Trang chủ Viện

Khối tình con — Tản Đà

Khối tình con (phần 3)

Chương 3 / 3

« Một sự thi-cử ở trần-gian, đã sinh ra hại.. đến luân lý như thế, thôi thôi từ đây bỏ hẳn đi. »

Ông Tư-văn cố xin mấy khoa nữa. Ngài cho các xứ khác còn được thi ba khoa; một xứ ấy thời làm nghị định bỏ lập tức. Vì thế cho nên ở xứ ấy bây giờ không khoa thi

Hai bác Thổ-công, sau lúc đã mông cách, đi mất. Hai chú Táo-quân ở nhà, không thấy Thổ-công về, rủ nhau đi hỏi thăm, mới biết truyện. Cùng phì cười bảo nhau rằng: « Ừ thôi, cũng may cho chúng ta ăn xó mó niêu hóa lại ít tội vạ. » Nhân cùng làm chơi một bài thơ bốn câu rằng:

Khéo thay đổi vợ với thay chồng,
Ba chục roi đòn đít Thổ-công,
Nhắn bảo trần-gian cho nó biết,
Kẻo chi bận nữa đến phường ông.

2. — Hầu thơ

Có một ông quan hậu, nhân ngày chủ nhật, vào chơi hầu một vị quan trên. Ngồi buồn, Cụ-lớn mới đọc thơ cho nghe và bảo rằng: « Bữa nọ, ta làm chơi một bài thơ chuột, hay lắm! để đọc cho ông hậu nghe.

— Dạ.

— Chuột kia kiếp trước nó là dơi.

— Dạ.

— Hai cánh bay cao tận lửng giời.

— Dạ.

— Truyền dịch nói chi sau lúc chết.

— Dạ.

— Khôn như Tô-tử cũng thua tài.

— Dạ.

— Nghe văn phải biết hay mới được, như một câu đầu là phá nghĩa cách-trí đó.

— Dạ.

— Câu thứ hai thừa xuống rất tiếp mà khẩu-khí có thể phi-đằng về sau lắm.

— Dạ.

— Câu thứ ba có ý nói về vệ-sinh.

— Dạ.

— Còn câu thứ tư là điển ông Tô-đông-pha, bài phú Hiệt-thử trong cổ-văn ấy mà.

— Dạ.

— Phàm làm thơ văn, tất phải ý tứ cho rộng mà có điển cố như thế mới nghe được.

— Dạ.

Xong buổi thơ, quan Hậu lui ra, gặp một ông nhà-tơ hỏi rằng:

— Ngài vừa ngồi hầu thơ cụ ra, có phải không?

— Phải.

— Thơ Cụ thế nào?

— Thơ Cụ-lớn ta hay lắm, không chê vào đâu được. Nhưng mình là phận dưới, cũng không được phép khen.

— Thế Cụ đọc thơ mà ông cứ ngồi im à?

— Không. Sao lại im! Tôi chỉ dạ. Tính tất cả trước sau đâu đến chục cái dạ.

3. — Hà-nội

Hà-nội ba-mươi-sáu phố phường, là một chỗ đô-hội của Bắc-kỳ. Thượng vàng hạ rau, so với các nơi đều hơn cả. Dẫu thế, nhưng vật không có vẫn không có, là tiên và quỉ.

Có một ông hiếu sự, đem hai người nhà quê ở đồng rừng cho về Hà-nội chơi. Bịt mắt từ nhà đem đi, về để một chỗ kín. Rồi thuê riêng nhà chớp bóng một tối, chớp cho mỗi người xem một trò (films). Lúc đã khai chớp, thả một người vào, cho mở mắt ra mà xem; gần hết trò, lại bịt mắt đem đi. Người nữa cũng thế.

Một người vào trò trước, xem thấy: Mây bay nước rợn, rồi các người con gái trông lạ mắt ăn mặc khác lối thường, có hai cánh, rẽ mây bay ra.

Người vào trò sau, thấy: Núi cao hang sâu, nhiều những người to béo, trợn mắt há miệng, đi lung-la lung-lay.

Cho xem xong, sáng hôm sau, cứ để mắt phải bịt, đem lên xe lửa, lại đưa giả về chỗ ở.

Hai người về, các thân thích đến hỏi truyện chơi Hà-nội thấy có những gì thú.

Một người nói: « Toàn tiên cả!

Một người nói; « Toàn quỉ cả! »

Cãi nhau vô cùng tận.

