Khối tình con — Tản Đà
4. — Cánh bèo
Chương 2 / 3
4. — Cánh bèo
Bềnh-bồng mặt nước chân mây,
Đêm đêm sương tuyết, ngày ngày nắng mưa.
Ấy ai bến đợi sông chờ,
Tình kia sao khéo lững-lờ với duyên?
生 來 種 得 情 根 淺
Sinh lai chủng đắc tình căn thiển.
Sự trăm năm hò-hẹn với ai chi,
Bước giang-hồ nay ở lại mai đi,
Những ly hợp hợp ly mà ngán nhỉ.
未 必 人 情 皆 白 水
Vị tất nhân-tình giai bạch-thủy.
忍 將 心 事 付 寒 淵
Nhẫn tương tâm-sự phó hàn-uyên.
Đầu xanh kia trôi nổi đã bao miền,
Thôi trước lạ sau quen đừng ái-ngại.
Khắp nhân-thế là nơi khổ-hải,
Kiếp phù-sinh nghĩ lại cũng như ai.
Ai ơi vớt lấy kẻo hoài.
III. — ĐỀ
1. — Quạt xương trắng phất lượt hồng
(Đề tặng người tình-nhân)
Duyên em dù nối chỉ hồng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
2. — Tranh uyên ương dưới giăng
(Đề tặng người mỹ-nhân)
Tình duyên nay mới từ đây,
Mà hồn kiếp trước đây này phải chăng?
Hỏi thăm những gió cùng giăng.
3. — Tranh người con gái tựa ghế ngồi ngủ (Đêm)
Nghề nghiệp văn chương khó lạ-lùng!
Ngọn đèn xanh biếc suốt đêm đông.
Sao cô ngủ mãi bao giờ dậy?
Để một mình ai nghĩ chẳng xong.
4. — Trông hạc bay
(Giở xuống 5 bài là tranh truyền-thần)
Trông khắp trần-gian hết thú chơi,
Thèm trông con hạc nó lên giời.
Hạc kia bay bổng tuyệt vời,
Hỏi thăm cung nguyệt cho người chọ không?
5. — Cưỡi ngựa đi thăm bạn (xuân)
Xanh-xanh cỏ mọc chân giời,
Xăm-xăm trên ngựa nọ người đâu ta.
Tri âm ai đó?
Dặm đường còn xa.
6. — Trên ao sen chơi hoa (hạ)
Hỏi hoa, hoa chẳng nói;
Trông hoa, hoa lại cười.
Hoa-nô cũng giống chơi bời,
Yêu hoa, hoa có yêu người hay không?
Nước xanh càng tỏ thức hồng.
7. — Trên bờ sông chơi giăng (thu)
Người cũng chưa già,
Giăng cũng chưa già.
Sông thu một khúc mặn-mà cả hai,
Trần-ai, giăng hỡi, yêu ai?
8. — Đốt lò sưởi xem sách (đông)
Tuyết sương lạnh ngắt sự đời!
Đốt lò hương, hỏi chuyện người ngày xưa.
IV. — TỪ
(Làm thay nhời người đời xưa)
1. — Bài ca-thi của hai tiên-nữ tiễn hai chàng Lưu, Nguyễn ra cửa động Thiên-thai về trần.
(Điệu hoa-phong-lạc)
(Bên nước Tằu, đời Đông-Hán, có hai người học-trò la Lưu-Thần và Nguyễn-Triệu, tết đoan-dương, vào núi Thiên-thai hái thuốc, gặp hai tiên-nữ, kết duyên làm vợ chồng. Hai người ở cảnh tiên được sáu tháng, rồi nhớ nhà đòi về, hai tiên-nữ làm một bài ca thi, để tiễn ra khỏi cửa động. — Hai chàng về đến nhà, trong nhà, trong làng, không quen biết ai cả. Hỏi thăm ra thời các ông lão bạc đầu đó tức là hạng cháu 7 đời của mình. Không ngờ cõi tiên mới nửa năm mà cõi trần dâu bể đã như thế).
Lá đào rơi-rắc lối Thiên-Thai,
Suối tiễn oanh đưa những ngậm-ngùi.
Nửa năm tiên-cảnh,
Một bước trần-ai.
Ước cũ duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn rêu nhạt,
Nước chẩy hoa trôi.
