Trang chủ Viện

Thơ Tản Đà — Tản Đà

Mưa thu đất khách

Chương 3 / 3

Mưa thu đất khách

Mưa mưa mãi! ngày đêm rả-rích;
Giọt mưa thu, dạ khách đầy vơi.
Những ai mặt biển chân giời,
Nghe mưa, ai có nhớ nhời nước non?

Vợ chồng người đốt than trên núi.

Bài này, khi làm việc ở Hữu-
Thanh, chữa văn lai cảo.

Đèn Hà-nội sáng choang lửa điện,
Quanh hồ Khươm xe điện cao-xu.
Rừng Ngang[35] sương khói mịt mù,
Gió âm, giăng lạnh. cây lù-rù đen.
Rừng một giải, cây chen vạn gốc;
Gốc cây rừng, một nóc nhà gianh;
Trong nhà, một ngọn đèn xanh;
Dưới đèn mờ vẽ bức tranh ba người:
Con thời quấy, vợ thời miệng dỗ,
Chồng lưi-cui đan rổ đựng than.
Đêm khuya con ngủ đèn tàn,
Một hai thế-sự, muôn vàn tình-thâm.
Chàng chăng hỡi, tri âm từ thủa,
Nỗi sinh-nhai dìu búa, bếp lò.
Nghĩ mình cũng đấng trượng-phu,
Tây nho chữ nghĩa không thua chi đời.
Đời nào đã mấy ai tài trí,
Cũng vinh hoa phú quí như không.
Cũng xe bóng, cũng ngựa hồng,
Cũng trăm, nghìn, vạn bạc đồng trong tay.
Chàng chẳng nghĩ cho tầy người khác,
Lối công danh chen bước kịp thì;
Làm cho phỉ chí nam-nhi,
Trước là phu quí, sau thì phụ vinh.
Chẳng hơn ở rừng xanh một giải?
Sớm sương non! tối lại giăng ngàn!
Bòng bong đôi mớ củi tàn!
Con reo rắt đói, vợ than thở nghèo!
— Mình mình hỡi, nghĩ sao mà hẹp!
Kiếp ở đời là kiếp phù-sinh:
Mây vàng chớp nhoáng bên mình,
Sinh sinh hóa hóa cái hình phù-du.
Xưa nay ngẫm sang giầu cũng lắm,
Cuộc trăm năm chơ nấm đất vàng.
Cõi đời nghĩ đã mơ màng.
Nỗi đời lắm nỗi nghĩ càng thêm đau:
Mình chẳng thấy kêu sầu mùa hạ?
Con quốc kia ròng-rã nắng mưa.
Ấy hồn Thục-đế khi xưa,
Bởi đâu thương tiếc, hồn chưa hóa hồn.[36]
Lại chẳng thấy kêu buồn con mối?
Tắc lưỡi kêu, khơi mối não-nùng;
Ấy xưa cự phú Thạch-Sùng,
Bởi đâu thương tiếc, cho lòng còn căm.[37]
Lại lắm kẻ còn lăm phú quí,
Lấm đầu lươn luồn lụy vào ra;
Chồng chồng vợ vợ vinh hoa,
Mà trong vinh hiển xót-xa đã nhiều.
Cũng có kẻ hồn tiêu mũi bể,
Nhọn chào tan giọt lệ gia hương.
Người thời tội gánh nợ mang,
Kẻ thời con bán vợ nhường chia tan.
Đời sâu thám muôn vàn xiết kể,
Cảnh phong-lưu ai dễ hơn thầy:
Bụi hồng mặc khách đông tây,
Quầy than đủng-đỉnh, tháng ngày tiêu-rao.
Nhà gianh cỏ leo-teo mà mát,
Cơm muối rưa xuông nhạt càng thanh.
Đòi khi ngọn núi đầu ghềnh,
Vui duyên giăng gió, mặn tình cỏ hoa.
Khi than đắt, rượu ba bẩy hớp,
Vợ, chồng, con, hòa hợp một đoàn;
Thú vui lắm thú thanh nhàn,
Khúc ca tiếng hạc, cung đàn gió thông.
Sướng đến thế, mà không biết sướng;
Còn than thân, mong tưởng như ai.
Dại đâu có dại lạ đời!
Ngu đâu mà lại có người quá ngu!
Người phải biết tự-do là thú;
Mất tự-do, còn có ra chi!
Canh tàn thôi liệu ngủ đi!
Ngủ cho đẫy giấc, mai thì bán than!