4. — Hồn chữ

Ở mạn ngược xứ Đoài, gần mường, có một nhà làm văn, vì sự nghèo, lấy văn làm nghiệp. Nghiệp văn mà dốt, dốt mà ngông, mỗi bận hạ bút như rồng quốn, như ngựa bay, như nước chẩy. Một hôm, đêm đã hơi khuya, đi qua một trường thi vừa thi xong, thấy có tiếng lầm-rầm như nhiều người cùng nhau đứng than thở. Nhân lắng tai ngồi nghe, phảng-phất được mấy câu như sau này:

« Khốn nạn cho chúng ta! Giời bắt sinh ra làm kiếp chữ. Để bị những kẻ làm văn dốt, nó viết mình ra tờ giấy trắng, rồi dấu son chấm chàm, lôi đi xách lại. Tủi bao nhiêu, thẹn bấy nhiêu! »

Lại thấy như có tiếng nói lại rằng:

« Tao chả oán gì người làm văn; tao chỉ tức cho cái ngòi bút xỏ xiên, cái nước mực đen bạc; vì có nó mà chúng mình mới dơ-duốc đến như thế! »

Nhà làm văn ta mới nghe tiếng than-thở, tưởng như hồn của những người hỏng thi. Nhưng xét ý câu nói thì ra hồn của chữ. Nghĩ không nhẽ chữ lại có hồn. Một hôm khác, đêm cũng hơi khuya, đi qua trước cửa một nhà in, cũng thấy có tiếng lầm-rầm như nhiều người cùng nhau ngồi than thở. Lại lắng tai đứng nghe, phảng-phất được những câu như sau này:

« Tội nghiệp cho chúng ta! Giời bắt sinh làm kiếp chữ in. Để bị những kẻ làm sách ngông, nó phơi mình ra tờ giấy trắng: rồi bìa vàng vỏ xanh, buôn đi bán lại. Thẹn bao nhiêu, tủi bấy nhiêu. »

Lại thấy như có tiếng nói lại rằng:

« Tao chả oán gì người làm sách; tao chỉ giận cho cái máy in bất nhân, cái con chữ vô sỉ; vì có nó mà chúng mình mới nhơ-nhuốc đến như thế. »

Nhà làm văn ta nghe xong, nhân nhớ lại bận đi qua trường thi trước, thời quả-nhiên chữ có hồn! Nghĩ ra, mỗi bận mình rung đùi mà ngâm, dưới tay đã không biết bao hồn khóc! Từ đấy làm văn, khó nhọc lắm mới nghĩ được một câu. Rồng không quốn; ngựa không bay; nước không chẩy.

5. — Thu-lôi-tiêm

(Ngọn thu-lôi trên đỉnh nhà để
phòng sét đánh cho khỏi hại).

Xưa có một ông thiên-lôi, tên là Dã-Tràng, bị sự xấu, phải xuống làm thành-hoàng một năm; mãn hạn, lại được lên giời làm thiên-lôi. Một bận, thừa mạng Giời xuống đánh một ông thành-hoàng có tội lỗi. Thành- hoàng biết thiên-lôi sắp đến nơi, sai bộ-hạ ra đón và xin lễ 2 con ngựa ngoài cửa đền cùng một bộ đồ thờ bằng đồng. Thiên-lôi ta nhận xong, lại sợ Giời không nghe thấy tiếng đánh thời có lỗi; nhân đánh liều vào một cây da ở làng cạnh, chết chụi đầu chụi tai. Ông thành-hoàng làng ấy nghĩ tức lắm, làm một bài thơ rằng:

Ai bảo Thiên-đình chỗ chí-công?
Thiên-lôi sao cũng bén hơi đồng?
Cõi trần nhem-nhuốc bao nhiêu sự,
Thượng-đế ngồi cao có biết không?

Bài thơ ấy truyền tụng, lên đến tai đức Thựơng-đế, ngài giận lắm, đòi các thiên-lôi ra hỏi, thời là anh Dã-Tràng. Mắng rằng:

« Mày mới ở trần-gian có một năm mà đã học ngay được những cái cách như thế! Xem một sự này, thế thời dưới trần chắc đã nhiều các sinh-vật bị đánh oan uổng lắm, cho nên tao thường vẫn nghe tiếng chúng nó kêu giời luôn luôn mãi bên tai ».

Nhân truyền kết án tên ấy phải 999 năm khổ-sai, cho đi xe cát để lấp bể. Tức là truyện Dã-Tràng xe cát bể Đông.

Song cái án ấy, ngài lại truyền yết-thị cho người ở trần-thế biết rằng: Thiên-đình thời cao xa, nghe một tụi thiên-lôi bây giờ làm lắm sự phi pháp. Vậy cho phép người trần-thế ai nấy đều được liệu cách mà phòng bị những kẻ tham nhũng ấy.

Từ đấy, thế-giới mới có Thu-lôi-tiêm.

VIII — ĐƯA THƯ

(Điệu đưa thư này, trong sự hát nhà-trò, đọc theo lối tỳ-bà).

Văn dẫn. — Thương ai, nhớ ai.

