Đơn vị trực thuộc Hội Khoa học phát triển Nguồn nhân lực - Nhân tài Việt Nam

0922812345 [email protected]

Bàn ghế học đường vừa với học sinh: tiêu chuẩn, nghiên cứu và thực tế Việt Nam

Nghiên cứu

Tác giả
Ban Biên tập IESDTD tổng hợp
Lĩnh vực
Nhân trắc học & Khoa học não bộ
Từ khóa
bàn ghế học sinh, nhân trắc học, công thái học, Thông tư 26/2011, đau lưng học đường

Tóm tắt

Nhiều nghiên cứu ở các nước cho thấy phần lớn bàn ghế trong lớp không khớp với số đo cơ thể học sinh. Bài viết tóm tắt cách các nhà công thái học đánh giá độ "vừa" của bàn ghế, bằng chứng về ảnh hưởng tới sức khỏe và quy định hiện hành ở Việt Nam.

Một học sinh tiểu học dành nhiều giờ mỗi ngày ngồi tại bàn học. Nếu ghế quá cao, chân em lơ lửng, mép ghế đè lên mặt sau đùi; nếu ghế quá sâu, em phải ngồi trượt về phía trước và không tựa được lưng; nếu bàn quá cao, vai phải nhô lên để viết. Những điều tưởng nhỏ này là đối tượng nghiên cứu của công thái học học đường, nơi số đo nhân trắc của học sinh được đặt cạnh kích thước của bàn ghế để xem chúng có "khớp" nhau không.

Đánh giá độ vừa: so số đo cơ thể với kích thước đồ vật

Cách làm phổ biến là đo một số kích thước của học sinh và của bàn ghế, rồi dùng các phương trình để xác định có "lệch" (mismatch) hay không. Năm 2015, Castellucci, Arezes và Molenbroek công bố một tổng quan hệ thống trên International Journal of Industrial Ergonomics về chính các phương trình này. Nhóm tác giả tìm được 17 nghiên cứu đủ tiêu chí, trong đó có 21 phương trình dùng để kiểm tra 6 kích thước của bàn ghế. Họ cũng chỉ ra rằng việc áp dụng các phương trình khác nhau có sai lệch hệ thống, và một số phương trình dựa trên tiêu chí mâu thuẫn nhau — nghĩa là cùng một cái ghế có thể bị coi là vừa hay không vừa tùy cách tính.

Dù có khác biệt, các nghiên cứu thường xoay quanh ba cặp so sánh chính:

Kích thước bàn ghếSo với số đo cơ thểVí dụ tiêu chí được dùng
Chiều cao mặt ghếChiều cao khoeo chânGhế vừa khi cao từ 88% đến 95% chiều cao khoeo
Độ sâu mặt ghếChiều dài mông – khoeoGhế vừa khi sâu từ 80% đến 95% chiều dài mông – khoeo
Chiều cao mặt bànChiều cao khuỷu tay khi ngồiBàn vừa khi cao bằng hoặc hơn khuỷu tay tối đa 5 cm

Các tiêu chí trong bảng là những tiêu chí được dùng trong nghiên cứu của Assiri và cộng sự (2019) tại Ả Rập Xê Út, nêu ở đây để minh họa; các nghiên cứu khác có thể dùng ngưỡng khác.

Mức độ không vừa thường rất cao

Nghiên cứu của Assiri và cộng sự đăng trên International Journal of Environmental Research and Public Health năm 2019 đã đo 879 học sinh 13–18 tuổi tại thành phố Abha. Tỉ lệ không vừa về chiều cao ghế là 84,3% ở khối trung học cơ sở và 75,6% ở khối trung học phổ thông; về độ sâu ghế là 74,0% và 84,5%; về chiều cao bàn là 94,1% và 82,3%. Tỉ lệ đau lưng là 10,8%. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố khác, việc ghế quá sâu so với chiều dài mông – khoeo gắn với nguy cơ đau lưng cao hơn rõ rệt; tập thể dục là yếu tố bảo vệ. Các tác giả nêu giới hạn: thiết kế cắt ngang, chỉ ở một thành phố, không đánh giá tư thế ngồi thực tế.

