Trang chủ Viện

Thơ Tản Đà — Tản Đà

NGUYỄN-KHẮC-HIẾU

Chương 1 / 3

局書修沱傘

書叢

THƠ

詩傘

集沱

TẢN ĐÀ

NGUYỄN-KHẮC-HIẾU

HANOI
Nghiêm-Hàm ấn-quán
58, Phố hàng Bông, 58

Première Édition

Tous droits réservés.

1925

THƠ TẢN ĐÀ

TỰA

Chén rượu canh tàn, tiếng gà đêm vắng: thân danh sự nghiệp, dẫu cho đến dọc nghìn thu, ngang tám cõi, không bằng cái thú ngâm câu thơ. Mỗi lúc hứng đến mà ngâm, khổ không nhớ hết những bài cũ. Khi nhàn, muốn đem hết các bài vận-văn đã làm ra trong mười lăm năm nay, biên làm một tập, để tùy ý ngâm chơi trong lúc say; nhân soạn cả ra mà xem thời lảm-nhảm thực nhiều, phần nhiều mỗi bài chỉ được một hai câu, thậm chí có bài không còn ra văn-lý gì cả. Giấy mực đã chót in, đến nay trông thấy mà thẹn; nghĩ càng thêm thẹn với ai ai. Thời nhưng cái bệnh say không chừa được, thời cái bệnh ngâm cũng không chừa được. Đã soạn ra thời cũng trọn trong mười phần lấy một, phòng chăng khiển hứng lúc canh tàn; đã trọn ra thời xửa đổi để in, nhân để gỡ thẹn cùng những ai quá yêu trong bấy lâu nay vậy.

TẢN ĐÀ

MỤC LỤC

THƠ TẢN-ĐÀ

THƠ THẤT NGÔN ĐƯỜNG LUẬT

Vịnh bức địa-đồ rách

Nọ bức dư-đồ thử đứng coi,
Sông sông núi núi khéo bia cười!
Biết bao lúc mới công vờn vẽ,
Sao đến bây giờ rách tả-tơi.
Ấy trước ông cha mua để lại,
Mà sau con cháu lấy làm chơi.
Thôi thôi có trách chi đàn trẻ,
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi.

Dịch bài thơ thuật hoài của ông Đặng-Dung đời nhà Trần

Việc đời man-mác, tuổi già thôi!
Đất rộng giời cao chén ngậm-ngùi.
Gặp-gỡ thời-cơ may những kẻ;
Tan-tành sự-thế luống cay ai!
Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch giời.
Đầu bạc giang san, thù chửa giả,
Long-tuyền[1] mấy độ bóng giăng soi.

nguyên-văn

幾度龍泉帶月磨
國讎未復頭先白
洗兵無路挽天河
致主有懷扶地軸
事去英雄飲恨多
時來屠釣成功易
無窮天地入酣歌
世事悠悠奈老何

Thế sự ru ru nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai, đồ điếu thành công dị,
Sự khứ, anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa-trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên-hà.
Quốc-thù vị phục, đầu tiên bạch,
Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma.

THẤT NGÔN CỔ PHONG TRƯỜNG THIÊN

Thăm mả cũ bên đường

Chơi lâu nhớ quê về thăm nhà,
Đường xa, người vắng, bóng chiều tà.
Một dẫy lau cao, làn gió chạy,
Mấy cây thưa lá, sắc vàng pha.

Ngoài xe chơ một đống đất đỏ,
Hang hốc đùn trên đám cỏ gà.
Người nằm dưới mả ai ai đó?
Biết có quê đây, hay vùng xa?
Hay là thủa trước kẻ cung đao?
Hám đạn, liều tên, đón mũi dao;
Cửa nhà xa cách, vợ con khuất,
Da ngựa gói bỏ lâu ngày cao.
Hay là thủa trước kẻ văn-chương?
Chen hội công danh nhỡ lạc đường.
Tài cao phận thấp, chí khí uất,
Giang hồ mê chơi quên quê hương.
Hay là thủa trước khách hồng-nhan?
Sắc-sảo khôn-ngoan giời đất ghen;
Phong trần xui gặp bước lưu-lạc,
Đầu xanh theo một chuyến xuân tàn.
Hay là thủa trước khách phong-lưu,
Vợ con đàn hạc đề-huề theo;
Quan san xa lạ, đường lối khó,
Ma thiêng, nước độc. phong sương nhiều.
Hay là thủa trước bậc tài danh?
Đôi đôi lứa lứa cũng linh-tinh;
Giận duyên tủi phận hờn ân ái,
Đất khách nhờ chôn một khối tình.
Suối vàng sâu thẳm, biết là ai,
Mả cũ không ai kẻ đoái-hoài.
Trải bao ngày tháng chơ chơ đó,
Mưa rầu, nắng rãi, giăng mờ soi.
Ấy thực quê hương con người ta.
Dặn bảo trên đường những khách qua:
Có tiếng khóc oe thời có thế,
Trăm năm ai lại biết ai mà!