Thư trách người tình-nhân không quen biết

Cuối quyển Khối-Tình-con thứ hai,
có thư đưa người tình-nhân không
quen biết, mà đến sau không thấy
giả nhời; vậy có thư trách này.
Điệu văn cũng theo bức thư trước.

Ngồi buồn ta lại viết thư chơi,
Viết bức thư này, gửi trách ai.
Non nước bấy lâu lòng tưởng nhớ,
Mà ai tri-kỷ vắng tăm hơi!
Đỉnh non Tản, mây giời man-mác,
Giải sông Đà, bọt nước lênh-bênh;
Bao nhiêu cảnh, bấy nhiêu tình,
Nước kia mây nọ như mình với ta.
Người đâu tá? quê nhà chưa tỏ;
Tuổi bao nhiêu? tên họ là chi?
Đã sinh cùng nước cùng thì,
Cùng ta không biệt mà ly, hỡi mình!
Kể từ độ thư tình gửi nhắn,
Trải bao năm tin nhạn chờ mong.
Những là ngày hạ đêm đông,
Hồi âm chẳng thấy, như không có mình.
Hỏi cùng núi, mây xanh chẳng biết;
Hỏi cùng sông, nước biếc không hay.
Sông nước chẩy, núi mây bay,
Mình ơi! có biết ta đây nhớ mình?
Cuộc trần-thế công danh chẳng thiết,
Áng phong-lưu huê nguyệt đã thừa;
Nhớ mình ra ngẩn vào ngơ,
Trông mây, trông nước, nay chờ mai mong.
Mong giáp mặt, mặt không giáp mặt;
Chờ tin thư, thư mất tin thư.
Tháng ngày thấm-thoắt thoi đưa,
Tuổi ba mươi lại đã dư một vài.
Câu tri kỷ cùng ai tri kỷ,
Truyện chung tình ai kẻ chung tình.
Bụi hồng vắng-vẻ mắt xanh,
Mình ơi, ta nhớ, mà mình quên ta!
Không quen biết cũng là quen biết,
Ta nhớ mình ta viết thư chơi.
Thư tình này bức thứ hai,
Tiếp thư, xin chóng giả nhời cho nhau.

ĐIỆU TỨ LỤC

Cứu cấp sự sợ vợ (Hài văn. — 1914)

Vợ chồng lấy nhau có tình 情. Tình sinh ái 愛. Ái sinh úy 畏. Úy là sợ. Vợ vẫn là một vật đáng sợ, nhưng sợ đó là một nhẽ chính. Còn như vợ giầu mà sợ; vợ thần thế mà sợ; vợ hung hãn mà sợ thời sợ đó là ba nhẽ biến. Sợ một nhẽ chính, thời là ông chồng; sợ một chính một biến thời là anh chồng; sợ một chính hai biến, thời xuống là thằng chồng; sợ cả đến ba biến thời nguy, nguy thời phải cứu cấp. Tớ vốn là một kẻ sợ vợ, nhưng chưa có mà sợ; chưa có mà sợ, nhưng có cũng tất sợ; có cũng tất sợ, nhưng chưa biết sợ vào hạng nào. Nay hãy vì các chúng bạn, ai sợ đến ba biến, thảo một thiên cứu cấp. Tụng được trăm lượt, chắc có độ ách một đôi phần.

Văn rằng:

Thằng Cuội ngồi trong cung nguyệt,
Chim khôn mắc phải lưới hồng,
Là mình với ta,
Chẳng duyên thời nợ.
Cơ giời tác hợp, sợi tơ mành xe chặt lấy nhau;
Bể ái đầy vơi, nén hương nguyện cho tròn một kiếp.
Như Mỗ nay,
Con nhà gia-giáo,
Cũng mạch thư-hương,
Mặt vuông, tiền không,
Lưng dài, vải tốn.
Tuổi mới độ đôi chín ba mươi dĩ lý, đã rượu sớm trè trưa.
Học chưa xong tam-hoàng ngũ-đế chi thư, lại a tròn b méo.
Chồng con thế ấy,
Ai người dễ ưa.
Thế mà,
Nệm ủ chăn lồng, nghĩa cũ bấy lâu êm ái;
Cơm hầu canh dẫn, lòng riêng riêng cũng kính yêu.
Cũng mong cho một bước một hay; được như ai ông cống ông nghè, có danh có giá;
Không ngờ lại mỗi ngày mỗi đốn, để đến nỗi con tườu con khỉ, mang tiếng mang tai!
Trăm năm lâu dài,
Một phen giận dữ.
Sự thế thế nào phải thế, bao quản mình lươn;
Phận đành chi dám kêu oan, còn nhờ lượng bể.
Nam-vô-Phật ngồi trên tam bảo! phổ cứu cho chúng sinh!
A-gi-men lại đức chúa Giời! tôi là kẻ có tội.

