- Tác giả
- Ban Biên tập IESDTD tổng hợp
- Lĩnh vực
- Đào tạo & Phát triển nguồn nhân lực số
- Từ khóa
- nhân lực số, chuyển đổi số, Nghị quyết 57-NQ/TW, Quyết định 146/QĐ-TTg, kỹ năng số, chính sách
Tóm tắt
Hai văn bản định hướng chính cho nhân lực số ở Việt Nam là Đề án 146 (2022) về nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng số và Nghị quyết 57-NQ/TW (2024) về đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tóm lược các mục tiêu, nhiệm vụ liên quan tới giáo dục, đào tạo.
Trong vài năm gần đây, nhiều văn bản về chuyển đổi số đã được ban hành ở Việt Nam. Với người làm giáo dục, hai văn bản có liên quan trực tiếp nhất tới nhân lực và kỹ năng số là: Quyết định 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” (gọi tắt là Đề án 146), và Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Nội dung dưới đây tóm lược các phần liên quan tới con người và kỹ năng, dựa trên toàn văn đăng tải công khai.
Đề án 146 (2022): ba trụ cột nhận thức – kỹ năng – nhân lực
Đề án nêu ba quan điểm: nâng cao nhận thức là tiên quyết; phổ cập kỹ năng số là chìa khóa để người dân tiếp cận bình đẳng các dịch vụ số, xây dựng xã hội số bao trùm; phát triển nguồn nhân lực là then chốt để chuyển đổi số hiệu quả, bền vững. Văn bản do Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ký, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
Một số chỉ tiêu
| Nội dung | Đến năm 2025 | Đến năm 2030 |
|---|---|---|
| Người trong độ tuổi lao động biết và có kỹ năng dùng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số thiết yếu (y tế, giáo dục, giao thông, du lịch, ngân hàng) | 70% | 90% (thành thạo cách sử dụng khi có nhu cầu) |
| Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước, tập đoàn, tổng công ty nhà nước được đào tạo, bồi dưỡng về chuyển đổi số hằng năm | 100% | — |
| Chuyên gia chuyển đổi số nòng cốt được đào tạo | Tối thiểu 1.000 | — |
| Kỹ sư, cử nhân, cử nhân thực hành chất lượng cao chuyên ngành công nghệ số | 5.000 | 20.000 |
| Mô hình “Giáo dục đại học số” | Hoàn thiện, thí điểm | Mở rộng tới tối thiểu 50% trường đại học công lập |
| Cơ sở giáo dục phổ thông có hoạt động giáo dục STEM/STEAM và kỹ năng số | 50% | 80% |
Những nhiệm vụ liên quan trực tiếp tới giáo dục
- Xây dựng nền tảng học trực tuyến mở đại trà (MOOCs) về kỹ năng số, người dân truy cập miễn phí; các cơ sở giáo dục, giáo dục nghề nghiệp được dùng học liệu trên nền tảng này.
- Xây dựng và thường xuyên cập nhật phương pháp, tiêu chí đo lường kỹ năng số, khoảng cách số phù hợp thông lệ quốc tế; đánh giá và công bố hằng năm.
- Đào tạo giáo viên các môn tin học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, công nghệ, nghệ thuật về phương pháp STEM/STEAM; xây dựng chương trình STEM/STEAM trong giáo dục phổ thông có lộ trình, ưu tiên thí điểm ở các thành phố trực thuộc trung ương.
- Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học mở thêm chuyên ngành hoặc cập nhật nội dung về chuyển đổi số trong ngành nghề của mình.
- Chương trình “Học từ làm việc thực tế” liên kết nhà trường với doanh nghiệp.
- Mạng lưới thư viện điện tử, tài nguyên giáo dục mở; thí điểm sách giáo khoa mở truy cập miễn phí.
- Định kỳ hằng năm công bố báo cáo dự báo nhu cầu nhân lực và tương lai nghề nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử – viễn thông, an toàn thông tin mạng.
Nghị quyết 57-NQ/TW (2024): nhân lực là một trong năm trọng tâm
Nghị quyết xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu”. Trong phần đánh giá tình hình, Nghị quyết thẳng thắn nêu: nhận thức của nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ và Nhân dân về chuyển đổi số chưa đầy đủ, sâu sắc; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu. Quan điểm chỉ đạo coi thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là các nội dung trọng tâm, cốt lõi.