Hầu Giời

Đêm qua chẳng biết có hay không,
Chẳng phải hoảng-hốt, không mơ mòng;
Thật hồn, thật phách, thật thân thể,
Thật được lên tiên sướng lạ-lùng.
Nguyên lúc canh ba, nằm một mình,
Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.
Nằm buồn ngồi dạy đun nước uống.
Uống xong ấm nước, nằm ngâm văn.
Chơi văn ngâm chán lại chơi giăng,
Ra sân cùng bóng đi tung-tăng.
Trên giời bỗng thấy hai cô xuống,
Miệng cười mủn-mỉm cùng nói rằng:
« Giời nghe hạ-giới ai ngâm nga.
« Tiếng ngâm vang cả sông Ngân-hà.
« Làm giời mất ngủ, Giời đương mắng,
« Có hay, lên đọc Giời nghe qua. »
Ước mãi, bây giờ mới gặp tiên,
Người tiên nghe tiếng lại như quen.
Văn-chương nào có hay cho lắm,
Giời đã sai gọi thời phải lên.
Theo hai cô tiên lên đường mây,
Vù vù không cánh mà như bay.
Cửa son đỏ trói, oai giực-dỡ,
Thiên-môn đế-khuyết như là đây.
Vào trông thấy Giời, xụp xuống lạy,
Giời sai tiên-nữ dắt lôi dậy.
Ghế bành như tuyết, vân như mây,
Truyền cho văn-sĩ ngồi chơi đấy.
Tiên-đồng pha nước, uống vừa xong.
Bỗng thấy chư tiên đến thật đông.
Chung quanh bầy ghế ngồi la-liệt,
Tiên bà, tiên cô cùng tiên ông.
Chư tiên ngồi quanh đã tĩnh túc,
Giời sai pha nước để nhấp giọng.
Truyền cho văn sĩ đọc văn nghe.
« Dạ bẩm lạy Giời, con xin đọc. »
Đọc hết văn vần sang văn xuôi,
Hết văn thuyết lý lại văn chơi.
Đương cơn đắc ý đọc đã thích,
Trè giời nhấp giọng càng tốt hơi.
Văn dài hơi tốt ran cung mây,
Giời nghe, Giời cũng lấy làm hay.
Tâm[2] như nở dạ, Cơ[3] lè lưỡi,
Hằng-Nga, Chức-Nữ chau đôi mày.
Song-Thành, Tiểu-Ngọc[4] lắng tai đứng,
Đọc xong mỗi bài, cùng vỗ tay.
« Bẩm con không dám man cửa Giời,
« Những các văn con in cả rồi:
« Hai quyển Khối-Tình văn thuyết lý,
« Hai Khối-Tình-Con là văn chơi.
« Thần-Tiền, Giấc-Mộng văn tiểu-thuyết,
« Đài-Gương, Lên-Sáu văn vị đời.
« Quyển Đàn-Bà-Tầu[5] lối văn dịch,
« Đến quyển Lên-Tám nay là mười.
« Nhờ Giời, văn con còn bán được,
« Chửa biết con in ra mấy mươi. »
Văn đã giầu thay, lại lắm lối,
Giời nghe, Giời cũng bượch buồn cười.
Chư tiên ao-ước tranh nhau dặn:
« Anh gánh lên đây, bán chợ giời. »
Giời lại phê cho: « Văn thật tuyệt!
« Văn trần được thế, chắc có ít!
« Nhời văn chuốt đẹp như xao băng!
« Khí văn hùng mạnh như mây truyển!
« Êm như gió thoảng! tinh như sương!
« Đầm như mưa sa! lạnh như tuyết!
« Chẳng hay văn-sĩ tên họ gì?
« Người ở phương nào, ta chửa biết. »
— Dạ, bẩm lạy Giời, con xin thưa:
« Con tên Khắc-Hiếu, họ là Nguyễn;
« Quê ở Á-châu về Địa-cầu,
« Sông Đà núi Tản nước Nam-Việt. »
Nghe xong, Giời ngợ một chút lâu,
Sai bảo Thiên-tào lấy sổ xét.
Thiên-tào tra sổ xét vừa xong,
Đệ sổ lên trình Thượng-đế trông:
« Bẩm quả có tên Nguyễn-khắc-Hiếu,
« Đầy xuống hạ-giới về tội ngông. »
Giời rằng: « Không phải là Giời đầy,
« Giời định sai con một việc này;
« Là việc thiên-lương của nhân-loại,
« Cho con xuống thuật cùng đời hay. »
— Bẩm Giời, cảnh con thật nghèo khó,
« Trần-gian thước đất cũng không có.
« Nhờ Giời năm xưa học ít nhiều,
« Vốn-liếng còn một bụng văn đó.
« Giấy người, mực người, thuê người in,
« Mướn cửa hàng người bán phường phố.
« Văn-chương hạ-giới rẻ như bèo,
« Kiếm được đồng lãi thực rất khó.
« Kiếm được thời ít, tiêu thời nhiều,
« Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.
« Lo ăn lo mặc hết ngày tháng,
« Học ngày một kém, tuổi ngày cao.
« Sức trong non yếu, ngoài chen rấp,
« Một cây che chống bốn năm chiều.
« Giời lại sai con việc nặng quá,
« Biết làm có nổi mà dám theo.
— Rằng: Con không nói, Giời đã biết.
« Giời dẫu ngồi cao, Giời thấu hết.
« Thôi con cứ về mà làm ăn,
« Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết. »
Vâng nhời Giời dạy, lạy xin ra,
Giời sai Khiên-Ngưu[6] đóng xe tiễn.
Xe giời đã chực ngoài thiên-môn,
Chư tiên theo ra cùng tiễn biệt.
Hai hàng lệ biệt, giọt sương rơi,
Trông xuống trần-gian vạn dặm khơi.
Thiên-tiên ở lại, trích-tiên[7] xuống,
Theo đường không-khí về trần-ai.
Đêm khuya, khí thanh, xao thưa vắng,
Giăng tà đưa lối về non đoài.
Non đoài đã tới quê trần-giới,
Trông lên chư tiên không còn ai.
Tiếng gà xao-xác, tiếng người dậy,
Giữa sân còn đứng riêng ngậm-ngùi:
Một năm ba trăm sáu mươi đêm,
Sao được mỗi đêm lên hầu Giời!

