Trang chủ Viện

Khối tình con — Tản Đà

1. — Ve người đá

Chương 1 / 3

Chữ nghĩa Tây, Tàu trót dở dang
Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng
Nửa ngòi bút ngỗng, ba sinh luỵ
Một mối tơ tằm, mấy đoạn vương
Có kẹo, có câu là sách vở
Chẳng lề, chẳng lối cũng văn chương
Còn non, còn nước, còn giăng gió
Còn có thơ, ca bán phố phường

Ới giời ơi!
Ới đất ơi!
Cái áo sao mày rách tả tơi?
Rách đành mặc vậy
Nào dám sợ ai chê
Nào dám sợ ai cười
Chỉ sợ nỗi anh em chúng bạn
Gần chán xa quên chẳng đoái hoài!

Đêm xuông vô số cái xuông xuồng
Xuông rượu, xuông tình, bạn cũng xuông!
Một bức màn con coi ngán nỗi
Một câu đối mảnh nghĩ dơ tuồng!
Một vừng giăng khuất đi mà đứng
Một lá mành treo quấn lại buông
Ngồi hết đêm xuông, xuông chẳng hết!
Chùa ai xa điểm mấy hồi chuông

Rung rinh nước chảy ngang [thì] đèo
[Thuyền thì ai] thuyền ai một lá, giậm chèo quanh non
Đá trơ, trơ mãi [a] thời mòn
Khối tình bóp bẹp, vo tròn lại nguyên
Giang san một chiếc mui [thì] bồng
Sóng to [mà] gió cả, hãi hùng lắm phen
Anh thương em má lúm đồng tiền
Phấn son em chẳng biết, con thuyền đênh lênh đênh
Sông thu ngược gió xuôi thuyền
[Thuyền thì xuôi] thuyền xuôi gió ngược cho phiền lòng anh
[Ta trót] đem nhau xuống thác lên ghềnh
Trăm năm đôi chữ trung tình ai chớ quên
Con sông xuân nước chảy lờ đờ
Thuyền trôi lững đững, giăng tờ mờ soi
Công danh chi nữa, chàng ôi!
Chàng về giậm mũi cho tôi lái thuyền

Ai ai đứng khuất bóng giăng mờ
Cô sử, cô sư khéo thẫn thờ
Cửa phật những mong tròn quả phúc
Cõi trần sao nỡ dứt duyên tơ?
Vãi già tiểu bé đâu đâu cả?
Chùa vắng sân không thế thế ư?
Tớ dẫu chưa tu, đầu dở trọc
Phen này ốm trọc cũng ra sư

Núi Thiên Cầm giời bắt đôi Hồ
Quan lại Minh sang giữ bản đồ
Muôn rừng, trai bể mắc tai vạ
Người chết không chôn, kẻ sống lo
Nghệ An, Mô Độ ai gây nhóm?
Giản Định, Trùng Quang lại có vua
Mật giặc vỡ tan thành Cổ Lộng
Máu thù lai láng bến Bô Cô
Liều gan cố chết bấy nhiêu phen
Các vị tướng thần ai bậc nhất
Ông Nguyễn Cảnh Dị, bố là Chân
Cùng ông Đặng Dung, bố là Tất
Quân cơ sau trước nối thay nhau
Hai bố hai con một dạ sắt
Khí thiêng đúc lại bốn anh hào
Giời có thương Trần chưa vội mất
Tiếc cho trận đêm cửa Sái Đà
Nhầm để con kềnh lọt lưới ra
Nước nhà giao lại cho quân giặc
Sự nghiệp này thôi đến lão qua
Sông dài, sóng cả, con thuyền ngược
Vua tôi theo trót với sơn hà
Nghìn thu thơm để nước Nam Việt
Mười ba năm nối vận Đông A

Đồng tiển đồng tiền
Sao em sắc sảo lại khôn ngoan?
Vừa xinh vừa đẹp
Vừa trắng vừa tròn
Chán chỗ nhà quê đến chỗ quan
Quan yêu quan để nhẩy lên bàn
Cô hầu nâng đỡ
Cậu lính kêu van
Sướng đến thế mà em nỡ bạc
Lại lẩn theo chú Trích, chú Cược tếch lên ngàn

I — THƠ

I — THƠ BỐN CÂU

1. — Ve người đá

(Trường tích-cổ Hanoi có một tượng người mỹ-nhân nằm nghiêng, tạc bằng thứ đá trắng, hình khổ cũng gần bằng người thật. Tuyệt quí! tuyệt đẹp!)

