Thơ Tản Đà — Tản Đà
Giời mắng
Chương 2 / 3
Giời mắng
Tình riêng trăm ngẩn mười ngơ,
Ngồi buồn lấy giấy viết thơ hỏi Giời.
Xem thơ, Giời cũng bượch cười,
Cười cho hạ-giới có người oái-oăm.
客 何 人 者
Khách hà nhân giả?
Cớ làm sao suồng-sã dám đưa thơ!
Chốn thiên-cung ai kén rể bao giờ?
Chi những sự vẩn-vơ mà giấy má!
織 女 鵲 橋 經 歲 嫁。
Chức-nữ thước kiều kinh tuế giá,
姮 娥 蟾 窟 老 秋 眠。
Hằng-Nga thiềm quật lão thu miên.[11]
Mở then mây quăng giả bức hồng-tiên,
Mời khách hãy ngồi yên trong cõi tục.
Người đâu kiếp trước Đông-phương-Sóc,
Ăn trộm đào, quen học thói ngày xưa[12].
Trần-gian đầy mãi, không chừa!
Đời đáng chán......
Người đời, thử ngẫm mà hay:
Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê!
Còn ai, ai tỉnh hay mê?
Những ai thiên cổ đi về những đâu?
Đời đáng chán, hay không đáng chán?
Cất chén quỳnh, riêng hỏi bạn tri âm.
Giá khuynh-thành nhất tiếu thiên kim[13]
Mắt xanh, trắng[14], đổi nhầm bao khách tục.
江 河 日 下 人 皆 濁
Giang hà nhật hạ nhân dai chọc,
天 地 鑪 中 孰 有 情
Thiên địa lô trung thục hữu tình[15].
Đón đưa ai gió lá chim cành?
Ấy nhân-thế phù-sinh là thế thế.
Khách phù-thế chửa rướch câu phù-thế,
Người phong-lưu càng đượm vẻ phong-lưu.
Bức khăn hồng nâng đỡ hạt châu,
Truyện kim cổ một vài câu phải trái.
Châu Nam-hải, thuyền chìm sông Thúy-Ái,
Sóng Tiền-Đường, cỏ ái bến Ô-giang[16].
Ngẫm nghìn xưa, ai tài hoa, ai tiết-liệt, ai đài-trang,
Cùng một giấc mơ-màng trong võ trụ.
Đời đáng chán, biết thôi là đủ;
Sự “chán đời” xin nhủ lại tri âm:
Nên chăng? nghĩ lại kẻo nhầm.
HÀNH-VÂN SANG NAM
Năm canh mối tình
Nghiệp phong-trần, nghiệp phong-trần, kén mặt tài-nhân. Sầu ôm gối, gối chiếc đêm xuân: chăn đơn sương lạnh, ngùi thương bóng đôi mình, đem tâm sự cùng ai. Trông ngọn đèn canh tàn hiu-hắt.
Người trong mộng, niềm nguyện mong, giục xui lòng; rõ-ràng đôi lứa phụng, thành song thành song. Mừng Tạo-hóa, chấp mối tơ hồng. Tỉnh giấc cô phòng, dậy, thành không thành không! Sự sắt cầm chiêm-bao thành không. Cô phòng u-uất, ấy ai là bạn tri âm!
Tri âm cách nẻo phương giời, ai người nhủ hộ. Gió đông trệnh rèm tây, đưa gửi mấy câu.
Ai say ngủ một mình đâu? giấc mồng chăng hử tìm nhau? Xa mấy dặm ngàn dâu, nghe nhạn sầu thêm sầu.
Song thưa, gió thoảng bên màn, ôm đàn tưởng vọng. Bóng trăng lại kề hiên, luống những đón tin.
Thôi chi nói mơ mòng, tiếng thần-phong[17], nhắc gọi trời đông. Cái oanh, cái oanh vàng, my đâu lại chêu ai? nhắn chi đặng đôi lời! Tương tư trọng, trẻ nhường khan giọng.
Ai biết nỗi sầu manh, mướn đưa mình, lên hỏi Trời xanh: sao ông Nguyệt-lão mần thinh? Năm canh mối tình!