Nhời dẫn trước bài tựa truyện Tỳ-Bà

(Xem ở quyển Tỳ-Bà.)

Ngựa tuấn nọ để còn xương thiên lý, ngàn vàng chưa dễ mấy ai mua.[38]
Ngọc bích kia chưa tỏ giá liên thành, giọt lệ chớ hoài riêng kẻ khóc[39]
Cho nên,
Lan có cây mọc trong hang tôi[40]
Gà có con rướch bỏ lông đuôi.[41]
Đem tài hoa mà ai oán với trần-ai.
Chẳng thà giấu hương sắc để lánh chơi ngoài cõi tục vậy.
Ấy đã thế-gian là thế; giận làm chi, mà dỗi nữa làm chi.
Thôi thời tri-kỷ mà chi; tẻ cũng thế, có vui thời cũng thế.
Ngẫm từ trước biết bao tài-tử,
Mà trong trần nào mấy tri âm.
Bạch-tuyết Dương-xuân,[42]
Cao sơn lưu thủy:[43]
Chẳng cứ gì Ly-Tao với Tỳ-Bà-ký,[44]
Chẳng cứ gì Khuất-Nguyên với Cao Đông-Gia[45]
Nếu trần-ai ai cũng biết ai,
Ai còn phải vì ai cảm khái.
Cội thông lũa chơ-vơ đỉnh núi, đầm thấm tuyết sương.
Bông huê đào hớn-hở gió đông, đại-đằng ong bướm.
Kiếp văn tự ngẫm ra nhường cũng rứa, trải trăm tuổi đến khi đầu bạc, phí bao nhiêu tiếng khóc tiếng cười.
Khách cổ kim nào có khác chi nhau; hỏi nghìn thu xin giọt mực đen, xóa cho hết chữ tài chữ ngộ.
Nhân tôi xem quyển truyện Tỳ-Bà của ông Đoàn-tư-Thuật dịch thuật mà trước có bài tựa của ông Mao Thanh sơn,
Vậy tôi có mấy nhời viết đây, rồi xin viết xuống bài tựa về quyển truyện Tỳ-Bà dịch nôm của ông Đoàn-tư-Thuật.

Dịch bài Bình Ngô đại cáo

Vua Lê Thái-tổ đã dẹp yên giặc Minh,
có nhời bá-cáo cho quốc-dân cùng biết.

Mở nhân nổi nghĩa, cốt lấy yên dân;
Dẹp loạn cứu dân, chẳng qua trừ bạo.
Như nước đại Việt ta thử nghĩ,
Thật là văn hiến không kém ai.
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần mở mặt giang sơn;
Cùng Hán, Đường, Tống, Minh, chia ngôi vương đế.
Mới rồi,
Chỉ nhân vì chính-trị họ Hồ, phiền nhiễu độc ác;
Xui nên nỗi lòng người trong nước, oán phản chia tan.
Người nước Minh nhân được dịp sang ta;
Lũ gian ác lại cùng nhau bán nước.
Từ khi ấy giở lại,
Kể có hai mươi năm.
Dướch đường nhân nghĩa, phũ sức binh đao nghĩ nỗi thảm không còn giời đất.
Rộng mẹo gian thâm, nặng điều thuế dịch, đầy túi tham vét hết non sông.
Thiên địa chẳng dung,
Quỉ thần cũng giận.
Ta đây,
Từ núi Lam nổi bước,
Nơi hẻo lánh nương thân;
Hơn mười năm đau ruột nát gan,
Trải bao độ nằm gai nuốt đắng.[45]
Gươm thần mới mở,
Thế giặc đương to.
Khôi-huyện quân tàn,
Linh-sơn lương hết.
Bốn phương họp những phường xiêu rạt, ngọn tre cờ hiệu phất nên đồ.
Ba quân cùng một dạ cha con, hớp rượu giòng sông say vị nghĩa.[46]
Vậy rồi mà,
Lấy quân nhân nghĩa,
Thắng kẻ hung tàn.
Lũ giặc kia hết khỏe hết khôn, bó tay chịu chết.
Quân ta chỉ dùng mưu dùng kế, cưỡi cổ như chơi.
Loài hổ lang đà đến lúc sa cơ,
Lượng giời bể ta cũng tha làm phúc.
Trước cấp cho Tham-tướng Phương-Chính, Nội-quan Mã-Kỳ, thuyền hơn năm trăm chiếc; qua sông thôi mà còn như mất vía kinh hồn.
Lại cấp cho Tổng-binh Vương-Thông, Tham-chính Mã-Anh, ngựa hơn mấy nghìn con; về nước đó mà càng vẫn ghê lòng sởn gáy.
Lũ kia đã sợ chết tham sống, mà thật bụng giảng hòa.
Ta đây lấy toàn quân làm hơn, để cùng dân yên nghỉ.
Ôi nghĩ như,
Một chiếc áo nhung, chín phương yên định,[47] trải mười thu giờ mới thấy đây.
Từ nay bốn bể, muôn kiếp thanh bình; khắp trăm họ nhủ cho cùng biết.