Người ta lúc mới sinh mà tình cũng sinh; rồi hình thể mỗi ngày mỗi nhớn thời tình cũng theo tri giác mà nhớn lên. Tri-giác hẹp mà thuần thời tình ít; tri-giác rộng mà tạp thời tình nhiều. Tình ít, cho nên có dan-díu thời thương, có biệt ly thời nhớ; không thương người không biết, không nhớ người vu-vơ. Thế-gian thế cả, sao mình thời không? Nào biết ai thương mình, mà mình cứ thương. Nào biết ai nhớ mình, mà mình cứ nhớ. Ai nhớ mình không hay, chắc cũng không ai mong mình nhớ. Ai thương mình không biết, chắc cũng không ai mong mình thương. Cũng chẳng qua đáng thương thời thương, nên nhớ thời nhớ; cũng chẳng qua sẵn bụng thương thời thương, thừa bụng nhớ thời nhớ. Cũng chẳng qua cái giống đa tình, nằm không ngồi rỗi mà sinh ra nhớ hão thương vay. Dan-díu mà thương; cũng lắm lúc thương người tứ-hải. Biệt ly mà nhớ; cũng nhiều khi nhớ kẻ bất tri tình. Nhân ngồi buồn viết chơi mấy bức thư, cũng để chút vợi bớt những nguồn thương bể nhớ.

1. — Thư đưa người tình-nhân có quen biết

Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi,
Viết bức thư này gửi đến ai,
Non nước thề-nguyền xưa đã lỗi!
Ân tình nay có bốn su thôi.
Ngàn sương bạc bay qua tiếng nhạn,
Ngọn đèn xanh khêu cạn đĩa dầu.
Mình ai chiếc bóng đêm thâu,
Nỗi riêng, riêng một mối sầu vì ai.
Tâm sự ấy nói dài sao xiết,
Giấy mực đâu vẽ hết du mà?
Dở-dang là chữ tài-hoa,
Chắp tay vái lạy giăng già chứng cho.
Kể từ độ giang hồ lạc phách,
Hội tương phùng đất khách đôi ta.
Biết nhau khi mới mười ba,
Tuần giăng chưa mãn, nụ hoa chưa cười,
Cùng một thủa ăn chơi nhàn biếng,
Trải mấy thu hơi tiếng vừa quen.
Canh khuya hai bóng một đèn,
Gió mai sương sớm, đơn, mền có nhau.
Dạ bảo dạ vàng thau gắn bó,
Năm lại năm mưa gió đê-mê.
Một tường lá rủ hoa che,
Bắc nam mấy độ đi về dưới giăng,
Duyên hồ thắm bỗng nhưng lại nhạt,
Mối tơ vương đứt nát tan tành.
Tấm riêng riêng những thẹn mình,
Giữa đường buông dứt gánh tình như không.
Gập tờ giấy niêm-phong hạt lệ,
Nhờ cánh tem bay đệ cung mây.
Ái ân thôi có ngần này;
Thề-nguyền non nước đợi ngày tái-sinh.

Nguyễn-khắc-Hiếu.

2. — Thư đưa người tình-nhân không quen biết

Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi,
Viết bức thư này gửi đến ai,
Non nước xa khơi tình bỡ ngỡ,
Ai tri-âm đó? nhận mà coi.

Làn mây biếc long-lanh đáy nước,
Ánh tà-dương ngả gác non đoài,
Tranh kia ai vẽ cho giời?
Ngoài sơn thủy lại một người đứng trơ.
Hồn kiếp trước ngẩn-ngơ chưa tỉnh,
Mối tình riêng vơ-vẩn càng thêm,
Tuyệt mù tăm cá hơi chim,
Nào người nhớ hỏi thăm tìm là đâu.
Kể từ độ lọt đầu se tóc,
Cũng cùng mang tiếng khóc mà ra.
Cội sầu ta lại với ta,
Lọ quen biết mới gọi là tương-tri.
Cơn gió thảm có khi cùng khóc,
Bóng giăng thanh lắm lúc cùng chơi.
Gượng vui cũng một nét cười,
Nguyệt hoa cùng trải nước đời như nhau.
Bể trần-hải chẳng sâu mà sóng,
Cầu hành-tinh đã rộng thêm tròn.
Tài tình một gánh con con,
Đông, tây, nam, bắc, ai còn gặp ai.
Nỗi bèo nước đã thôi thời thế,
Tình cỏ sương[13] chưa dễ mà khuây,
Phòng văn giở lại gót giầy,
Chén tương-tư rót cho đầy lại vơi.
Tấc son giãi mấy nhời huê bút,
Tờ giấy bay theo ngọn gió đông.
Lòng kia hỡi có in lòng?
Nước non khơi cách nghìn trùng chưa xa.

Nguyễn-khắc-Hiếu.

Chú thích của bản in

  1. Khiêm hà thương thương, bạch lộ vi sương, 兼 葭 蒼 蒼 白 露 爲 霜, là hai câu thơ trong kinh Thi, hứng cái tình nhớ một người không quen biết. ↩