Giở lên các điệu hát
ĐIỆU HÀNH
Thu khuê hành
Gió thu lạnh-lẽo mây giời quang,
Sân thu đêm khuya rơi lá vàng,
Giăng tà chim lặn, nhạn kêu sương,
Gối chiếc chăn đơn thiếp nhớ chàng.
Chàng đi xa cách nhớ quê hương,
Quê hương đất khách người một phương;
Mong chàng chẳng thấy, lòng ngùi thương.
Buồng không, canh vắng, bóng in tường.
Chỉ chỉ tơ tơ rối vẩn-vương.
Nước mắt đậm-địa chôi quanh giường.
Tháng cũ đà qua, tháng mới sang,
Tháng sau tuần nữa những tư lường.
Ngày tháng đi chóng, năm canh trường,
Lác-đác xao tàn lấp-lánh gương.
Trên giời Chức-nữ cùng Ngưu-lang,
Một giải sông Ngân lệ mấy hàng.
TRƯỜNG ĐOẢN CÚ
Dịch bài thuật hoài của bà Kim-thị[18]
Ai bảo thiếp không chồng,
Thiếp còn được thấy chồng đương chết.
Ai bảo thiếp không con,
Vợ lẽ đẻ con cũng như thiếp.
Con đọc sách,
Thiếp dệt gai;
Đêm đêm tiếng quạ kêu ngoài buồng không.
Con đã làm nên, thiếp đứng hóa;
Suối vàng chàng hỡi yên chăng tá.
nguyên-văn
良人瞑目黃泉下。
兒能成名。妾不嫁。
空房夜夜聞啼鳥。
妾辟纑。
兒讀書。
側室生兒與夫似。
誰云妾無子。
妾猶及見夫方徂。
誰云妾無夫。
Thùy vân thiếp vô phu,
Thiếp do cập kiến phu phương tồ.
Thùy vân thiếp vô tử,
Chắc thất sinh nhi dữ phu tự.
Nhi độc thư,
Thiếp tịch lô;
Không phòng giạ giạ văn đề ô.
Nhi năng thành danh, thiếp bất giá,
Lương nhân minh mục hoàng tuyền hạ.
ĐIỆU LỤC BÁT
Thề non nước
Nước non nặng một nhời thề,
Nước đi đi mãi! không về cùng non.
Nhớ nhời “nguyện nước thề non”,
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
Non xanh ngồi, đứng bên sông,
Suối tuôn giòng lệ, chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Giời tây ngả bóng tà-dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi-pha.
Non cao tuổi vưỡnh chưa già,
Non sao nhớ nước, nước mà quên non!
Dẫu rằng sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.
Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể, lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Huê tươi cỏ tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước không nguôi nhời thề.
Xem thêm ở truyện Thề-Non-nước
Nói truyện với bóng
Phòng văn nửa khép cánh thu,
Đèn văn một ngọn trông lù-dù xanh.
Đứng lên, ngồi xuống một mình,
Khối tình ai nặn, lửa tình ai khêu.
Mập-mờ khi thấp khi cao,
Trông ra chẳng biết ông nào lại chơi;
Nhận lâu sau mới bượch cười,
Té ra anh Bóng, chớ ai đâu mà.
Bóng ơi, mời Bóng vào nhà.
Ngọn đèn khêu tỏ đôi ta cùng ngồi.
Cùng nhau rãi một đôi nhời,
Ta ngồi ta nói, Bóng ngồi Bóng nghe.
Cõi đời khi cất tiếng oe,
Đã bên ngọn lửa lập-lòe có nhau.
Tương tri từ đấy về sau,
Đôi ta một bước cùng nhau chẳng dời.
Ta ngồi khi Bóng cùng ngồi;
Ta đi, ta đứng, Bóng thời cũng theo.
Có khi lên núi qua đèo,
Mình ta với Bóng leo trèo cùng nhau.
Có khi quãng vắng đêm thâu,
Mình ta với Bóng âu sầu nỗi riêng.
Có khi rượu nặng hơi men,
Mình ta với Bóng ngả nghiêng canh tàn.
Có khi trè đượm mầu lan,
Mình ta với Bóng bàn-hoàn thú xuân.
Có khi bút thảo câu thần,
Mình ta với Bóng xoay vần nệm hoa.
Đôi khi sấm chớp phong ba,
Quộc đời nguy biến có ta có mình.
