Đơn vị trực thuộc Hội Khoa học phát triển Nguồn nhân lực - Nhân tài Việt Nam

0922812345 [email protected]

Chính sách giáo dục STEM và khoa học ở Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc

Nghiên cứu

Tác giả
Ban Biên tập IESDTD tổng hợp
Lĩnh vực
Giáo dục STEM
Từ khóa
chính sách STEM, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, giáo dục khoa học, so sánh quốc tế

Tóm tắt

Ba nền giáo dục châu Á đi theo ba hướng khác nhau: Trung Quốc huy động toàn xã hội cho giáo dục khoa học, Singapore xây chương trình học tập ứng dụng và phổ cập lập trình, Hàn Quốc đưa STEAM thành chính sách quốc gia từ 2011. Bài tóm lược văn bản gốc và nghiên cứu về các chính sách này.

Việt Nam thường so sánh giáo dục của mình với các nước châu Á có kết quả cao trong các kỳ đánh giá quốc tế. Ở lĩnh vực STEM, Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc có những lựa chọn chính sách đáng chú ý, mỗi nước một trọng tâm. Bài viết tóm lược các văn bản và nghiên cứu tiêu biểu, dựa trên nguồn gốc hoặc nghiên cứu bình duyệt.

Trung Quốc: "làm phép cộng giáo dục khoa học" trong chính sách giảm tải

Tháng 5/2023, Bộ Giáo dục Trung Quốc cùng 17 cơ quan khác ban hành Ý kiến về tăng cường công tác giáo dục khoa học ở trường tiểu học và trung học trong thời kỳ mới (教监管〔2023〕2号, ngày 17/5/2023). Văn bản đặt giáo dục khoa học trong bối cảnh chính sách "song giảm" (giảm bài tập về nhà và giảm học thêm ngoài trường), với phương châm "trong song giảm, làm phép cộng giáo dục khoa học". Mục tiêu là trong 3 đến 5 năm, hệ thống giáo dục khoa học phổ thông hoàn thiện hơn, đội ngũ giáo viên khoa học mở rộng và nâng cao năng lực, và tố chất khoa học của học sinh được nâng lên rõ rệt.

Một số biện pháp cụ thể (lược dịch từ văn bản gốc):

  • Chương trình và giảng dạy: dạy đủ các môn khoa học theo chương trình; áp dụng dạy học gợi mở, tìm tòi; thử nghiệm học theo dự án, học liên môn; thực hiện yêu cầu học tập theo chủ đề liên môn về nguyên tắc không ít hơn 10% thời lượng; tăng cường xây dựng phòng thí nghiệm; thử dùng trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo để cải tiến dạy thí nghiệm, nhất là cho vùng và trường khó khăn.
  • "Phó hiệu trưởng khoa học": mỗi trường có lãnh đạo nhà trường hoặc chuyên gia, nhà khoa học được mời làm phó hiệu trưởng phụ trách khoa học; về nguyên tắc có ít nhất 1 cán bộ hướng dẫn khoa học kỹ thuật và kết nghĩa với ít nhất 1 cơ sở có chức năng phổ biến khoa học (bảo tàng, cơ sở, khu công nghệ, doanh nghiệp).
  • Dịch vụ sau giờ học: giáo dục khoa học là nội dung cơ bản, bắt buộc của dịch vụ sau giờ học ở trường, gồm tọa đàm, thí nghiệm, sáng tác khoa học kỹ thuật, hoạt động maker, quan sát nghiên cứu.
  • Giáo viên: tăng tỉ lệ đào tạo giáo viên khoa học; bảo đảm biên chế giáo viên khoa học tiểu học; từng bước để mỗi trường tiểu học có ít nhất 1 giáo viên khoa học có bằng thạc sĩ ngành khoa học tự nhiên hoặc kỹ thuật.
  • Huy động xã hội: các trường đại học, viện nghiên cứu, bảo tàng khoa học, cung thiếu nhi, doanh nghiệp mở cửa phòng thí nghiệm, cơ sở, dây chuyền sản xuất cho học sinh.
  • Thi cử: đổi mới đề thi vào trung học phổ thông và đại học theo hướng coi trọng năng lực, tăng tính ứng dụng, tổng hợp, sáng tạo, giảm luyện đề máy móc; tăng cường kiểm tra năng lực thực hành thí nghiệm.