nguyên-văn

旅。揭竿爲旗。氓隸之徒四集。投醪饗

日。靈山之食盡兼旬。瑰縣之衆無一

日。當義旗初起之秋。正賊勢方張之

首者垂十餘年。嘗膽臥薪者蓋非一

亦怒。予奮跡藍山。棲身荒野。痛心疾

厚歛山澤罔有孑遺。天地不容。鬼神

十年。敗義傷仁。乾坤幾乎欲息。重科

詭計蓋千萬狀。連兵結釁。稔惡殆二

民惡黨懷姦。竟以賣我國。欺天罔民。

使人心之怨叛。明人伺隙。因以毒我

明而各帝一方。頃因胡政之煩苛。致

自趙丁李陳之肇造我國。與漢唐宋

去暴。如我大越之國。實爲文獻之邦。

仁義之舉。要在安民。弔伐之師。莫先

清。誕布維新之誥。

戎大定。迄成無競之功。四海永

全軍爲上而欲民與息。於戲。一

既畏死貪生。而修好有誠。予以

匹。已還國而益自股慄心驚。彼

王通。參政馬瑛。又給馬五千餘

既渡江而猶且魂飛魄散。總兵

政。內官馬騏。先給艦五百餘艘。

予亦體上帝好生之心。參將方

既掉殘卒乞憐之尾。神武不殺。

而心攻。不戰自屈。賊首成擒。彼

智窮而力盡。束手待亡。我謀伐

而勝凶殘。以至仁而易彊暴。彼

士。父子之兵一心。卒能以大義

Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân; điếu phạt chi sư, mạc tiên khứ bạo. Như ngã đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang. Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc, dữ Hán, Đường, Tống, Minh nhi các đế nhất phương. Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà, chí sử nhân tâm chi oán bạn. Minh nhân tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân; ác đảng hoài gian, cánh dĩ mại ngã quốc. Khi thiên võng dân, quỉ kế cái thiên vạn trạng. Liên binh kết hấn, nẫm ác đãi nhị thập niên. Bại nghĩa thương nhân, càn khốn cơ hồ dục tức; trọng khoa hậu liễm, sơn trạch võng hữu khiết di. Thiên địa bất dung, quỉ thần diệc nộ. Dư phấn tích Lam-sơn, thê thân hoang giã, thống tâm tật thủ giả thùy thập dư niên; thường đởm ngọa tân giả, cái phi nhất nhật. Đương nghĩa kỳ sơ khởi chi thu, chính tặc thế phương trương chi nhật. Linh-sơn chi thực tận kiêm tuần, Khôi-huyện chi chúng vô nhất lữ. Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập; đầu dao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm. Tốt năng dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo. Bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong; ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất. Tặc thủ thành cầm, bỉ ký trạo tàn tốt khất lân chi vĩ; thần võ bất sát, dư diệc thể Thượng đế hiếu sinh chi tâm. Tham-tướng Phương-- Chính, Nôi-quan Mã-Kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư xưu, ký độ giang nhi do thả hồn phi phách tán; Tổng-binh Vương-Thông. Tham-chính Mã-Anh, hựu cấp mã sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh. Bỉ ký úy tử tham sinh nhi tu hiếu hữu thành; dư dĩ toàn quân vi thượng nhi dục dân dữ tức. Ô hy! Nhất nhung đại định, hất thành vô cạnh chi công; tứ hải vĩnh thanh, đản bá duy tân chi cáo.