Cái hạc bay lên vút tận giời,
Giời đất từ đây xa cách mãi.
Cửa động đầu non đường lối cũ,
Ngàn năm thơ-thẩn bóng giăng chơi.
2. — Tâm sự nàng Mỵ-Ê lúc gieo mình xuống sông Châu-giang
(2 bài)
Trong sử ta, đời Lý, vua Thái-tôn vào đánh Chiêm-thành, chém vua Chiêm là Sạ-Đẩu. Vợ vua Chiêm là nàng Mỵ-Ê bị bắt xuống thuyền rồng đem về. Đến sông Châu-giang phủ Lý-nhân, vua Thái-tôn truyền đòi ra hầu rượu, nàng ấy lấy một tấm chiên hồng quấn mình gieo xuống sông, nay có đền thờ tại Phủ-Lý.
1. — Điệu vân-thê
Châu-giang một dải sông dài,
Thuyền ai than-thở một người vương-phi.
Đồ-bà-thành phá hủy,
Ngọa-phật-tháp thiên di;
Thành tan tháp đổ,
Chàng tử biệt,
Thiếp sinh ly,
Sinh-ký đau lòng kẻ tử-qui.
Sóng bạc nghìn trùng,
Âm dương cách trở;
Chiên hồng một tấm,
Phu thê xướng tùy.
.2 — Điệu Hoa-phong-lạc
Ơi mây! ơi nước! ơi giời!
Đũa ngọc mâm vàng giọt lụy rơi.
Nước sông trong, đục,
Lụy thiếp đầy, vơi,
Bể bể, dâu dâu, khóc nỗi đời.
Giời ơi! nước hỡi! mây hời!
Nước chẩy, mây bay, giời ở lại:
Để thiếp theo chồng mấy dậm khơi.
V. — THÙ TIẾP
(Thể văn giao tiếp với đời)
1. — Câu đối mừng cưới
(Vì một người cậu mừng hai
bên cháu đi lấy nhau).
Cháu nay mới thành đôi; đôi cây xa cội liền cành, đuốc hoa một ngọn.
Cậu thấy cũng có một; một mối xe tơ kết tóc, chỉ hồng trăm năm.
2. — Câu đối mừng khao
(Vì một người bạn ở Hải-phòng
làm việc sở tầu-thủy, mừng
ông hộ-trưởng mới, còn mẹ).
Trong hộ có đàn anh, sóng gió đỡ-đần ba mặt bể.
Làm con thế là hiếu, tuyết sương tươi-tỉnh một cành huyên.
3. — Câu đối tết
(Vì mấy cô-đầu ở Hải-phòng)
Ai đẻ mãi ra xuân; xuân ấy đi, xuân khác về, năm nay năm ngoái xuân hơn? kém?
Nhà lại sắp có khách; khách quen vào, khách lạ đến, năm ngoái năm nay khách vắng? đông?
4. — Câu đối viếng
(Vì một người bạn ở Hải-phòng viếng bà
thân-sinh của một người bạn thân — Bà
cụ thọ 83 tuổi, mất ngày 15 tháng một).
Tuổi tám-mươi lẻ ba, cụ vội về thôi, bóng hạc xa bay từng khói biếc.
Ngày mười-lăm tháng một, ông sao tiếc được, ngọn trào lên xuống tấc lòng son.
5. — Văn tế việc giỗ
(Vì một ông tri-huyện làm tế giỗ-đầu bà
thân-sinh là vị thứ-thất của một ông
quan tri-châu).
Than ôi!
Nước mây khơi cách ngàn trùng, chốn tiên-quốc trông lên hồ dễ thấy.
Ngày tháng thoi đưa mấy chốc, bức từ-vi nghĩ đến lại càng thêm.
Nhớ mẹ xưa,
Gánh vác bao cành,
Cù lao chín chữ,
Giữ một tiết kính hòa cho phải đạo; ra dưới ra trên.
Dạy các con khôn nhớn đã nên người; có danh có phận.
Đức trinh thuận xa bay nơi quận hạt,
Đạo ôn từ để lại nếp khuê-môn.
Những mong tuổi hạc trăm năm. dài nương bóng tử.
Nào biết xe tiên một phút, vội lánh cõi trần.