Cô bao nhiêu tuổi? giá bao đồng?
Nằm mãi chi đây? có bán không?
Tớ muốn mua tiên, tiền chửa có;
Đá vàng xin nguyện với non sông.

2. — Lưu tình

Dưới bóng giăng tròn, tán lá xanh,
Nhớ chăng? chăng nhớ? hỡi chăng mình?
Trăm năm ghi nguyện cùng non nước.
Nước biếc non xanh một chữ tình.

3. — Tương tư

Quái lạ vì sao cứ nhớ nhau?
Nhớ nhau đằng-đẵng suốt đêm thâu.
Bốn phương mây nước người đôi ngả,
Hai chữ Tương-Tư một gánh sầu.

4. — Thuật bút

Mười mấy năm xưa ngọn bút lông,
Sác-sơ chẳng bận chút hơi đồng.
Bây giờ anh đổi lông ra sắt,
Cách kiếm-ăn đời có nhọn không?

5. — Đi đêm đay bóng

Người chẳng ra người, ma chẳng ma,
Nào ai còn biết ở đâu ra,
Đi đêm tưởng đã quen đường lắm,
Hỏi lối công-danh cũng mập-mờ.

II. — THƠ TÁM CÂU

1. — Sự nghèo

Người ta hơn tớ cái phong-lưu,
Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo.
Cảnh có núi sông cùng xóm ngõ,
Nhà không gạch ngói chẳng gianh pheo.
Văn chương rẻ ế coi mà chán,
Giăng gió ham mê nghĩ cũng phèo.
Kiếp trước nhớ sinh đời Hạ-Vũ,
Mưa vàng ba buổi[1] chán su tiêu.

2. — Sự đời

Gió gió mưa mưa đã chán phèo!
Sự đời nghĩ đến lại buồn teo!
Thối om sọt phẩn! nhiều cô gánh;
Tanh ngắt hơi đồng! lắm cậu yêu.
Quần tía đùi non anh chiệc vỗ,
Rừng xanh cây quế chú mường leo.
Phố phường nghe có vui chăng tá?
Áo mũ, râu ria, mấy đám chèo.

3. — Cô tây về già

Dưới bóng hoa tươi một vẻ sầu,
Người đâu? quê quán ở đâu đâu?
Ba sinh duyên nợ bao hương lửa,
Một cuộc trần-ai mấy bể dâu.
Sắc-sảo khôn-ngoan thừa vẻ lịch,
Vinh-hoa phú-quí nhuộm mầu nâu.
Bốn phương đi khắp ai là sướng,
Sướng đến như ai cũng bạc đầu.

4. — Kiếp con quay

Giời sinh ra tớ kiếp con quay,
Quay tít-mù-xanh nghĩ cũng hay.
Lì mít giang sơn khi tróng mặt,
Đùng lăn thiên địa lúc rời tay.
Lăng-băng trần-thế, đi đi, đứng,
Nghiêng ngả quan hà tỉnh tỉnh say.
Thân tớ ví to bằng quả đất,
Cũng cho thiên-hạ có đêm ngày.

III. — THƠ YẾT HẬU

1. — Tự thuật

Văn chương thời nôm na,
Thú chơi có sơn hà.
Ba-vì ở trước mặt,
Hắc-giang bên cạnh nhà.
Tản-đà.

2. — Tình tiền

Đa tiền mới đa tình,
Ít tiền, son phấn khinh.
Đi qua phố hàng Giấy,
Trông nhiều cô cũng xinh.
Mần-thinh

3. — Sư cụ

Chùa có ông lụ-khụ,
Trông như cây cổ-thụ.
Dưới cằm không để râu,
Trên đầu có đội mũ.
Sư-cụ.

