, vòng đầu.
Quần thể tham chiếu 2007 cho trẻ 5–19 tuổi
Với lứa tuổi đi học, WHO không có nghiên cứu tương đương MGRS. Năm 2007, de Onis và cộng sự công bố trên Bulletin of the World Health Organization quần thể tham chiếu tăng trưởng cho trẻ 5–19 tuổi, được xây dựng sao cho khớp với chuẩn 2006 tại mốc 5 tuổi và khớp với ngưỡng thừa cân, béo phì của người lớn tại mốc 19 tuổi.
Với trẻ 5–19 tuổi, WHO định nghĩa:
- Thừa cân: BMI theo tuổi cao hơn trung vị của quần thể tham chiếu trên 1 độ lệch chuẩn (+1 SD), tương đương BMI 25 kg/m² ở tuổi 19.
- Béo phì: BMI theo tuổi cao hơn trung vị trên 2 độ lệch chuẩn (+2 SD), tương đương BMI 30 kg/m² ở tuổi 19.
Lưu ý rằng ở trẻ em không dùng trực tiếp ngưỡng BMI 25 hay 30 của người lớn, vì BMI bình thường thay đổi theo tuổi và giới. Một em 10 tuổi có BMI 20 có thể đã thừa cân, trong khi cùng con số ấy ở tuổi 18 là bình thường.
Đọc điểm Z và bách phân vị
Kết quả cân đo được quy về điểm Z: số độ lệch chuẩn mà số đo của trẻ cách trung vị của quần thể chuẩn cùng tuổi, cùng giới. Điểm Z bằng 0 nghĩa là đúng trung vị; −2 nghĩa là thấp hơn trung vị hai độ lệch chuẩn. Trong thực hành, điểm Z chiều cao theo tuổi dưới −2 được dùng để xác định thấp còi; điểm Z BMI theo tuổi trên +1 và +2 ở trẻ 5–19 tuổi tương ứng thừa cân và béo phì như trên.
Hướng dẫn của Canada lưu ý ba điều cần nhớ khi đọc biểu đồ:
- Phép đo chỉ đáng tin khi kỹ thuật được chuẩn hóa, dụng cụ được hiệu chuẩn và người đo được tập huấn.
- Nên đánh giá chuỗi số đo theo thời gian, không kết luận từ một lần đo.
- Ở những năm đầu đời, việc trẻ dịch chuyển một đến hai đường bách phân vị là bình thường; nhưng thay đổi đột ngột cần được tìm hiểu nguyên nhân dinh dưỡng hoặc bệnh lý.
Bối cảnh toàn cầu và Việt Nam
Theo tờ thông tin của WHO cập nhật tháng 12/2025, năm 2022 có hơn 390 triệu trẻ em và vị thành niên 5–19 tuổi thừa cân, trong đó 160 triệu béo phì. Tỉ lệ thừa cân ở nhóm tuổi này tăng từ 8% năm 1990 lên 20% năm 2022.
Ở Việt Nam, Tổng điều tra Dinh dưỡng 2019–2020 cho thấy gánh nặng kép: tỉ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ 5–19 tuổi tăng từ 8,5% năm 2010 lên 19% năm 2020 (thành thị 26,8%, nông thôn 18,3%); tỉ lệ thấp còi ở trẻ 5–19 tuổi giảm từ 23,4% xuống 14,8%; thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi là 19,6%. Chiều cao trung bình của thanh niên 18 tuổi tăng 3,7 cm ở nam và 1,4 cm ở nữ so với năm 2010.
Nhà trường vì thế đứng trước hai nhiệm vụ cùng lúc: phát hiện trẻ chậm lớn, thiếu dinh dưỡng, và phát hiện trẻ đang tăng cân quá mức. Cả hai đều cần chính một công cụ — số đo chính xác, được so với chuẩn đúng.