Gặp tiết giỗ đầu,
Kính dâng tấc dạ.
Con cháu họp đông đủ mặt,
Rượu nhang vâng tiến lễ thường.
Trông núi Vân ngất một mầu xanh, cám xưa đức mẹ.
Gạt dòng lệ chia đôi hạt trắng, gọi chút tình con.
Than ôi!
6. — Văn tế tống-chung
(Vì mấy người con làm tế tống-
chung ông thân-sinh là cụ Lại-mục
đã về hưu. Nguyên cụ Lại trải giúp
việc hai châu, theo việc chính được
hơn 20 năm, nhờ ân nước được
mày-đay ngân-đĩnh; sống 63 tuổi,
giai, gái, dâu, rể đủ cả. Sau lúc đã
hưu chí, về ở tại làng sở-tại châu
Thanh-sơn là chỗ tùng chính trước).
Than ôi!Trăm năm trong cõi trần ai; sinh tử cũng là thường, dẫu tháng bớt ngày thêm cha chẳng quản.
Một lễ dưới tòa linh-cữu; họp tan này đến lúc, nghĩ tình sau ân trước dạ khôn đành.
Ba tiếng khóc thương;
Hai hàng lệ rủ.
Nhớ cha xưa,
Hoa hàn nếp cũ,
Văn bút tài cao.
Đức hậu hiền hòa,
Cần năng mẫn cán.
Buổi gặp gỡ đất xui nên vận,
Tính phong-lưu giời cũng chiều người.
Hai-mươi năm lộc nước ân vua, bội-tinh-ngân-đĩnh.
Đôi, ba quận tiếng cầm câu án, nước biếc non xanh.
Nha thự thơm danh,
Gia-đình ấm phúc.
Nào giầu, nào sang, nào khang, nào thọ, thú nhân-sinh sáu chục có hơn thừa.
Này giai, này gái, này rể, này dâu, đường tử-tính bốn bề xem vẹn đủ.
Thanh nhàn giở gót, đường mây xe hạc bước tiên-du.
Phong-cảnh vì ai, cỏ thảm huê sầu nơi khách thổ.
Các con nay,
Xót niềm ly cách,
Nhớ đức cù lao,
Nỗi chung-thiên đòi-đoạn mối tơ vò.
Lối cửu-địa tiễn đưa chiều khói ngút.
Kính thành gọi chút,
Xa khuất từ đây.
Đính non Vân mây trắng một mầu, khôn pha lệ đỏ.
Dòng sông Bứa[6] nước xanh trăm khúc, thêm quặn lòng son.
Thương ôi!
7. — Bài kính viếng quan Guéroult
(Khi tôi ở chơi châu Thanh-sơn, có
vì quan, nha, tổng, lý, đồng-châu-hạt
thảo một bài văn gửi về Đại-Pháp để
kính viếng quan Đại-lý Hưng-hóa
trước là ông Guéroult đã dự cuộc
vinh hạnh mà tử trận ở thành Ver-
dun. Sau nhân ngồi buồn đem sửa
lại, đã đăng lên báo-trương và in vào
tập Khối-tình-con này, cũng để biểu
cái tình người Annam đối với nước
Bảo-hộ),
Giời tây một trận sa-trường, tấm trung nghĩa bựt rơi hòn máu đỏ.
Thành Trúc ba năm thiện-chính, mảnh ân tình treo gác chốn non xanh.
Chết vì việc nước, sự thế là vinh;
Cảm tự lòng dân, lễ xin có viếng.
Quan, nha, tổng, lý, đồng-châu-hạt châu Thanh-sơn chúng tôi, chợt nghe tin trận đánh ở Verdun, quan Đại-lý Hưng-hóa trước là ông Guéroult đã tạ thế.
Thương ôi!
Nhớ khi xưa: ngài cai trị hạt chúng tôi,
Gió hòa xa bay,
Mưa xuân khắp vẩy.
Dựng năm trường tổng-học, nền giáo dục từ đấy mở mang.
Sửa một chợ Đồn-vàng, việc buôn bán ngày thêm tiện lợi.
Dân đương mến chính,
Ngài đã thăng quan.[7]
Cánh hồng kia bay bổng tuyệt vời;
Cồn cát nọ còn phơi vết móng.[8]
Từ giặc Đức sinh lòng man dã, hổ dữ lang tham,
Đất châu Âu gây việc binh đao, xương cao thịt nát.