Đôi khi gió mát giăng thanh,
Bầu giời thanh thú riêng mình với ta.
Trăm năm cho đến cõi già,
Còn ta còn bóng còn là có nhau.
Trần-ai mặc những ai đâu,
Ai thương tử biệt, ai sầu sinh ly.
Còn ta, Bóng nỡ nào đi;
Ta đi, Bóng có ở chi cõi trần.
Tin nhau đã vẹn muôn phần,
Cũng xin rãi hết xa gần cùng nhau.
Bóng nghe, Bóng cũng gật đầu.
Chơi Huế
Đường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ;
Yêu em, anh cứ anh vô,
Kệ chuông nhà Hồ, mặc phá Tam-giang.[19]
Xe hơi đã tới đèo Ngang,
Ấy qua Hà-Tĩnh, đường sang Quảng-Bình.
Danh sơn gặp khách hữu tình,
Đèo Ngang ơi hỡi, là mình với ta.
Con cháu chúa, nước non nhà,
Không đi không lại nên ra lạ-lùng.
Dừng xe, lên đính ta trông,
Mặt ngoài bể nước, bên trong núi rừng.
Nhớ từ hoàng Nguyễn long hưng,
Cơ-đồ gây dựng cũng rằng từ đây.[20]
Giang san từ ấy đến nay,
Nào giăng mặt bể, nào mây trên ngàn.
Aỉ xưa bia cũ còn truyền[21]
Oai linh cảnh thắng, bàn-hoàn khách du.
Chiều xuân êm-ả như du,
Thuận xe lại cứ dậm cù như bay.
Càng vào mãi, càng sinh hay,
Càng trông cảnh vất đổi thay lạ nhường:
Nhỏ to mả trắng bên đường,
Xa xa mé bể cồn vàng thấp cao.
Dọc đường dân chúng biết bao,
Ruông tình hữu ái như rào trận mưa.
Rồng tiên cùng họ từ xưa.
Ba mươi năm mới bây giờ gặp nhau.
Nhận xem áo vải quần nâu,
Gái, giai, già, trẻ một mầu không hai.
Văn-minh giầy đã bán-khai,
Ngợ sao còn hãy như đời Hùng-vương.
Giời tây ngả bóng tà-dương,
Ô-tô lại đổi lên đường hỏa-xa.
Ấy từ Quảng-Trị Đông-Hà,[22]
Đi năm ga nữa vừa là tới Kinh.
Kinh-thành gái lịch giai thanh,
Cảnh thêm Hương-Thủy, Ngự-Bình điểm tô.[23]
Con người xứ Bắc mới vô,
Mừng nay được thấy Đế-đô một lần.
Hoàng-thành cung điện liên vân.
Dinh quan Khâm-sứ đóng gần một nơi.
Quan dân ở cả thành ngoài,
Quanh thành tám cửa sông dài bọc quanh.
Lại bao phố xá ngoài thành,
Trên cầu xe ngựa, ghe mành dưới sông.
Đông-Ba, Gia-Hội càng đông;[24]
Gịp cầu nhẹ bước xa trông càng tình.
Giòng sông trắng, lá cây xanh,
Xuân giang xuân thụ cho mình nhớ ai!
Ngày xuân có lúc đi chơi,
Lăng chùa qua biết các nơi quanh gần.
Đế-kinh đã gội mưa nhuần,
Tiện theo đường sắt vô dần xứ trong.
Một đi thêm một lạ-lùng:
Xe chui hầm tối[25], bể trùng sóng cao.
Dưới đường sóng bể nhẩy reo,
Như mừng bạn mới, như chào khách xa.
Hải-Vân đèo nhớn vừa qua,
Mưa xuân ai bỗng đổi ra nắng hè.[26]
Tiết giời như đã sang hè,
Mà theo phận đất thời về Quảng-Nam.
Càng đi rộng, càng biết thêm,
Tu-Ran cảnh vật càng xem càng mừng.
Nước xuân sóng lục vô chừng,
“Lục ba xuân thủy” ai từng học chưa?
Vào nhà Tích-cổ xem qua,
Chiêm-Thành này tượng ngày xưa hãy còn!
Biết bao vật nhớn hình con,
Trạm rồng cột đá chưa mòn nét dao.[27]
Cảnh còn như rước như chào,
Tiếc thay! ai mới qua vào đã ra.