4. — Gà thiến

Gà thiến muốn đi tu,
Chưa thuộc tiếng nam-vô.
Cửa Phật chắc không hẹp,
Cho nhờ chỗ chóp-bu.
Cúc-cu.

II. — CÁC CÂU HÁT

I. — SẨM

1. — Cô tây đen

Nước trong xanh, lơ-lửng con cá vàng; cây ngô cành bích, con chim phụng-hoàng nó đậu cao. Anh tiếc cho cô em nay là phận má-đào; tham đồng bạc trắng mới gần vào ông tây đen. Sợi tơ hồng ai khéo xe duyên, cheo tranh tố-nữ đứng bên anh tượng đồng. Chị em ơi, ba bảy đường chồng.

2. — Ôm cầm
(Bài này lấy ở trong quyển Giấc-mộng con)

Bên thì giời, chị em ai lẫn-đẫn bên thì giời, non cao nước chẩy ấy ai người tri-âm. Lúc đêm thanh ngồi dậy cô ôm cầm, lòng tơ tơ-tưởng âm-thầm tiếng tơ. Khúc đàn này vẫn khúc ngày xưa, mà người đoái-khúc[2] bây giờ đâu xa. Nhớ đầu xanh còn đương độ mười ba, cười giăng bóng sế thương hoa thu tàn. Thế mà cái phận hồng-nhan!...

II. — HỀ

1. — Con chim xanh

Con chim xanh, tang tình em ơi, nó lặn; con cá vàng nó dạch, phú lý nọ lên non.[3] Cô Thúy-Kiều, xưa kia còn, má phấn môi son; lầu-xanh chưa mãn, cô mới đã lại bon sang ở chùa. Cái phận đàn-bà, em ơi nghĩ đến thế mà lo; làm thân bây giờ con gái, sao cho phú lý nọ sớm chồng. Sự trăm năm, ông giời kia, đã kết có dải đồng; dù duyên, dù nợ, cái đức tam-tùng em cũng phải cho ngoan. Lấy chồng bây giờ, em ơi. gánh lấy mà giang-san; mẹ cha trông xuống, chứ để thế-gian có trông vào. Mặc ai tối mận mai đào.

2. — Ống đùng

Giời đông chưa sáng, con chim quốc nó gọi dậy, tay tôi mang cái ống đùng. Tôi qua bụi này, tôi sang bụi nọ, tôi chen, tôi chúc, tôi chui, tôi dúc, hết các vùng, tôi kiếm chim. Kìa kìa, trông như con sáo sậu, nó bay, nó đậu, nó bậu trên ngọn cái giây bìm. Đùng[4]! Hỡi các cô con gái bé, mười ba, mười bốn, mười lăm, mưới sáu, mười bảy, mười tám, mười chín, có muốn ăn cái miếng chả thời tìm lấy tôi!

3. — Con sáo sậu

Kìa kìa, ai xui một đàn con chim sáo sậu nó đậu cái lưng bò? ai làm bây giờ đục nước cho cái con cò nó kiếm ăn? Sợi tơ hồng ai khéo mà xe xoăn? Trên đầu em ai dạy cái làn khăn nó mới ưa nhìn? Chắp đôi tay anh vái lạy ông Hoàng-thiên, sớm sai tang tình ông Nguyệt-lão để se duyên cho chúng mình. Dù duyên, dù nợ, dù tình, lòng anh bây giờ đã quyết thời cô mình cũng phải nhất-tâm. Ở đời em ơi được mấy mà tri-âm.

III. — ĐIÊN

1. — Bài Sài-gòn (Lấy trong kịch Tây-thi

Đức ông ăn mặn,
Gà thiến đi tu,
Nhởn-nhơ cô thõa lên chùa;
A-gi-đà-phật! nam-mô đắt hàng.
Chuyến đò ngang, mình sau ta trước,
Kiếp tài-tình, mặt nước chân mây.
Sông kia núi nọ còn đây.
Nực cười ông vua Trụ mê say nghiêng thành.
Thành nghiêng quán đổ tan-tành,
Trước sân con hươu rỡn, trong mành con dện sa.
Cành mai quả bẩy quả ba,
Ơi đàn chim tước bay ra lạc-loài,
Lạc-loài phấn nhạt hương phai,
Cám thương ai hữ, con người ới hỡi răng đen.