Vì nhẽ phải trong loài người, theo giận chung của thiên-hạ; nước Đại-Pháp mới giốc tình Bào chạch, [9] nổi trận phong ba,
Hết bổn-phận là dân nước, góp trách-nhậm với mẫu-bang; quan Guéroult phải bỏ thú Hạc cầm,[10] theo đường binh cách.
Giời cao bể cách,
Ngày đi tháng qua.
Những mong, cuộc tranh chiến bên tây-phương, nước Đại-Pháp chóng thu toàn thắng.
Cho được, việc cai trị ở thuộc-quốc, ông Guéroult có buổi trùng-lai.
Mà không ngờ,
Đều vui chưa sang,
Tin buồn đã đến,
Sông sầu núi thảm, giang sơn nhớ lại khách tuần-lương.
Cỏ héo huê rầu, phong cảnh tiếc thay người thiện-chính.
Thôi thời thôi!
Chốn hàng-trận là nơi tính mạnh;
Lúc tử sinh tỏ mặt anh-hùng,
Chúng tôi nay trộm nghĩ riêng rằng: ông dẫu chết mà thành Verdun còn,
Chắc lòng ông cũng coi hơi rằng: ông hoặc còn mà thành Verdun mất.
Một thành Verdun còn; mà 536 ngàn dặm đất nước Lãng-sa, thành như đồng, quách như đá.
Một tấm thân ông chết; mà hơn 30 vạn quân tướng giặc Phổ-lỗ, máu thành bể, xương thành gò.
Sống có hơn người,
Chết đà đáng giá,
Suối vàng yên dạ,
Giời xanh chứng công.
Ruột gan kia đã giãi với non sông,
Hồn phách ấy ắt theo cùng súng đạn.
An-sơn Bạch-lĩnh, tinh linh chót-vót ngàn tầm,
Đông-á Tây-âu, danh tiếng vang lừng bốn bể.
Rồi tan cơn Âu-chiến, nước có lần vui nhạc khải-ca.
Thời trong thành Verdun, ông chắc cũng dự bia kỷ niệm.
Vậy cho nên, quan dân châu Thanh-sơn chúng tôi, vợi lòng thương tiếc, kiếm lễ chúc mừng.
Chúc cho,
Đại-Pháp ngàn thu!
Guéroult vạn kiếp!
VI — HÀI-HÍ
Thể văn đặt đùa
1, — Cứu cấp sự sợ vợ (1914)
Văn dẫn. — Vợ chồng lấy nhau có tình 情; tình sinh ái 愛; ái sinh úy 畏 Uy là sợ. Vợ vẫn là một vật đáng sợ, nhưng sợ đó là một nhẽ chính. Còn như vợ giầu mà sợ; vợ thần thế mà sợ; vợ hung hãn mà sợ, thời sợ đó là ba nhẽ biến. Sợ một nhẽ chính, thời là ông chồng; sợ 1 chính 1 biến, thời là anh chồng; sợ 1 chính 2 biến, thời xuống là thằng chồng; sợ cả đến 3 biến, thời nguy. Nguy thời phải cứu-cấp. Tớ vốn là một kẻ sợ vợ, nhưng chưa có mà sợ; chưa có mà sợ, nhưng có cũng tất sợ; có cũng tất sợ, nhưng chưa biết sợ vào hạng nào. Nay hãng vì các chúng bạn, ai sợ đến 3 biến, thảo một thiên cứu cấp như sau này. Tụng được trăm lượt, tất có độ ách một đôi phần.
Văn rằng:
Thằng cuội ngồi trong cung nguyệt,
Chim khôn mắc phải lưới hồng,
Là mình với ta,
Chẳng duyên thời nợ.
Cơ giời tác hợp, sợi tơ-mành xe chặt lấy nhau,
Bể ái đầy vơi, nén hương nguyện cho tròn một kiếp.
Như mỗ nay,
Con nhà gia giáo,
Cũng mạch thư hương
Mặt vuông chữ điền, 田
Điền vô nhất thốn.
Lưng dài vai tốn, mình lính nhi tính quan,
Mặt nạc đóm dầy, khôn nhà mà dại chợ.