Một số mục tiêu đến năm 2030 liên quan tới con người
- Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân.
- Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp trên 80%.
- Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo; quy mô kinh tế số tối thiểu 30% GDP.
- Phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số đạt mức cao của thế giới.
Nhóm nhiệm vụ “phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài”
- Tăng đầu tư, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; chính sách hấp dẫn về tín dụng, học bổng, học phí để thu hút học sinh, sinh viên giỏi theo học toán, vật lý, sinh học, hóa học, kỹ thuật và công nghệ then chốt, nhất là sau đại học; chương trình đào tạo tài năng.
- Cơ chế đặc thù thu hút người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài có trình độ cao; cơ chế đặc biệt về nhập quốc tịch, nhà đất, thu nhập, môi trường làm việc cho nhà khoa học đầu ngành, “tổng công trình sư”.
- Xây dựng một số trường, trung tâm đào tạo tiên tiến chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo; cơ chế hợp tác công – tư trong đào tạo nhân lực công nghệ số; nền tảng giáo dục, đào tạo trực tuyến, mô hình giáo dục đại học số, nâng cao năng lực số trong xã hội.
- Phát triển đội ngũ giảng viên cho khoa học cơ bản, chip bán dẫn, vi mạch; đổi mới chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là trí tuệ nhân tạo.
- Chính sách đặc thù để thu hút, giữ chân nhân lực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số làm việc trong các cơ quan của hệ thống chính trị.
Nhận xét
- Hai tầng nhân lực: các văn bản vừa nhắm tới phổ cập kỹ năng số cho toàn dân (dùng được dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số thiết yếu), vừa nhắm tới nhân lực trình độ cao, nhân tài. Hai tầng này cần cách làm rất khác nhau: tầng thứ nhất cần tiếp cận cộng đồng, hướng dẫn trực tiếp; tầng thứ hai cần đầu tư sâu vào đại học, nghiên cứu.
- Đo lường là khâu then chốt. Đề án 146 đã giao nhiệm vụ xây dựng tiêu chí đo kỹ năng số và khoảng cách số theo thông lệ quốc tế. Kinh nghiệm quốc tế (khung DigComp của EU, chỉ số SDG 4.4.1) cho thấy cần phân biệt “đã từng làm” với “làm được tốt”.
- Nhà trường phổ thông có vai trò rõ ràng qua chỉ tiêu STEM/STEAM, kỹ năng số và tài nguyên giáo dục mở — đây là nơi hình thành nền tảng cho cả hai tầng nhân lực.
- Bài viết chỉ tóm lược mục tiêu, nhiệm vụ trên văn bản; mức độ hoàn thành các chỉ tiêu đến năm 2025 cần đối chiếu với báo cáo sơ kết, tổng kết chính thức của các cơ quan chủ trì.
Gợi ý cho nhà trường
- Rà soát kế hoạch giáo dục của trường so với các chỉ tiêu STEM/STEAM và kỹ năng số; tận dụng các nền tảng học liệu mở được xây dựng theo Đề án 146.
- Lồng ghép hướng dẫn học sinh và phụ huynh sử dụng an toàn các dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số thiết yếu — đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phổ cập kỹ năng số.
- Với giáo viên, cán bộ quản lý: chủ động tham gia các chương trình bồi dưỡng về chuyển đổi số hằng năm theo đúng tinh thần của Đề án.
Nguồn tham khảo
- Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=2&docid=205276&pageid=27160
- Toàn văn Quyết định 146/QĐ-TTg (bản đăng tải trên LuatVietnam). https://luatvietnam.vn/lao-dong/quyet-dinh-146-qd-ttg-216400-d1.html
- Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (toàn văn trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ). https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm
Trích dẫn bài viết
Ban Biên tập IESDTD tổng hợp (2026). Phát triển nhân lực số ở Việt Nam: đọc kỹ Nghị quyết 57-NQ/TW và Đề án 146 về phổ cập kỹ năng số. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/chinh-sach-phat-trien-nhan-luc-so-viet-nam-nghi-quyet-57-va-de-an-146