Đơn vị trực thuộc Hội Khoa học phát triển Nguồn nhân lực - Nhân tài Việt Nam

0922812345 [email protected]

Bắt nạt trên mạng ở trẻ em và vị thành niên: mức độ phổ biến, yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ và vai trò của nhà trường

Nghiên cứu

Tác giả
Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Zhu và cộng sự (2021)
Lĩnh vực
Trí tuệ nhân tạo, Khoa học dữ liệu & Công nghệ số
Từ khóa
bắt nạt trên mạng, an toàn trực tuyến, trẻ em, vị thành niên, sức khỏe tinh thần, nhà trường

Tóm tắt

Lược dịch tổng quan hệ thống của Zhu và cộng sự (Frontiers in Public Health, 2021) gồm 63 nghiên cứu về bắt nạt trên mạng giai đoạn 2015–2019, kèm số liệu khảo sát của WHO châu Âu năm 2024: cứ sáu học sinh có một em từng bị bắt nạt trên mạng.

Phần chính lược dịch từ: Zhu, C., Huang, S., Evans, R. & Zhang, W. (2021). Cyberbullying Among Adolescents and Children: A Comprehensive Review of the Global Situation, Risk Factors, and Preventive Measures. Frontiers in Public Health, 9, 634909 (giấy phép CC BY 4.0). Số liệu của WHO châu Âu và mục gợi ý do Ban Biên tập bổ sung.

Khoảng một phần ba người dùng Internet trên thế giới là trẻ em dưới 18 tuổi. Bên cạnh cơ hội học tập và kết nối, môi trường mạng mở ra một hình thức bạo lực mới: bắt nạt trên mạng (cyberbullying), thường được hiểu là hành vi gây tổn hại có chủ ý và lặp lại của một hay nhiều bạn đồng trang lứa, diễn ra trên không gian mạng qua máy tính, điện thoại và các thiết bị khác. Khác với bắt nạt ở trường, bắt nạt trên mạng có thể ẩn danh, diễn ra bất cứ lúc nào và theo các em về tận nhà. Nạn nhân bắt nạt trên mạng có mức trầm cảm, lo âu, cô đơn cao hơn nạn nhân bắt nạt truyền thống; hiện tượng này cũng liên quan đến lòng tự trọng thấp và nghỉ học.

Tổng quan hệ thống của Zhu và cộng sự (2021)

Phạm vi

Nhóm tác giả (Đại học Vũ Hán, Đại học Khoa học và Công nghệ Hoa Trung – Trung Quốc và Đại học Brunel London – Anh) rà soát tài liệu từ 1/1/2015 đến 31/12/2019 trên tám cơ sở dữ liệu về y tế công cộng, truyền thông và tâm lý học, theo hướng dẫn PRISMA. Trong 2.070 tài liệu, 63 nghiên cứu được đưa vào phân tích; nhiều nhất từ Mỹ (14), Tây Ban Nha (12) và Trung Quốc (6).

Mức độ phổ biến

  • Tỷ lệ từng bị bắt nạt trên mạng dao động từ 13,99% đến 57,5% (trung bình 33,08%); tỷ lệ từng bắt nạt người khác từ 6,0% đến 46,3% (trung bình 25,03%).
  • Các tác giả cho rằng tỷ lệ tăng trong giai đoạn 2015–2019 so với các tổng quan trước (ví dụ mức tham gia trung bình 15% trong nghiên cứu của Modecki và cộng sự), có thể do mạng xã hội thay đổi nhanh và tỷ lệ truy cập Internet tăng mạnh.
  • Con số chênh lệch lớn giữa các nghiên cứu một phần do khác nhau về định nghĩa, khoảng thời gian hỏi (cả đời, năm qua, tháng qua…), mẫu khảo sát và công cụ đo.