Bức tranh "phần lớn bàn ghế không vừa" lặp lại ở nhiều nước có nghiên cứu. Tuy vậy, mối liên hệ giữa không vừa và đau cơ xương ở trẻ em mới chủ yếu đến từ nghiên cứu cắt ngang, nên chưa đủ để khẳng định quan hệ nhân quả.

Thay bàn ghế có giúp ích không?

Năm 2017, Castellucci và cộng sự công bố trên tạp chí Ergonomics một tổng quan hệ thống nhằm trả lời câu hỏi: thiết kế hoặc kích thước bàn ghế có ảnh hưởng tới phản ứng cơ thể và kết quả học tập của học sinh không? Trong các nghiên cứu được xem xét, 64% cho kết quả tích cực, 24% cho thấy tác động tiêu cực hoặc không thay đổi, 12% không rõ. Sự tương thích giữa kích thước bàn ghế và số đo cơ thể được xác định là một yếu tố then chốt để cải thiện một số phản ứng cơ thể; một số đặc điểm thiết kế như bàn ghế cao, bàn ghế ngồi – đứng, mặt bàn và mặt ghế nghiêng cũng cho tác động tích cực. Nhóm tác giả đề nghị cần thêm nghiên cứu có đối chứng, theo dõi dọc và đo lường khách quan hơn.

Nói cách khác, bằng chứng nghiêng về phía có lợi khi bàn ghế vừa người, nhưng độ mạnh còn ở mức vừa phải. Đây là lý do các tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia chọn cách tiếp cận thận trọng: cung cấp nhiều cỡ để học sinh có thể ngồi đúng cỡ của mình.

Tiêu chuẩn châu Âu và Việt Nam

Tiêu chuẩn châu Âu EN 1729-1:2015 quy định kích thước chức năng và cách ghi nhãn cho ghế và bàn học, chia thành các cỡ đánh số kèm mã màu, ứng với các khoảng chiều cao của người dùng. Ý tưởng cốt lõi là lấy chiều cao đứng làm căn cứ chọn cỡ, vì đây là số đo dễ đo nhất trong trường học.

Việt Nam có Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT ngày 16/6/2011 của ba bộ Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ, Y tế, hướng dẫn tiêu chuẩn bàn ghế học sinh tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông, có hiệu lực từ 1/8/2011. Một số điểm chính:

  • Bàn ghế được chia thành 6 cỡ (I đến VI) cho học sinh cao từ 100 cm đến 175 cm; chiều cao ghế từ 26 cm (cỡ I) đến 41 cm (cỡ VI), chiều cao bàn từ 45 cm đến 69 cm, sai số cho phép ±0,5 cm.
  • Mỗi bàn tối đa hai chỗ ngồi; bàn ghế phải chắc chắn, mặt làm bằng vật liệu cứng, chịu nước, không cong vênh, không độc hại.
  • Khoảng cách giữa hai dãy bàn là 80 cm; bàn đầu phải đặt sao cho học sinh ngồi ở vị trí trong cùng và ngoài cùng có góc nhìn tới tâm bảng không nhỏ hơn 30° và không phải quay đầu quá 60°.

Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT về y tế trường học dẫn chiếu lại Thông tư 26/2011 cho bàn ghế từ tiểu học trở lên; với cơ sở mầm non, kích thước bàn ghế áp dụng theo Tiêu chuẩn Việt Nam.

Khoảng cách giữa quy định và lớp học

Năm 2024, Bộ Giáo dục và Đào tạo khảo sát tại 6 tỉnh, thành phố và ghi nhận việc thực hiện tiêu chuẩn chưa đồng đều: nhiều trường chỉ dùng một cỡ bàn ghế cho tất cả các lớp, nhiều bàn ghế không có mã cỡ, có bộ đã dùng trên 20 năm chưa sửa chữa, thay thế. Báo cáo của 35/63 địa phương cho thấy gần 125.000 học sinh cao trên 175 cm — chiều cao chưa được Thông tư 26 bao quát.