2. — Bài kinh

Ào ào gió thổi,
Liệng liệng cò bay,
Hay hỡi là hay!
Lạ ơi là lạ!
Dữa rừng rụng tử rơi hồng,
Cám thương con chim nhạn vợ chồng bắc nam.
Mịt-mờ khói tỏa động Lam,
Triết-vương khuất mặt, cổ-am lạnh-lùng.
Tơ lý hồng, tơ lý hồng, hồng tợ, hồng tơ lý hồng.
Phương này có sông, sông Nhị-hà, sông Nhị-hà, sóng kêu dồn-dã,
Phương này có núi, núi Ba-vì, núi Ba-vì, khuất ngả lầu tây.
Đấy mong chồng, cho đây nhớ vợ,
Đấy mong chồng cho đây nhớ vợ.
Mảnh chung tình phân trở đôi nơi.
Đôi nơi chung dưới một giời;
Lúc sầu, lúc oán, lúc giận, cười, ới hỡi lại tươi.

IV. — PHONG

1. — Trông giăng lại nhớ đến người;
Nhớ ai câu nói câu cười dưới giăng.
Giăng kia có nhớ cùng chăng?
Mười-hai tháng chín cao bằng ngọn tre.
2. — Đưa nhau nhớ buổi hôm nay,
Nỗi niềm tâm sự đợi ngày tái-lai.
Non xanh ở lại cùng ai,
Đá vàng ghi tạc lấy nhời sắt son.
3. — Rủ nhau lên núi cắt gianh,
Đường đi rậm-rạp thân anh nặng-nề.
Đôi ta núi nguyện non thề,
Bao giờ cất nóc, em về ở chung.
4 — Giời mưa nước lũ qua đèo,
Trăm cay nghìn đắng theo chiều chẩy xuôi.
Thở than chi lắm chàng ôi!
Đánh gianh cất nóc cho tôi về cùng.
5. — Cô kia cắp nón đi đâu?
Dưới ngực yếm trắng, trên đầu khăn đen.
Hay là lấy phải chồng hèn?
Muốn lên cung nguyệt bắt đền ông giăng?
6. — Ai xui con cá cắn mồi?
Ai xui thằng phỗng ra ngồi giời mưa?
Thế gian lắm sự cũng khờ,
Đời người biết đến bao giờ cho khôn.
7. — Ngày xuân con én con oanh,
Ve ngâm vượn hót để dành đêm thu.
Đầu xanh chưa dễ ai tu,
Bao giờ tóc bạc chơi chùa có chăng.
8. — Bước chân ra khỏi cổng Hàn,
Nước mây man-mác muôn ngàn dặm khơi.
Gánh tình nặng lắm ai ơi!
Tiền mang bạc giắt thuê ai đỡ cùng.
9. — Đường đi nho-nhỏ,
Bờ cỏ xanh-xanh;
Không duyên, không nợ, không tình,
Đồng không quãng vắng sao mình gặp ta?
Bây giờ giời nắng đường xa,
Rủ nhau vào dưới gốc đa ta ngồi.
Yêu nhau chẳng lọ thề bồi,
Kẻ nam người bắc ngậm-ngùi nhớ thương.
Tơ tầm ai vấn mà vương.
10. — Anh trông lên giời,
Ông sao sa đất;
Anh trông xuống đất,
Con đóm lên giời.
Gặp em đây, anh dặn mấy nhời,
Ba sinh hương lửa muôn đời chớ quên.
Còn tình, còn nhgĩa; còn duyên,
Còn sông, còn bến; còn thuyền đôi ta.
Nghìn non vạn thác chưa xa.
11. — Bể sâu con cá vẫy-vùng;
Giời xanh muôn trượng chim hồng cao bay.
Em về anh nắm lấy tay,
Anh dặn câu này em chớ có quên.
Con sông đã nặng lời nguyền,
Đừng non tay lái cho thuyền lật ngang.
Muốn sang, khảm cố mà sang,
12. — Một con sông; ba, bảy con sông đào,
Trăm công nghìn nợ trông vào một em.
Bao giờ sạch nợ giàu thêm,
Để anh đi kéo gỗ lim làm nhà.
Đôi ta trăm tuổi cùng già,
Con tầm khác kén còn là chung nong.
Chữ đồng tạc núi ghi sông.
13 — Đêm qua anh nhớ đến mình.
Nhớ câu ứ-ự nhớ tình chơi-vơi.
Ra sân bắc ghế kêu giời:
Ở dưới hạ-giới có người tương-tư,
Giời cao gọi mãi không thưa,
Để anh ra ngẩn vào ngơ canh chầy.
Bây giờ anh gặp mình đây,
Bên kia thời núi, bên này thời sông.
Sông kia núi nọ hợp đồng,
Sao cho nên vợ nên chồng hỡi em?
Kẻo còn tưởng sớm mơ đêm,