Quy định theo dõi ở trường học Việt Nam
Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT về công tác y tế trường học quy định: đầu năm học đo chiều cao, cân nặng cho trẻ dưới 36 tháng tuổi; đo chiều cao, cân nặng, huyết áp, nhịp tim, thị lực cho học sinh từ 36 tháng tuổi trở lên. Trẻ dưới 24 tháng được đo và ghi biểu đồ tăng trưởng mỗi tháng một lần; trẻ từ 24 tháng đến 6 tuổi mỗi quý một lần; học sinh phổ thông được theo dõi BMI ít nhất hai lần trong năm học.
Gợi ý cho nhà trường
- Dùng đúng chuẩn cho đúng tuổi. Trẻ mầm non dưới 5 tuổi dùng chuẩn WHO 2006; học sinh từ 5 tuổi dùng quần thể tham chiếu WHO 2007. WHO cung cấp bảng tra và phần mềm miễn phí WHO AnthroPlus để tính điểm Z cho trẻ 5–19 tuổi.
- Ghi tuổi theo tháng. Ở trẻ đang lớn, chênh lệch vài tháng tuổi có thể làm thay đổi điểm Z, nhất là quanh tuổi dậy thì.
- Đo hai lần mỗi năm, so sánh với lần trước. Một em giảm điểm Z chiều cao liên tục, hoặc tăng điểm Z BMI nhanh giữa hai học kỳ, nên được nhân viên y tế tư vấn cùng gia đình.
- Chuyển kết quả thành hành động. Số liệu cân đo cần gắn với bữa ăn bán trú, giờ vận động, giáo dục dinh dưỡng; nếu chỉ ghi vào sổ, phép đo không giúp được học sinh.
- Tôn trọng học sinh. Cân đo riêng tư, không đọc to kết quả, không gán nhãn "béo", "còi" trước lớp; trao đổi kết quả với phụ huynh bằng ngôn ngữ sức khỏe, không phán xét.
Nguồn tham khảo
- World Health Organization. Child growth standards. https://www.who.int/tools/child-growth-standards
- WHO Multicentre Growth Reference Study Group, de Onis, M. (2006). Assessment of differences in linear growth among populations in the WHO Multicentre Growth Reference Study. Acta Paediatrica, 95(S450), 56–65. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/j.1651-2227.2006.tb02376.x
- de Onis, M., Onyango, A. W., Borghi, E., Siyam, A., Nishida, C., Siekmann, J. (2007). Development of a WHO growth reference for school-aged children and adolescents. Bulletin of the World Health Organization. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/18026621
- World Health Organization. Growth reference 5–19 years: BMI-for-age. https://www.who.int/tools/growth-reference-data-for-5to19-years/indicators/bmi-for-age
- Canadian Paediatric Society, Dietitians of Canada (2010). A health professional's guide for using the new WHO growth charts. Paediatrics & Child Health, 15(2), 84–90. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC2865941/
- World Health Organization (2025). Obesity and overweight (tờ thông tin). https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/obesity-and-overweight
- Báo Dân trí (2021). Công bố kết quả Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc 2019–2020: Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng gấp ba về dinh dưỡng. https://dansinh.dantri.com.vn/dien-dan-dan-sinh/cong-bo-ket-qua-tong-dieu-tra-dinh-duong-toan-quoc-2019-2020-viet-nam-dang-doi-mat-voi-ganh-nang-gap-ba-ve-dinh-duong-20210417015900000.htm
- Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016). Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT quy định về công tác y tế trường học (Điều 9). https://hethongphapluat.com/thong-tu-lien-tich-13-2016-ttlt-byt-bgddt-quy-dinh-ve-cong-tac-y-te-truong-hoc-do-bo-y-te-bo-giao-duc-va-dao-tao-ban-hanh/dieu-9
Trích dẫn bài viết
Ban Biên tập IESDTD tổng hợp (2026). Chuẩn tăng trưởng của WHO và cách theo dõi thể chất học sinh. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/chuan-tang-truong-who-theo-doi-the-chat-hoc-sinh