Các hình thức

Hình thứcVí dụGhi nhận
Bạo lực bằng lờiLăng mạ, chế giễu, đe dọa, vu khống, quấy rốiPhổ biến nhất; tỷ lệ bị hại 2,8–47,5% tùy nghiên cứu
Bạo lực nhómBị loại khỏi nhóm, bị từ chối vào nhóm trực tuyếnBị hại 5–17,8%
Bạo lực hình ảnhPhát tán ảnh, thông tin cá nhânBị hại 2,6–12,1%
Mạo danh, chiếm tài khoảnLập tài khoản giả, đánh cắp mật khẩuBị hại 1,1–10%
Hình thức khácTiết lộ đời tư, quấy rối tình dục, theo dõi đeo bám trên mạngBiến động lớn giữa các nghiên cứu

Yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ

Tổng quan xác định 14 yếu tố nguy cơ và 3 yếu tố bảo vệ:

  • Nguy cơ bị bắt nạt (cá nhân): nhiều nghiên cứu cho thấy nữ dễ bị bắt nạt hơn nam; học sinh có vấn đề sức khỏe tinh thần (trầm cảm, rối loạn ăn uống, thiếu ngủ, có ý nghĩ tự sát…) dễ là nạn nhân hơn; dành nhiều thời gian trên mạng cũng gắn với nguy cơ cao hơn.
  • Nguy cơ trở thành người bắt nạt: tuổi lớn hơn (đặc biệt trên 15 tuổi); từng bị bắt nạt trên mạng hoặc trực tiếp (có thể bắt nạt lại để trả đũa, tự vệ hay khẳng định vị thế); tính bốc đồng.
  • Nguy cơ từ hoàn cảnh: cha mẹ bạo hành, bỏ mặc, gia đình bất ổn, giám sát không nhất quán; kiểu nuôi dạy độc đoán, kiểm soát quá mức; quan hệ thầy – trò không hòa hợp; sống ở đô thị.
  • Yếu tố bảo vệ: sự đồng cảm và trí tuệ cảm xúc; quan hệ cha mẹ – con cái gần gũi, giao tiếp cởi mở; bầu không khí nhà trường tích cực.

Một điểm tinh tế: sự giám sát của cha mẹ có thể là yếu tố bảo vệ khi cân bằng giữa kiểm soát và cởi mở, nhưng thành yếu tố nguy cơ khi quá lỏng hoặc quá chặt. Hiệu quả phụ thuộc vào việc trẻ có tin rằng cha mẹ thực sự có thể hỗ trợ mình hay không, chứ không phải đơn thuần là hạn chế, kiểm soát hay tịch thu thiết bị. Sức khỏe tinh thần vừa có thể là yếu tố nguy cơ, vừa là hậu quả của bắt nạt trên mạng.

Biện pháp phòng ngừa được đề xuất

  • Với học sinh: nâng cao năng lực số, đặc biệt khi dùng mạng xã hội và ứng dụng nhắn tin; rèn kỹ năng tự điều chỉnh cảm xúc.
  • Với cha mẹ: quan tâm, hỗ trợ, tham gia tích cực vào đời sống của con; trò chuyện cởi mở, không định kiến và cùng con thống nhất quy tắc dùng máy tính, điện thoại.
  • Với nhà trường: xây dựng môi trường an toàn, tích cực, đối xử công bằng với mọi học sinh; chính sách tôn trọng sự khác biệt; phối hợp với cơ quan sức khỏe tâm thần và cộng đồng; bắt đầu can thiệp sớm, khoảng 10 tuổi; khuyến khích nạn nhân tìm kiếm giúp đỡ và tạo kênh báo cáo, kể cả kênh ẩn danh.
  • Giáo viên, nhân viên tư vấn và cha mẹ cần có kiến thức về quản lý cảm xúc để nhận ra và giúp học sinh xử lý cảm xúc giận dữ, hung hăng.

Giới hạn

Đa số nghiên cứu gốc có thiết kế cắt ngang nên chỉ cho biết mối liên quan, chưa chứng minh nhân quả. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả các biện pháp can thiệp và chính sách còn ít. Hầu hết các nghiên cứu cấp quốc gia đến từ nước thu nhập cao; các tác giả kêu gọi nghiên cứu nhiều hơn ở nước thu nhập thấp và trung bình.