Công văn 4517/BGDĐT-KHTC (báo chí đưa tin tháng 8/2026) hướng dẫn nhà trường làm theo sáu bước: phân loại bàn ghế hiện có theo cỡ I–VI và ghi mã lên bàn ghế; đo chiều cao học sinh đầu năm học; bố trí học sinh và bàn ghế phù hợp từng lớp; tính số lượng cần sửa chữa và mua mới theo từng mã; sửa chữa; mua sắm. Với học sinh cao trên 175 cm, công văn hướng dẫn tham khảo cỡ VI và các tiêu chuẩn TCVN 3981:1985, TCVN 4602:2012, TCVN 7437:2018. Bộ cũng đang phối hợp với hai bộ còn lại để sửa đổi, bổ sung Thông tư 26.

Gợi ý cho nhà trường và giáo viên

  • Một lớp cần nhiều cỡ. Chiều cao học sinh trong cùng một lớp có thể chênh nhau hơn một cỡ bàn ghế, nhất là ở tuổi dậy thì. Khi mua sắm, nên tính theo phân bố chiều cao thực tế của khối lớp thay vì một cỡ trung bình.
  • Ghi mã cỡ lên từng bàn ghế. Khi đã có mã, giáo viên chủ nhiệm có thể xếp chỗ nhanh dựa trên số đo chiều cao đầu năm.
  • Ưu tiên chiều cao và độ sâu ghế. Nếu chưa thay được bàn ghế, có thể dùng giải pháp tạm như kê chân cho học sinh thấp, tấm tựa lưng cho ghế quá sâu — miễn là chắc chắn, an toàn.
  • Đổi chỗ có tính đến chiều cao. Khi luân chuyển chỗ ngồi theo tổ, cần di chuyển cả bàn ghế đúng cỡ theo học sinh, hoặc luân chuyển trong nhóm có chiều cao gần nhau.
  • Đừng kỳ vọng bàn ghế giải quyết mọi thứ. Bằng chứng cho thấy vận động thể chất, thay đổi tư thế, giờ nghỉ giữa tiết cũng quan trọng với sức khỏe cơ xương của học sinh.

Nguồn tham khảo

  1. Castellucci, H. I., Arezes, P. M., Molenbroek, J. F. M. (2015). Equations for defining the mismatch between students and school furniture: A systematic review. International Journal of Industrial Ergonomics, 48, 117–126. https://doi.org/10.1016/j.ergon.2015.05.002
  2. Castellucci, H. I. và cộng sự (2017). The influence of school furniture on students' performance and physical responses: results of a systematic review. Ergonomics, 60(1), 93–110.
  3. Assiri, A. và cộng sự (2019). Classroom Furniture Mismatch and Back Pain Among Adolescent School-Children in Abha City, Southwestern Saudi Arabia. International Journal of Environmental Research and Public Health, 16(8), 1395. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC6518290/
  4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế (2011). Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT hướng dẫn tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông. https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=101816
  5. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ GDĐT hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn bàn ghế học sinh theo Thông tư 26. https://moet.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop2/bo-gddt-huong-dan-thuc-hien-tieu-chuan-ban-ghe-hoc-sinh-theo-thong-tu-26.html
  6. Báo Tiền Phong (2026). Học sinh cao 1,75 mét bàn ghế vẫn sử dụng loại từ 20 năm trước: Bộ GD&ĐT yêu cầu rà soát điều chỉnh. https://tienphong.vn/hoc-sinh-cao-175-met-ban-ghe-van-su-dung-loai-tu-20-nam-truoc-bo-gddt-yeu-cau-ra-soat-dieu-chinh-post1870429.tpo
  7. Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016). Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT quy định về công tác y tế trường học (khoản 2 Điều 4). https://hethongphapluat.com/thong-tu-lien-tich-13-2016-ttlt-byt-bgddt-quy-dinh-ve-cong-tac-y-te-truong-hoc-do-bo-y-te-bo-giao-duc-va-dao-tao-ban-hanh/dieu-4/khoan-2

Trích dẫn bài viết

Ban Biên tập IESDTD tổng hợp (2026). Bàn ghế học đường vừa với học sinh: tiêu chuẩn, nghiên cứu và thực tế Việt Nam. Viện Khoa học giáo dục và phát triển Công nghệ số. https://iesdtd.edu.vn/nghien-cuu/ban-ghe-hoc-duong-va-so-do-nhan-trac