NGŨ NGÔN CỔ PHONG TRƯỜNG THIÊN

Bài tựa quyển Đài-Gương-truyện

Phàm dân trong một nước,
Một nửa là đàn bà.
Kể từ con gái bé,
Cho đến bà cụ già.
Đều là người của nước,
Mà lo việc trong nhà.
Nhà nào đàn bà hay,
Thịnh vượng mà vui hòa.
Nhà nào đàn bà hư,
Lụn-bại và xấu-xa.
Đây là truyện người Tầu,
Dịch ra chữ nước ta.
Trên từ vợ vua, quan;
Dưới đến nhà dân-gia.
Mẹ hiền dạy con cái,
Con hiếu với mẹ cha;
Vợ hay càng lắm vẻ,
Đạo tam-tùng hòa ba.
Ngoài ba đạo chính ấy,
Nhiều truyện còn thiết-tha.
Tư tính sao cao minh,
Thật tự giời sinh ra.
Hãy xem cách ăn ở,
Vằng-vặc như gương nga;
Lại những nhời ăn nói,
Như gấm càng thêm hoa.
Ấy các vị thánh hiền,
Cùng trong làng quần thoa.
Đất nước dẫu nam bắc.
Đạo lý không quan hà.
Phòng văn lúc nhàn rỗi,
Nhời quê diễn nôm na;
Mong nhờ cơn gió thanh,
Hương thơm đưa gần xa.

Giở lên các điệu thơ

ĐIỆU HÁT PHONG DAO

Điệu phong-dao này nhiều câu lắm, nay chỉ lấy hai câu mà thôi.

Trách ai đánh đá nung vôi,
Trách ai ngả gỗ trên đồi đốt than.
Làm cho vôi bạc than đen,
Cho lòng đen bạc thế-gian lắm người.
Đêm qua mất cắp như chơi,
Có chỗ mất vợ, có nơi mất chồng.
Ông tơ nghĩ chẳng thẹn-thùng,
Còn đương chắp mối tơ hồng xe ai!

Câu sau này nói về Hà-nội

ĐIỆU HÁT SẨM

Cô tây đen

Nước trong xanh, lơ-lửng con cá vàng; cây ngô cành bích, con chim phụng-hoàng nó đậu cao. Tiếc cho em phận gái má đào, tham đồng bạc trắng mới gán mình vào cái ông tây đen. Sợi tơ hồng ai khéo xe duyên, treo tranh tố-nữ đứng bên anh tượng đồng. Chị em ơi, ba bẩy đường chồng.