TRƯỜNG ĐOẢN CA

(Điệu mới)

Cảm thu tiễn thu

(Tháng chín năm.......)

Từ vào thu đến nay,
Gió thu hiu-hắt,
sương thu lạnh,
Giăng thu bạch,
Khói thu sây thành.
Lá thu rơi rụng đầu ghềnh,
Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly.
Nhạn về, én lại bay đi,
Đêm thì vượn hót, ngày thì ve ngâm.
Lá sen tàn tạ trong đầm,
Nặng mang giọt lệ âm-thầm khóc hoa.
Sắc đâu nhuộn ố quan hà,
Cỏ vàng, cây đỏ, bóng tà tà-dương.
Nào người cố lý, tha hương,
Cảm thu, ai có tư lường hỡi ai?
Nào những ai.
Bẩy thước thân nam-tử,
Bốn bể chí tang bồng;
Đường mây chưa bổng cánh hồng.
Tiêu-ma tuế nguyệt, ngại-ngùng tu my.
Nào những ai
Sinh trưởng nơi khuê các,
Khuya sớm phận nữ-nhi.
Song the ngày tháng thoi đi,
Vương tơ ngắm rện, nhỡ thì thương hoa.
Nào những ai,
Tha phương khách thổ,
Hải giác thiên nha,
Ruột tầm héo, tóc sương pha,
Gốc phần chệnh tưởng quê nhà đòi cơn.
Nào những ai,
Cù lao báo đức,
Sinh dưỡng đền ơn,
Kinh sương nghĩ nỗi mền đơn,
Giầu sang bất nghĩa mà hơn nghèo hèn.
Nào những ai,
Tóc xanh mây cuốn.
Má đỏ huê ghen,
Làng chơi duyên đã hết duyên.
Khúc sông giăng rãi con thuyền chơi vơi.[48]
Nào những ai,
Dọc ngang giời rộng,
Vùng vẫy bể khơi,
Đội giời đạp đất ở đời;
Sa cơ thất thế quê người chiếc thân.
Nào những ai,
Kê vàng tỉnh mộng,[49]
Tóc bạc thương thần,
Vèo trông lá rụng đầy sân,
Công danh phù-thế có ngần ấy thôi.
Thôi nghĩ cho,
Thu tự giời,
Cảm tự người,
Người đời ai cảm ta không biết,
Ta cảm thay ai, viết mấy nhời.
Thôi thời.
Cùng thu tạm biệt,
Thu hãy tạm lui,
Chi để khách đa tình đa cảm,
Một mình thay cảm những ai ai.