V — LÝ

1 — Bài Cổ-bản

(Nói về liệt-đại anh-hùng nước ta)

Dân số, hai-nhăm (25) triệu; về giống da vàng, chi Hồng-bàng, họ dòng Hùng-vương. Học cho tường, truyện nhà làm gương. Xưa Văn-Lang trường trị, sau trước Chu, Đường ấy là đâu, về đời hồng-hoang. Nhiều truyện còn phi thường, mặt anh-hường anh-hường.— Trưng-thị quần thoa. My-linh tướng-tài. Đời Đông-Hán, Hán-quan vô loài. Riêng thù chị lận-bận lòng ai; núi sông thề nguyện, yên ngựa cành mai. Cơ đồ bá vương, gái tài giai. — Sông Bạch-đằng-giang, giồng cọc, là đứng Ngô-Quyền; Hoằng-Thao chìm thuyền, sóng vừa yên. — Đến hồi Trần-Tiên, Quang-Phục, độc-mộc tranh cường. Qua sang Tùy, Đường, có Phùng-Hoan. — Đinh Tiên-Hoàng, Đinh Tiên-Hoàng; Tiên-Hoàng oai thần. Lá cờ lau, thống thần dân. Khai đầu đế-nghiệp, Lê, Lý đến Trần. — Gịp yêu-hồ, bản-đồ về Minh. Một người Lam-san, ngùi lầm-than, đánh mười thu. Gươm vàng Lê-Lợi, lau sạch máu thù; nọ còn chìm trong hồ. — Ngang đời nhà Thanh, ấy Càn-Thanh. Tôn, Tôn, Sầm, Tôn, Tôn, Sầm; Tôn Sầm hai ả, binh mã tung-hoành. Động nam-đình, trận thành Thăng-long, ngọn cờ Quang-trung. — Dòng thần-minh, khách tài danh; nghe nhời ca lý, bao hạn tâm-tình!

2 — Bài Nam-bằng

(Tâm sự của một người đàn-bà lúc bị chồng bỏ)

Khoan khoan đã, ới anh, phụ phàng chi cho lắm. Duyên nợ ba sinh, đôi mình, đà xe sợi tơ mành, sợi tơ mành —— Tao khang, nên cho trọn chút tình, trọn chút tình; xin lòng đừng ly quyết, quyết. — Đá vàng, trăm đàng thân thiết, xiết bao ân tình. — Đoái thương nước bạc non xanh; nguyền non nước, bắc nam sao đành!

Mặc trò đời, chi đâu, nay đượm đà mai phụ, Gạt dòng châu, than thở đôi câu; trông lại cùng nhau, trăm năm bạc đầu.