Đường về cũng thế mà xa,
Chiều hôm mười tám đến ga Hà-thành.
Chơi xuân kê lại hành-trình,
Ngày ba mươi tết hứng tình ra đi.
Tự Bất-Bạt, qua Việt-Trì,
Còn năm kỷ-vị, còn thì-tiết đông.
Canh-thân ăn tết Thăng-Long,
Sang ngày mùng bốn vào trong Trung-Kỳ.
Chơi xuân ta nghĩ cũng kỳ!
Gịp đâu may-mắn cũng vì có ai.[28]
Cám ơn hai chữ liên tài,
Còn tình, còn nghĩa, còn dài sắt son.
Còn giời, còn nước, còn non,
Tiền trình vạn lý, anh còn chơi xa.
Chơi cho biết mặt sơn hà,
Cho sơn hà biết ai là mặt chơi.
Trông giăng cảm tưởng
Đêm thu giăng sáng một giời,
Một mình ngồi tưởng sự đời nghĩ quanh.
Nghĩ cho muôn vật hóa sinh,
Ở trong võ trụ cái hình ra chi!
Giăng kia tròn được mấy khi;
Hoa kia nở được mấy thì hỡi hoa.
Gái tơ quá lứa đã già;
Con tầm rút ruột thời là rộng non.
Khúc sông bồi lấp nên cồn.
Dâu xanh bãi bể, đá mòn nước khe.
Đồng không con đóm lập-lòe,
Khách trần lối ấy đi về những ai.
Hình kia đúc tự thợ Giời;
Tình kia họa mới ra ngoài khuôn xanh.
Vọng-Phu còn đá còn trinh[29].
Tiền-Đường còn sóng trung tinh hãy còn[30].
Dẫu cho sông cạn, đá mòn,
Trung hồn khôn thác, trinh hồn khôn tan.
Cho hay những khách trần-hoàn,
Nghìn xưa ở lại thế-gian mấy mà!
Trông lên một mảnh giăng tà,
Soi chung kim cổ biết là những ai.
Mà người kim cổ những ai?
Tập Kiều viếng Kiều
Bài này in thử mười vần đổi mới, nói ở
trang thứ 11 trong quyển Lên-Sáu.
Onh, ônh, ơnh, unh. ưnh,
Och. ôch. ơch, uch, ưch.
Lấy thân mà giả nợ đời,
Nghĩ thân mà lại ngậm-ngùi cho thân.
Phonh-lưu rất mựch hồnh-quần,
Mười lăm năm, bấy nhiêu lần làm gương.
Thề hoa chưa ráo chén vàng,
Bán mình vội phải tìm đường cứu cha.
Lênh-đênh đâu nữa cũnh là,
Cái thân liệu nhưnh từ nhà liệu đi.
Khi Vô-Tích, khi Lâm-Tri,
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.
Đùnh đùnh gió giụch mây vần
Hồnh-quân với khách hồnh-quần đã xoay.
Cửa giời rộnh mở đường mây,
Hay là khổ tận, đến ngày cam lai.
Triều-đình riêng một góc giời,
Mua vui cũnh được một vài trốnh canh,
Kiếp hồnh-nhan có monh-manh,
Khuôn thiêng lừa-lọc đã doành có nơi.
Thương ơi, sắc nước hương giời!
Ngàn thu bạc mạnh, một đời tài hoa,
Đau đớn thay! phận đàn bà,
Théo thay thác xuống làm ma khônh chồnh.
Lửa hương chốc để lạnh-lùnh,
Nào người tiếc lục tham hồnh là ai?
Nhời quê chắp nhặt rônh-rài,
Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương.
Ví đem vào tập đoạn-trường,
Hoạ là người dưới suối vàng biết cho.
Ếch mà. (Hài văn)
Khoảng thu đông, sương xuống, gió lạnh, nước ao cạn, ếch chui vào mà. * Rô, riếc, chê, chuối, cua. ốc, tôm, tép, đều có ý chê là vô tình. Ếch ngồi mà tự nghĩ riêng rằng: như mình, hai bàn tay không làm được việc gì, từ khi ra với đời, chỉ ăn cho no lòi tù-và, rồi phi nhẩy hão vô ích thời lại ngồi dương mắt ra đấy thôi. Thôi thời đành ngồi tho mà chịu tiếng vô tình, còn hơn nhẩy lắm mà vô ích. Nghĩ vậy, Ếch ngồi ngâm một bài, đề mà gửi đi rằng:
Phượng kêu trái núi bên tê,[31]
Hồng bay bốn bể, Nhạn về nơi nao[32].