Bằng chứng từ phân tích gộp trước đó

Phân tích gộp của Kowalski và cộng sự (Psychological Bulletin, 2014) – một trong những tổng hợp được trích dẫn nhiều nhất về chủ đề này – cho thấy các yếu tố gắn mạnh nhất với việc bắt nạt người khác trên mạng là niềm tin coi hành vi gây hấn là bình thường và sự "buông lỏng đạo đức" (tự biện minh cho hành vi sai); còn các yếu tố gắn mạnh nhất với việc bị bắt nạt là căng thẳng và ý nghĩ tự sát. Các tác giả cũng lưu ý những mối liên hệ này chưa xác định được chiều nhân quả.

Số liệu mới: khảo sát của WHO châu Âu (2024)

Khảo sát Hành vi sức khỏe của trẻ em độ tuổi đi học (HBSC) công bố tháng 3/2024, với hơn 279.000 học sinh 11, 13 và 15 tuổi ở 44 quốc gia và vùng lãnh thổ, cho thấy cứ sáu học sinh có một em từng bị bắt nạt trên mạng:

Chỉ sốNamNữ
Từng bị bắt nạt trên mạng15% (năm 2018: 12%)16% (năm 2018: 13%)
Từng bắt nạt người khác trên mạng14% (năm 2018: 11%)9% (năm 2018: 7%)

WHO châu Âu nhấn mạnh bắt nạt trên mạng vượt ra ngoài cổng trường, vào tận không gian được coi là an toàn của gia đình, nên cần sự tham gia của nhà giáo dục, cha mẹ, lãnh đạo cộng đồng và nhà hoạch định chính sách, cùng các chính sách nuôi dưỡng sự đồng cảm, tôn trọng và khả năng phục hồi ở thanh thiếu niên.

Gợi ý cho nhà trường Việt Nam

  • Đưa an toàn trực tuyến vào giáo dục kỹ năng sống và tin học từ tiểu học: bảo vệ mật khẩu, thông tin cá nhân, hình ảnh; cách chặn, báo cáo, lưu bằng chứng; ứng xử văn minh trên mạng.
  • Có quy trình xử lý rõ ràng khi phát hiện bắt nạt trên mạng giữa học sinh: tiếp nhận, bảo vệ nạn nhân, làm việc với học sinh liên quan và gia đình, tránh xử lý công khai gây tổn thương thêm.
  • Tạo kênh báo cáo an toàn, có thể ẩn danh, và bảo đảm học sinh tin rằng báo cáo sẽ được xử lý nghiêm túc.
  • Chăm lo bầu không khí lớp học, trường học – một trong ba yếu tố bảo vệ được nhận diện – qua quan hệ thầy trò tôn trọng, hoạt động gắn kết, giáo dục cảm xúc – xã hội.
  • Phối hợp với cha mẹ: khuyến khích trò chuyện cởi mở thay vì chỉ cấm đoán; cảnh giác với dấu hiệu bất thường (tránh dùng điện thoại, lo âu, ngại đến trường).
  • Quan tâm học sinh có nguy cơ cao: học sinh từng bị bắt nạt, có khó khăn về sức khỏe tinh thần, dành nhiều thời gian trên mạng.

Nguồn tham khảo

  1. Zhu, C., Huang, S., Evans, R. & Zhang, W. (2021). Cyberbullying Among Adolescents and Children: A Comprehensive Review of the Global Situation, Risk Factors, and Preventive Measures. Frontiers in Public Health, 9, 634909 (giấy phép CC BY 4.0). https://doi.org/10.3389/fpubh.2021.634909
  2. WHO Regional Office for Europe (27/3/2024). One in six school-aged children experiences cyberbullying, finds new WHO/Europe study. https://www.who.int/europe/news/item/27-03-2024-one-in-six-school-aged-children-experiences-cyberbullying--finds-new-who-europe-study
  3. Kowalski, R. M., Giumetti, G. W., Schroeder, A. N. & Lattanner, M. R. (2014). Bullying in the digital age: a critical review and meta-analysis of cyberbullying research among youth. Psychological Bulletin, 140, 1073–1137. https://doi.org/10.1037/a0035618

Trích dẫn bài viết

Ban Biên tập IESDTD biên dịch từ Zhu và cộng sự (2021) (2026). Bắt nạt trên mạng ở trẻ em và vị thành niên: mức độ phổ biến, yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ và vai trò của nhà trường. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/bat-nat-tren-mang-o-tre-em-va-vi-thanh-nien