VI. — HÁT NÓI

1. — Chưa say

Đêm xuân hoa những ngậm cười,
Dưới đèn tươi-tỉnh mặt người như hoa.
Khi vui vui lấy kẻo già,
Cơn men dốc cả giang hà chưa say.
今 夕 是 何 夕
Kim tịch thị hà tịch?
Bóng giăng thanh tịch-mịch xế ngang mành.
Lúc vui chơi cuộc rượu chửa tàn canh,
Riêng nỡ cất chén tình toàn hắt bỏ.
聖 賢 身 後 猶 千 古
Thánh hiền thân hậu do thiên cổ,
風 月 城 中 且 一 宵
Phong nguyệt thành trung thả nhất tiêu.
Trót yêu hoa xin hãy gượng mà yêu,
Ngồi hết nợ phong-liu rồi sẽ tếch.
Gửi bốn lạy: Lạy bút, lạy nghiên, lạy đèn, lạy sách;
Quá thương ai đàn phách nốt đêm nay.
Nhân-sinh ba vạn sáu nghìn ngày,
Coi những tỉnh, lúc say nào có mấy.
Được lúc gần say, say hẳn lấy.
Say thời say, say vậy dễ mà điên.
酒 中 自 有 聖 賢
Tửu trung tự hữu thánh hiền.

2. — Say

Đêm xuân một trận nô cười,
Dưới đèn chẳng biết rằng người hay hoa.
Khi vui quên cả cái già,
Khi say chẳng dốc giang-hà cũng say.
今 夕 是 何 夕
Kim tịch thị hà tịch?
Mảnh gương nga đã tếch lối non đoài.
Đó kìa ai ba, bốn, bốn, năm người.
Người đâu tá? còn chơi trong mộng-thế.
眼 外 塵 埃 空 一 世
Nhãn ngoại trần-ai không nhất thế.
胸 中 塊 纍 屬 前 生
Hung trung khối-lũy thuộc tiền sinh.
Kiếp say-sưa đã chấm sổ thiên-đình,
Càng đắm sắc, mê thinh, càng mải-miết.
Say lắm vẻ: Say mệt, say mê, say nhừ, say tít;
Trong làng say, ai biết nhất ai say.
Mảnh hình-hài quen giả-trá xưa nay,
Chúng sinh tướng lúc này coi mới hiện.
Thôi sếp cả nguyệt hoa hoa nguyệt,
Cảnh Bồng-lai trải biết gọi làm duyên.
中 應 是 神 仙
Tửu trung ưng thị thần tiên.

3. — Giời mắng

Tình riêng trăm ngẩn mười ngơ,
Ngồi buồn lấy giấy viết thơ hỏi giời.
Xem thơ giời cũng bựt cười,
Cười cho hạ-giới có người oái-oăm.
客 何 人 者
Khách hà nhân giả?
Cớ làm sao suồng-sã dám đưa thơ!
Chốn thiên-cung ai kén rể bao giờ,
Chi những sự vẩn-vơ mà giấy má,
織 女 早 從 佳 壻 嫁
Chức-nữ tảo tùng giai-tế giá,
姮 娥 不 耐 抱 父 眠
Hằng-nga bất nại bão phu miên.
Mở then mây quăng giả bức hồng-tiên,
Mời khách hẵng ngồi yên trong cõi tục.
Người đâu kiếp trước Đông-phương-Sóc,[5]
Ăn trộm đào quen học thói ngày xưa.
Trần-gian đầy mãi không chừa.

Chú thích của bản in

  1. Đời vua Hạ-Vũ bên Tàu, giời mưa ra vàng ba ngày. ↩
  2. Ông Tru-Du sành nghe đàn, ngồi nghe ai đánh nhầm lỗi tiếng nào, tất ngoảnh mặt trông lại, chữ rằng 周 郎 顧 曲. Đây dùng chữ (Đoái khúc), tức là nghĩa tri âm. ↩
  3. Có một thứ cá bò, mình vàng, gặp giời mưa to hay lên bờ, thường có khi dạch qua núi sang bên kia. ↩
  4. Tiếng bắn. Làm bộ bắn. ↩
  5. Đông-phương-Sóc người đời nhà Hán bên Tàu, nguyên là người tiên bị đầy xuống trần-gian. Đào tiên. ba nghìn năm mới nở hoa, lại ba nghìn năm mới thành quả; Đông-phương-Sóc đã từng ba lần ăn trộm đào. ↩