Chú thích của bản in

  1. Rừng Ngang là một giải rừng nhớn ở mạn tây bắc Bắc-kỳ ↩
  2. Con quốc kêu mùa hè, người ta tương truyền rằng ấy là hồn vua nước Thục ở bên Tàu khi trước. Vua nước Thục vì sự mất nước, hồn còn tiếc nước, hóa làm con đỗ-quyên, tức là con quốc. ↩
  3. Con mối hay tắc lưỡi, người ta tương truyền rằng ấy là ngươi Thạch-Sùng khi trước. Ngươi Thạch-Sùng, người đời nhà Tấn ở bên Tầu, nhà giầu nhất nước; sau bị cướp phá, tự vẫn chết, hồn còn tiếc của, hóa làm con mối, hay tắc lưỡi. Cho nên con mối cũng gọi là con Thạch-Sùng. ↩
  4. Xưa có ông vua thích chơi ngựa, sai người đem nghìn vàng đi tìm con ngựa hay để mua; đến nơi thời con ngựa đã chết, mua bộ xương đem về. — Tuấn là tên một thứ ngựa hay. Thiên lý là nói con ngựa chạy nghìn dặm ↩
  5. Xưa có họ Biện-Hòa, người nước Sở, bắt được hòn ngọc bích còn ở trong hòn đá, đem dâng vua Sở là Lệ-vương. Lệ-vương giao cho thợ ngọc xét. Thợ ngọc bảo là đá. Biện-Hòa phải tội nói dối vua, bị chặt một chân bên tả. Sau lại đem dâng vua Võ-vương. Thợ ngọc lại bảo là đá. Hòa lại bị chặt nốt một chân bên hữu. Vua Văn-vương lên ngôi, Hòa ôm hòn ngọc đá mà khóc ở dưới chân núi ba ngày ba đêm, nước mắt hết, ra máu. Văn-vương bèn sai người lấy hòn đá đem rũa thời bượch ra được hòn ngọc bích. Ngọc bích ấy sau về vua nước Triệu có, vua nước Tần xin đổi lấy một giẫy hai mươi nhăm cái thành. — Liên thành là một giẫy thành liên. ↩
  6. Sách nho có chữ Lan sinh u cốc 蘭 生 幽 谷 là cây lan mà mọc trong hang tối. ↩
  7. Trong sách Tả truyện: Người Tân-Mạnh nhà Chu đi qua một cánh đồng, trông thấy một con gà sống tự rướch bỏ lông đuôi; hỏi kẻ hầu Thưa rằng: « Ấy là nó sợ vì phải làm con gà thờ. » ↩
  8. Xưa có một người khách đi qua kinh-đô nước Sở mà hát khúc Hạ-lý-ba-nhân (điệu hát nhà quê, không hay); người trong nước họa mà hát theo, có đến vài nghìn người. Khách lại hát khúc Dương-a Dạ-lộ (điệu hát hơi hay); người trong nước họa mà hát theo có được vài trăm người. Khách hát đến những khúc Dương-xuân Bạch-tuyệt (hai điệu hát thật hay); họa mà hát, chỉ còn được có vài mươi người. ↩
  9. Ngày xưa ông Bá-Nha hay đàn, gặp được ông Chung-tử-Kỳ sành nghe. Bá-Nha đánh đàn, trong bụng đương nghĩ ở ngọn núi cao; Tử-Kỳ khen rằng: « Tiếng đàn vòi vọi như trên ngọn núi cao. » Một lát, Bá-Nha bụng lại nghĩ về nước chẩy; Tử-Kỳ khen rằng: « Tiếng đàn lưu-loát như một giòng nước chẩy. » Chung-Tử-Kỳ chết, Bá-Nha đập bỏ đàn, rướch đướch bỏ giây, cho là ở đời không còn có ai tri âm. ↩
  10. a ă Kinh Ly-Tao của Khuất-Nguyên soạn; truyện Tỳ-Bà của Cao Đông-Gia soạn ↩
  11. Trong khi vua Câu-Tiễn nước Việt mưu báo thù nước Ngô, thường nằm trên đống gai, nếm vị mật đắng, chí để không quên sự báo thù vậy. ↩
  12. Vua Câu-Tiễn đánh Ngô, đóng quân trên bờ sông, có người dâng một chai rượu ngon, Vua sai đem đổ xuống sông, cho quân lính đều đón ở giòng dưới mà uống. ↩
  13. Trong sách Mạnh-tử có câu: « Nhất nhung y nhi thiên hạ đại định 一 戎 衣 而 天 下 大 定 » là nói vua Võ-vương nhà Chu mặc một chiếc áo nhung (áo mặc để ra trận) mà yên định được thiên-hạ. ↩
  14. Xưa có một người con hát rất có giá trong sự thanh sắc, đến sau già, gả về một người lái buôn. Người lại buôn thường bỏ đi vắng xa. Gái già đêm thu giữ một con thuyền ở bờ sông, tình cảnh buồn-bã. Ấy tức là người ở trong bài hát Tỳ-Bà có kể tích. ↩
  15. Ở truyện Chẩm-Trung-Ký: Một người học-trò họ Lư, đương ngồi mát ở một cái quán, gặp một người đạo-sĩ, Lư than thở về sự nghèo khổ. Đào-sĩ đưa cho một cái gối, bảo rằng: « Gối vào cái này, sẽ được sung-xướng như ý. » — Khi ấy lão quán đương nấu một nồi kê — Lư nghe nhời, quả-nhiên thấy lấy được vợ rất đẹp, rồi thi đỗ làm quan, làm cả tướng văn lẫn tướng võ, sinh con đẻ cháu đều vinh-hoa phú quí; trong khoảng năm mươi năm thật là sung-xướng vô cùng. Rút lại thành một giấc chiêm bao mà nồi kê vẫn chưa chín. ↩