Sẩm tự thán

Ngoảnh trông lên, anh đếch thấy có ra gì; ai rằng giăng sáng, anh vẫn chỉ thấy sì sì cái bóng đen đen. Hội chùa Thầy[8] còn đương lúc đua chen, mau chân thời tới, hễ ươn hèn thời sa. Anh tiếc cho đôi con ngươi bên chột lại bên lòa! trèo non xuống dốc dễ ai mà giúp nhau. Cái phận ông Giời cho, khi tưởng đến mà đau! giờ chưa mở mắt, biết mai sau ra thế nào? Bây giờ đất thấp (mà) giời cao!

ĐIỆU HỀ CHÈO

Ống đùng (Hề bộ)

Giời đông chưa sáng, con chim quốc nó gọi dậy, tay tôi mang cái ống đùng. Tôi qua bụi này, tôi sang bụi nọ, tôi chen, tôi chúc, tôi chui, tôi dúc, hết các vùng; tôi kiếm chim. Kìa kìa, trông như con sáo sậu, nó bay. nó đậu, nó bậu trên ngọn cái giây bìm. Đùng! Hỡi các cô con gái bé, mười ba, mười bốn, mười lăm, mười sáu, mười bẩy, mười tám, mười chín, có muốn ăn cái miếng chả, thời tìm lấy tôi!

Con sáo sậu (Hề không bô)

Kìa kìa, ai xui một đàn con chim sáo sậu, nó đậu trên cái lưng con bò? Ai làm bây giờ đục nước, cho những cái con cò nó kiếm ăn? Sợi tơ hồng ai khéo mà xe xoăn? Trên đầu em, ai dạy cái làn khăn, nó mới ưa nhìn? Chắp đôi tay, anh vái lạy ông Hoàng-thiên, sớm sai ông Nguyệt-lão để xe duyên cho chúng mình. Dù duyên, dù nợ, dù tình; lòng anh bây giờ đã quyết, thời cô mình cũng phải nhất tâm. Ở đời, em ơi được mấy mà tri-âm.

HÁT MIỄU NÓI

Hỏi gió

Cát đâu ai bốc tung giời?
Sóng sông ai vỗ? cây đồi ai dung?
Phải rằng dì Gió hay không?
Phong-tình đem thói lạ-lùng trêu ai?
快 哉 風 也
Khoái tai phong dã!
Giống vô tình gỗ đá cũng mê-tơi.
Gặp gió đây, hỏi một đôi nhời,
Ta hỏi gió, quen ai mà phảng-phất?
此 是 沱 江 非 赤 壁。
Thử thị Đà-giang phi Xích-Bích,
也 無 諸 葛 與 周 郎[9]
Dã vô Gia-Cát dữ Chu-lang.
Ai cầu phong, mà gió tự đâu sang?
Hay mải khách văn-chương tìm kết bạn?
Gió hỡi gió, phong-trần ta đã chán,
Cánh chim bằng, chín vạn những chờ mong[10].
Nên chăng? gió cũng chiều lòng.

Chú thích của bản in

  1. Long-tuyền là một thanh gươm báu. ↩
  2. Tâm 心 là tên một ngôi xao. Đây lấy nghĩa chữ tâm là lòng. ↩
  3. Cơ 箕 cũng là tên một ngôi xao. Chữ cơ nguyên là cái mẹt, đây lấy nghĩa như là lè lưỡi. ↩
  4. Song-Thành, Tiểu-Ngọc cũng là hai vị tiên, là thị-nữ của bà Tây-Vương-mẫu. ↩
  5. Quyển Đàn-Bà-Tầu nay đã đổi làm Đài-Gương-truyện. ↩
  6. Khiên-Ngưu tức tục gọi là xao Ngâu. Ngôi xao này giữ việc dắt trâu ở trên giời. ↩
  7. Thiên-tiên là những vị tiên ở trên giời; trích-tiên là vị tiên đầy xuống ở trần-thế. ↩
  8. Làng Thầy tức là làng Sài-Sơn ở Sơn-Tây, cứ đến tháng ba thời có mở hội chùa, chơi núi. Hội ấy rất nhiều sẩm. ↩
  9. Hai câu thơ này, nghĩa nói: Đây là sông Đà, chớ không phải khúc sông ở miền núi Xích-Bích; cũng không có ông Gia-Cát, ông Chu-Du nào. ↩
  10. Ở sách Trang-tử, con chim bằng đè từng gió mà bay lên, cao đến chín vạn dặm. ↩