Cánh Bằng đập ngọn phù-dao,[33]
Đầm xa tiếng Hạc lên cao vọng giời.[34]
Ao thu lạnh-lẽo sự đời,
Cành sương ngọn gió bời bời lá tre.
Lắng tai Ếch những ngồi nghe:
Tiếc xuân Quốc đã qua hè. ai thương.
Tràng Ve khóc đói năn sương;
Cô Oanh học nói như nhường công tai.
Nỏ mồm chú Khiếu hót ai?
Vì ai? bác Cú đêm dài cầm canh.
Canh khuya cậu Vạc mò ăn,
To mồm sơi cắp là anh Quạ đùng.
Diều-Hâu rít lưỡi giữa đồng;
Tặc-Kè nghiến lợi, Thạch-Sùng chép môi.
Gáy đâu Gà mái nhà ai;
Mèo gào, Chó hú, trên giời Lợn kêu.
Ếch nghe cũng đã đủ điều,
Ếch trông cũng đã đủ nhiều trò vui.
Thôi thời Ếch cũng xin lui,
Ẹp mình, rén bước, Ếch chui vào mà.
Ngồi mà nhắn bạn ao ta,
Bèo xưa nước cũ vưỡnh là có nhau.
Còn bèo còn nước còn lâu,
Còn xuân sắp tới, còn thu chưa tàn.
Còn nhiều ơn ái chan chan,
Còn khăng-khít nghĩa, còn ran-ríu tình.
Hang lan thanh vắng một mình,
Mấy nhời ỳ-ọp thảo trình tương-tri.
Lá bèo ngọn gió đưa đi.
SONG THẤT LỤC BÁT.
Chú thích của bản in
- Hai câu thơ này, nghĩa nói: Xao Chức-Nữ thời từ năm xưa đã qua cầu ô-thước đi lấy chồng; gã Hằng-Nga thời chỉ ngủ xuông mãi ở cung thiềm. — Hai câu này theo của cụ Thiếu-bảo Dương Quất-Tẩu mới xửa lại. ↩
- Ông Đông-Phương-Sóc khi xưa là một vị tiên đầy xuống trần-thế. Bà chúa tiên nói truyện rằng: « Cây đào tiên ở trên giời, ba nghìn năm mới nở hoa, lại ba nghìn năm mới ra quả. Thế mà Đông-Phương-Sóc đã ba lần ăn trộm đào » ↩
- Nhất tiếu thiên kim 一 笑 千 金 là một cái cười giá đáng nghìn vàng. ↩
- Nguyễn-Tịch, người đời nhà Tấn ở bên Tầu, làm được ra hai thứ con mắt, mắt xanh và mắt trắng; gặp người như ý thời đãi bằng mắt xanh, gặp người không như ý thời đãi bằng mắt trắng. ↩
- Hai câu thơ này, câu trên nghĩa nói: Giang hà đến lúc ngày càng kém thời người ta đều bỉ-tục; câu dưới nghĩa nói: Người ta ở trong lò của giời đất đúc ra, nào ai là có tình. ↩
- Hai câu này tất cả bốn điển: 1• Châu Nam-Hải là điển nàng Mỵ-Châu. Mỵ-Châu là con gái vua nước Thục, bị người chồng là Trọng-Thủy (con vua Triệu) lừa đảo, rồi đem quân sang đánh. Mỵ-Châu cùng bố chạy ra đến miền bể nam, bị bố chém chết ở đó, máu chôi xuống bể; những con trai ở bể ăn cái máu ấy mà thành ra có ngọc trân-châu. — 2• Thuyền chìm sông Thúy-Ái là điển bà Phan-thị-Thuấn. Phan-thị-Thuấn là ái-thiếp của ông Ngô-cảnh-Hoàn là tướng-quân đời cuối Lê. Cảnh-Hoàn chết trận ở bến sông Thúy-Ái; thị Thuấn dìm thuyền để chết theo. Ấy hai điển ở sử ta. — 3• Sông Tiền-Đường là điển nàng Tây-Thi. Nàng Tây-Thi nguyên là con