Điểm đặc trưng của cách tiếp cận Trung Quốc là huy động đồng thời nhiều bộ, ngành và gắn giáo dục khoa học với cả chương trình chính khóa, hoạt động sau giờ học và kỳ thi.

Singapore: học tập ứng dụng và phổ cập lập trình

Trong trả lời chất vấn tại Quốc hội ngày 11/01/2022 về sự tham gia của nữ giới trong STEM, Bộ Giáo dục Singapore liệt kê một số biện pháp:

  • Chương trình Học tập ứng dụng (Applied Learning Programme – ALP): hơn một nửa số trường trung học tổ chức ALP trong các lĩnh vực STEM, giúp học sinh thấy ý nghĩa của việc học ngoài lớp học, trong cộng đồng và môi trường công nghiệp STEM.
  • Các cuộc thi quốc gia: Hội thi Khoa học và Kỹ thuật Singapore, Cuộc thi Robot quốc gia, Thử thách Đổi mới Kỹ thuật.
  • Hướng nghiệp: chương trình Giáo dục Nhân cách và Công dân có cán bộ tư vấn hướng nghiệp; hội thảo trực tuyến hướng nghiệp STEM; ngày hội mở cửa của các cơ sở giáo dục đại học.

Theo thông tin trong trả lời này, năm 2021 gần 4/10 sinh viên STEM ở các trường đại học tự chủ, bách khoa và Viện Giáo dục Kỹ thuật là nữ; khoảng một phần ba người lao động thường trú làm công việc STEM năm 2020 là nữ.

Về lập trình, theo trả lời chất vấn ngày 09/01/2024 của Bộ Phát triển Kỹ thuật số và Thông tin Singapore, chương trình bồi dưỡng Code for Fun do Cơ quan Phát triển Truyền thông – Thông tin (IMDA) và Bộ Giáo dục triển khai từ năm 2014 nhằm cho học sinh tiểu học và trung học làm quen với lập trình và tư duy máy tính. Từ năm 2020, mọi học sinh cuối cấp tiểu học bắt buộc tham gia Code for Fun hoặc một chương trình lập trình tương đương. Năm 2023, gần hai phần ba số trường trung học tổ chức chương trình này, tăng từ 48% năm 2021; mỗi năm hơn 50.000 học sinh được tiếp cận.

Đặc trưng của Singapore là để mỗi trường lựa chọn lĩnh vực học tập ứng dụng phù hợp, đồng thời đặt một "mức sàn" chung, như yêu cầu mọi học sinh cuối cấp tiểu học được học lập trình.

Hàn Quốc: STEAM thành chính sách quốc gia

Hàn Quốc chính thức đưa giáo dục STEAM thành chính sách giáo dục từ năm 2011. Nghiên cứu của Park, Byun, Sim, Han và Baek (2016) trên Eurasia Journal of Mathematics, Science and Technology Education (giấy phép Creative Commons) khảo sát giáo viên ở các trường điểm về STEAM. Kết quả: đa số giáo viên, đặc biệt giáo viên nhiều kinh nghiệm và giáo viên nam, có cái nhìn tích cực về vai trò của STEAM. Đồng thời, giáo viên nêu nhiều khó khăn: khó tìm thời gian dạy bài STEAM, khối lượng công việc tăng, thiếu hỗ trợ hành chính và tài chính. Các tác giả cho rằng cần sự hỗ trợ đầy đủ của chính phủ, việc tái cấu trúc chương trình quốc gia và thay đổi đáng kể trong hệ thống đánh giá quốc gia để thúc đẩy STEAM tốt hơn.