Tuổi mới độ đôi-chín ba mươi dĩ lý, đã rượu sớm chè trưa,
Học chưa xong tam-hoàng ngũ-đế chi thư, lại a tròn b méo.
Chồng con thế ấy,
Ai người dễ ưa.
Thế mà,
Nệm ủ chăn lồng, nghĩa cũ bấy lâu êm ái,
Cơm hầu canh dẫn, lòng riêng riêng cũng kính yêu.
Cũng mong cho một bước một hay, được như ai ông cống ông nghè, có danh có giá,
Không ngờ lại mỗi ngày mỗi đốn, để đến nỗi con tiều con khỉ, mang tiếng mang tai.
Trăm năm lâu dài,
một phen giận dữ,
Sự thế thế nào phải thế, bao quản mình lươn,
Phận đành chi dám kêu oan, còn nhờ lượng bể.
Nam-vô-phật ngồi trên tam-bảo, phổ cứu cho chúng sinh.
A-gi-men lạy đức chúa Giời, tôi là kẻ có tội.
3. — Đơn khiếu ong, bướm, của bách hoa, tâu lên đức Thượng-đế
Bụi trần vùi rấp, kêu lên xin thấu đến từng xanh,
Đèn giời sáng soi, trông xuống rủ thương cho phận bạc,
Chị em tôi,
Con nhà xanh vỏ.
Nặng nghiệp má đào;
Dì gió rủ rê,
Ông tơ ghét bỏ.
Cha sinh mẹ dưỡng, công trình trải mấy tuyết sương,
Sớm điểm chiều tô, nghề nghiệp biết bao hương phấn.
Những mong được xôn-xao bạn yến, một cười ắt hẳn nghìn vàng,
Nào ngờ đâu sơ-sác thân vờ, trăm mớ không còn một mảnh.
Thời nguyên;
Có những kẻ quần hồ áo cánh, phấp-phới hôm mai,
Lại nhiều ông đầu mũ lưng đai, vo-ve ngày tháng.
Vườn hồng tỏ nẻo,
Lá thắm đưa tin.
Chơi cho liễu chán đào chê, ngả-nghiêng lơi-lả,
Rút cục đông bay tây séo, bỗng-tếch tình tang.
Gió lật giăng lừa, nghĩ những oán thương cho số kiếp.
Nhị tàn hương tạ, nói càng hổ thẹn với giang-sơn.
Khóa buồng xuân muốn để đợi ngày;
Trách dì gió vì ai mở lối.
Bầu con bẽ nhớn, tụi Sở-khanh đâu đã dẫn mo vào.
Trắng đốm vàng pha, phường Bạc-hạnh dám còn đem mặt đến.
Bộ xỏ-lá trông đà lộn ruột,
Sức thơ-đào nghĩ lại non gan.
Xót thương phận mỏng cánh chuồn, cắn ngọn cỏ quì tâu nơi chứng quả,
Muôn đội uy vang tiếng sét, phá từng mây đánh hết giống chơi vòi.
Một lá tu đơn
Trăm hoa kí kết.
Lan, Cúc, Đào, Sen, Mai, Trà,.
2. — Hịch đuổi kẻ ăn mày.
Văn dẫn. — ông Mạnh-tử nói rằng: « Lòng thương xót, người ta ai cũng có. » Một lòng thương xót, thật con người ta ai cũng có, nhưng sự đáng thương xót mà thương xót, thời thương xót là có nhân; sự không đáng thương xót mà thương xót, thời thương xót đó là vô học[11]. Nay như một sự ăn mày, những kẻ bị mù, lòa, què, quặt, không thể nuôi nổi miệng, đến phải đi ăn xin, thời đồng kẽm, bát cơm, ở con người tử-tế, không lấy gì làm tiếc. Đến như kẻ không mù, không lòa, không què, không quặt, cũng tham lười biếng, mong những cách ăn không; Nhất như những đứa trẻ còn đứng chực dưới xe điện và tụ họp ngoài cửa ô, thật có người nói truyện với tôi rằng: nhiều người ở làng cạnh muốn nuôi chúng nó chăn trâu bò mà chúng nó không đi, cứ làm nghề xin su, để dễ sự no ấm. Đó là những cảnh tượng chung quanh chốn thị thành. Còn như các chợ búa, các nhà quê, chẳng chỗ nào không có. Nếu cứ thế mà được mãi, thời những bọn hèn mạt vô sỉ, hễ đói cơm rách áo, kéo cả vào một nghiệp ăn không, thực là một sự rất xấu trong phong hóa. Cho nên, không đáng thương mà đáng ghét, không nên cho mà nên đuổi. Người đời xưa có ống vung gươm xua nhặng xanh, thiên hạ không lấy thế làm quá. Nay cũng làm một bài văn hịch, để mắng đuổi lũ ăn-mày.