gái nước Việt, vua nước Việt đem cống sang nước Ngô; vua nước Ngô, vì yêu nàng Tây-Thi mà mê chơi quá độ, sau bị quân Việt đánh mất nước. Vua nước Việt đã đánh được nước Ngô rồi, sai đem vướch nàng Tây-Thi xuống khúc sông Tiền-Đường. — 4• Cỏ ái bến Ô-giang là điển nàng Ngu-Cơ. Nàng Ngu-Cơ là ái-cơ của vua Hạng-vương. Vua Hạng-vương bại trận ở Cai-Hạ, nàng Ngu-Cơ tự vẫn chết, chôn ở gần bờ sông Ô-giang; bờ sông đó thành ra nhiều thứ cỏ gọi là cỏ Ngu-mỹ-nhân. Ấy hai điển ở sử Tàu. ↩
- Thần-phong là tên một thứ chim con. ↩
- Xem ở quyển Đài-Gương-truyện trang số 25. ↩
- Chuông nhà Hồ là một chỗ dữ giặc dã; phá Tam-Giang là chỗ dữ sóng nước. Ấy là hai chỗ nguy hiểm trong con đường vào Huế khi xưa. — Bốn câu này mượn dùng câu hát cổ mà đổi lại. ↩
- Xưa từ khi đức Thái-tổ nhà Nguyễn ta vào trấn-thủ Thuận-Hóa, có câu rằng: 橫 山 一 帶,萬 代 容 身。 Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân. Nghĩa là: “một giải núi Hoành-sơn, muôn đời dung thân được”. Hoành-sơn tức là đèo Ngang. ↩
- Trên núi này, chỗ đường xe ô-tô đi qua, có cửa ải và bia từ xưa để lại. ↩
- Tỉnh Quảng Trị, ga Đông-Hà. ↩
- Sông Hương-giang, núi Ngự-Bình là phong cảnh sơn thủy ở Huế. ↩
- Đông-Ba, Gia-Hội là hai phố đông vui nhất ở Huế. ↩
- Khoảng đường xe lửa ở Huế vào Tourane, có chui qua chín cái đường tối (tunnel). ↩
- Núi Hải-Vân ở giáp giới hai tỉnh Thừa-Thiên và Quảng-Nam, khi ấy đi qua bên ngoài còn là mưa xuân mà bên trong đã như nắng hè vậy. ↩
- Ở phố Tourane nay có nhà Tích cổ chứa những đồ vật của vua nước Chiêm khi xưa, trong có nhiều vật lạ, như những cái cột đá rõ nhớn mà chạm hình con rồng, hãy còn y-nguyên cả. ↩
- Chuyến đi chơi này là cùng đi với ông Bùi huy-Tín.Chữ ai đây là nói vào ông Tín. ↩
- Ở bên Tàu có núi Vọng-Phu, tương truyền rằng ngày xưa có người đàn bà tiễn chồng đi lính xa, trèo lên đỉnh núi ấy mà đứng trông, rồi hóa hình ra hòn đá. ↩
- Ông Ngũ-tử-Tư là trung thần của nước Ngô, can vua nước Ngô mà bị giết, bỏ vào túi da vướch xuống sông Tiền-Đường. ↩
- Câu này lấy ở chữ kinh Thi: Phụng-hoàng minh hỹ, vu bỉ chiêu-dương. 鳳 凰 鳴 矣,于 彼 朝 陽. ↩
- Sách nho có chữ rằng: 鴻 飛 冥 冥 Hồng phi minh minh, là chim hồng bay từ lúc mờ mờ. Lại có chữ rằng: 雁 南 歸 nhạn nam qui, là chim nhạn về phương nam. ↩
- Câu này lấy ở chữ Trang-tử: Bằng đoàn phù-dao. 鵬 摶 扶 搖. Phù-dao là ngọn gió. ↩
- Câu này lấy ở chữ kinh Thi: Hạc minh vu cửu cao, thanh vấn vu thiên. 鶴 鳴 于 九 臯,聲 聞 于 天. — Bốn câu này chỉ là nói các vật quí đi hết những nơi xa. ↩