Một tổng quan về STEAM ở tiểu học của Yim, Su và Wegerif dẫn nhận định rằng hiệu quả của STEAM ở tiểu học Hàn Quốc phụ thuộc nhiều vào mức độ giáo viên hiểu mục đích của STEAM.

So sánh nhanh

Trung QuốcSingaporeHàn Quốc
Trọng tâmGiáo dục khoa học toàn diện, huy động xã hộiHọc tập ứng dụng theo trường; lập trình bắt buộc cuối cấp tiểu họcSTEAM (có nghệ thuật) là chính sách quốc gia
Công cụ chínhVăn bản liên bộ, phó hiệu trưởng khoa học, dịch vụ sau giờ học, đổi mới thi cửALP, Code for Fun, cuộc thi quốc gia, hướng nghiệpTrường điểm STEAM, hỗ trợ giáo viên
Khó khăn được ghi nhận(văn bản mới, chưa có đánh giá được công bố trong các nguồn đã tra cứu)Chưa phải trường nào cũng tổ chức ALP STEM hay Code for Fun ở trung họcThiếu thời gian, khối lượng công việc, thiếu hỗ trợ, áp lực thi cử

Gợi ý cho Việt Nam

  • Thi cử phải đi cùng. Cả văn bản Trung Quốc lẫn nghiên cứu ở Hàn Quốc đều chỉ ra: nếu kỳ thi vẫn thưởng cho luyện đề, giáo dục STEM khó đi vào thực chất.
  • Kết nối nhà trường với cơ sở khoa học. Mô hình "phó hiệu trưởng khoa học" và kết nghĩa với một cơ sở phổ biến khoa học là ý tưởng có thể tham khảo, phù hợp với định hướng hợp tác với đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp trong Công văn 3089.
  • Đặt mức sàn rõ ràng. Như Singapore với lập trình, xác định điều tối thiểu mọi học sinh được trải nghiệm, rồi để trường phát triển thế mạnh riêng.
  • Giảm tải cho giáo viên. Bài học từ Hàn Quốc: thiếu thời gian và khối lượng công việc tăng là rào cản lớn; cần tính đến định mức, học liệu dùng chung.
  • Chú ý vùng khó khăn. Văn bản Trung Quốc ưu tiên nguồn lực cho vùng nông thôn, miền núi; Việt Nam cũng cần tránh để STEM chỉ là thế mạnh của trường thành phố.

Nguồn tham khảo

  1. 教育部等十八部门 (2023). 关于加强新时代中小学科学教育工作的意见 (教监管〔2023〕2号). Bộ Giáo dục Trung Quốc. http://www.moe.gov.cn/srcsite/A29/202305/t20230529_1061838.html
  2. Ministry of Education Singapore (2022). STEM – Parliamentary reply, 11/01/2022. https://www.moe.gov.sg/news/parliamentary-replies/20220111-stem
  3. Ministry of Digital Development and Information Singapore (2024). Response to PQ on Proportion of Students Who Have Undergone Code for Fun Enrichment Programme. https://www.mddi.gov.sg/newsroom/code-for-fun-enrichment-programme/
  4. Park, H., Byun, S., Sim, J., Han, H.-S. & Baek, Y. S. (2016). Teachers' Perceptions and Practices of STEAM Education in South Korea. Eurasia Journal of Mathematics, Science and Technology Education, 12(7), 1739–1753. https://www.ejmste.com/article/teachers-perceptions-and-practices-of-steam-education-in-south-korea-4573
  5. Yim, I. H. Y., Su, J. & Wegerif, R. STEAM in Practice and Research in Primary Schools: A Systematic Literature Review (bản lưu tại kho Đại học Cambridge). https://api.repository.cam.ac.uk/server/api/core/bitstreams/59e3c7d6-dadf-4b07-8307-82ef85fd2a5e/content

Trích dẫn bài viết

Ban Biên tập IESDTD tổng hợp (2026). Chính sách giáo dục STEM và khoa học ở Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/chinh-sach-giao-duc-stem-trung-quoc-singapore-han-quoc