Hịch rằng;
Tuồng chi một lũ,
Đứa trẻ đứa già,
Con bồng con dắt,
Lôi-thôi lếch-thếch,
Kể lể kêu ca.
Nghề kiếm-ăn Chiến-quốc[12] tự ngày xưa, ai truyền dạy mà đâu dai-dẳng mãi?
Bọn con cháu Lạc-hồng chung giống cả, không què đui sao khéo rủ-rê nhau?
Hôm hôm mai mai.
Bị bị bát bát
Quỉ đưa đường, ma dắt lối, quen ngõ thời vào,
Nay được thịt, mai đòi xôi, thấy mùi đánh mãi.
Cửa ô, xe điện, rêu-rao quạ vỡ chiều hôm,
Đám hội, nhà chay, quẩn quít gà què gậm cối.
Làm xấu hổ cho cả nước,
Khéo bêu nhuốc cho loài người.
Bảo mãi mỏi mồm,
Trông càng nhớp mắt.
Nào là
Người nhà, con vú,
Thằng ở, quân hầu.
Truyền lũ bay đóng chặt cổng vào, thây cha chúng nó!
Học một lối ăn không người mãi, có con c. ông!
VII — NGỤ-NGÔN
Thể truyện đặt chơi
1. — Thổ-công phải đòn
Trong một xứ, một khoa thi, có hai truyện:
Một nhà có con gái đã hứa gả cho một người học-trò nghèo và nuôi cho đi học. Đến khoa ấy, anh đồ hỏng thi, về bị vợ bỏ.
Một nhà khác, con giai khoa ấy đi thi đỗ, về bỏ vợ.
Cuối năm, sổ giá-thú đệ lên đến Thiên-tào, đức Ngọc-hoàng giận lắm, sai thảo chát đòi hai Thổ-công ở hai nhà ấy lên; phán rằng:
« Ta cho các ngươi xuống làm Thổ-công nhà người ta, ngày giỗ, ngày tết, mồng một, ngày rằm, khi dựng nhà, lúc bán lợn, đều cơm no rượu say; là cái chức phận phải giữ cho cửa nhà người ta được tốt lành êm ấm. Trong cửa nhà người ta, đạo vợ chồng là trọng. Vì chi một sự khoa-danh nhỏ mọn, đến nỗi con bỏ chồng, thằng giẫy vợ! Việc danh-giáo còn đổ nát như thế, thời các ngươi ở đấy coi việc gì? (!)»
Đức Ngọc-hoàng phán xong, truyền lấy vồ nọc đánh mỗi tên 30 roi và cách tuột chức Thổ-công. Xong, ngài đòi ông chef Tòa Tư-văn lên bảo rằng:
Chú thích của bản in
- Núi Vân, sông Bứa, đều về hạt Thanh-sơn, cùng ở ngay trước châu-lỵ. ↩
- ông Guéroult từ đại-lý Hưng-hóa từng lên làm chánh công-sứ Yên-bái ↩
- 人 生 到 處 知 何 似 應 是 飛 鴻 踏 雪 泥 泥 上 偶 然 留 爪 跡 鴻 飛 那 復 計 東 西 ↩
- Bào là áo ngoài, Chạch là áo lót. 同 袍 同 澤 chữ trong kinh Thi, nói tình nghĩa trong sự đi đánh giặc. ↩
- Chim hạc và đàn cầm, là thú chơi của ông quan thanh liêm ↩
- Trong sách Mạnh-tử: Sự cho người có khi làm hại sự ân huệ. ↩
- Đời Chiến-quốc bên tầu, có người có 2 vợ mà vẫn đi ăn mày ↩